Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ca dao mà hiện đại

Có một bài ca dao nhiều người thuộc:

Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch Sao Mai
Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Có người còn đưa thêm bốn câu:

Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà
Mối sầu Tinh Đẩu đã ba năm tròn
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ..

Những câu này có thể chỉ là những câu người ta chắp nối sau như thường thấy ở ca dao. Cái ý tứ lộ liễu , nhất là cái “phong cách” ngôn ngữ của nó không phù hợp với các câu có trước. Nhiều người cắt bỏ mấy câu đó là có lý.

Với tám câu, bài ca dao có sức hấp dẫn lạ lùng! Nỗi cô đơn, buồn nhớ của người con gái da diết quá. Nó thấm đẫm từng chi tiết, từng lời thơ. Lời giãi bày của cô như tái hiện trước người đọc cái dáng thơ thẩn của cô.

Đêm qua ra đứng bờ ao..

“Đêm” chứ không phải “tối”. Khuya khoắt thế mà còn một mình ra đứng bờ ao! (1) Phải là buồn lắm, nhớ lắm, cô đơn lắm. Nỗi buồn nhớ, mong chờ của cô tràn ra sự vật, loài vật. Nhìn đâu cũng thấy buồn nhớ. Cá lặn, sao mờ, sao nhớ ai, nhện chờ mối ai…

Bài ca dao cho thấy cái tâm trạng rối bời của cô làm cho cô không còn tỉnh táo nữa. Có những điều không “thuận”, không lôgích tí nào. “Đêm” mà trông thấy cả “cá lặn”, cả “nhện giăng tơ”! Nhưng đấy lại là cái hợp với “lôgích” tâm lý! Cô đang buồn nhớ và “mình nói với mình”. Mà… mình nói với mình thì người ta có thể dùng một thứ ngôn từ thiếu mạch lạc, nhiều chỗ đứt nối lắm. Đó có thể là một thứ “hiện đại” trong ca dao.

Một thứ có thể rất gần với thơ ca hiện đại nữa. Ấy là cái cách “chớp” lấy một “khoảnh khắc” tâm trạng nhân vật trữ tình, “chụp” lấy một “lát cắt” trong đời sống tình cảm nhân vật. Đó là lúc nhân vật nhớ lại, ghi lại, kể lại với chính mình cái phút nhớ nhung, thẫn thờ ấy.

Đọc bài ca dao lại nghĩ đến một điều trình bày ở sách “Trên đường biên lý luận văn học” (2). Ở sách này, tác giả nói “nhà văn nhà thơ dùng ngôn ngữ để trình bày suy nghĩ của mình, không nói với ai – chỉ là hướng về bản thân, thực hiện cuộc giao tiếp Tôi-Tôi”. Có thể đây là một dẫn chứng cho luận điểm đó? Thoạt đọc, có thể nghĩ như vậy. Cô gái giãi bày với chính mình. Đó là thứ ngôn ngữ “nói thầm”, “mình nói với mình”, “hướng về bản thân”. Nhưng nghĩ một tí thì lại thấy không phải vậy. Khi cô hát lên là cô đã có nhu cầu “chia sẻ” với ai đó. Có thể là người cô “nhớ” như ngôi sao “nhớ ai” kia , người cô “chờ mối” như con nhện “chờ mối ai” đó (3). Mà khi đã “chia sẻ”, giao tiếp với người khác thì người ta phải thực hiện nguyên tắc “cộng tác” trong giao tiếp, nghĩa là phải xem mình nói thế, người nghe có hiểu, có tiếp nhận được hay không. Vì vậy dù ngôn từ có vẻ “nói với chính mình” nhưng người khác vẫn có thể hiểu được. Đó cũng là điều cần nói rõ thêm về ngôn từ văn học mà có thể lý luận gia đã lầm.

Bài ca dao có ngôn từ dễ hiểu và “ý xuôi” không có gì phải giảng giải nhiều. Vì thế trước 1945, “Quốc văn giáo khoa thư” đã đưa vào dạy trẻ học ở các lớp sơ học (đầu cấp tiểu học). Nhưng đọc lại có lúc lại thấy có nhiều điều phải ngẫm nghĩ.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 383

________________

(1) Có thể nghĩ “Đêm qua” chỉ là thứ “mô típ” quen thuộc ở ca dao như nhiều nhà nghiên cứu ca dao thường nhắc ta. Nhưng trong bài này, thì lại không chỉ là thứ “nói thuận miệng” như người ta hay nghĩ về các “mô típ” kiểu ấy. Cái thời gian “đêm qua” có vai trò của nó trong biểu đạt nội dung. Có người thay vào bằng hai chữ “hôm qua”, có thể thấy không hay bằng.
(2) Trần Đình Sử – “Trên đường biên lý luận văn học” – NXB Văn học 2012.
(3) Ca dao chẳng đã có những câu nhắn gửi người ở xa như “Thuyền ơi, có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” đó sao?

Ý Kiến bạn đọc