Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Bước lùi thế kỷ về Nam Phong – Phạm Quỳnh

Kỳ III:  Một khối mâu thuẫn. 

Các nhà biên khảo thế hệ sau 1945 như Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng… có thừa nhận Nam Phong là cơ quan tuyên truyền của Phủ Toàn quyền mà người điều hành trực tiếp là Marty. Nhưng khi đi vào phân tích, đánh giá Nam Phong lại “bỏ quên” điều đó, chỉ chú ý đến phần văn học của Nam Phong, đồng nhất Nam Phong với Phạm Quỳnh. GS. Nguyễn Văn Trung đã vạch ra tình hình mâu thuẫn đó. Dưới đây trích phần II của Chương Một:

Những mâu thuẫn của một lối nhìn

Như đã trình bày ở trên, những người đầu tiên viết về Nam Phong, Phạm Quỳnh trong thời Pháp thuộc như Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan đã không nói gì đến ngoại cảnh, nguồn gốc xuất xứ của văn học, mà chỉ ghi nhận những tác phẩm, công trình văn học như những sự kiện thuần túy văn học. Rất có thể những nhà biên khảo trên cũng nhìn nhận những liên hệ giữa văn học với lịch sử, xã hội, chính trị… nhưng vì những hạn chế của thời thế, nên đã không thể nói được.

Trái lại nhiều nhà văn biên khảo bây giờ, không còn bị những hạn chế của thời Pháp thuộc nên đã trình bày bối cảnh lịch sử, nguồn gốc, xuất xứ của sự kiện văn học, đã nhìn nhận công khai mối liên hệ giữa văn học với thời cuộc, với chính trị hoặc ảnh hưởng chi phối của thời cuộc chính trị trên văn học.

Các tác giả kể trên, nhất là Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn Trần Huân đều đã lấy thời Pháp thuộc làm mốc cho thời kỳ văn học cận đại hay hiện đại (1862 – 1945) đã căn cứ vào những biến cố chính trị trong thời kỳ ấy để chia những giai đoạn, những thế hệ văn học. Khi nói đến Nam Phong, các tác giả đã trình bày những chủ trương về văn hóa của các sĩ phu yêu nước, và những chủ trương của Pháp, hoặc đi xa hơn nữa, trình bày nguồn gốc, xuất xứ của Nam Phong để khẳng định Nam Phong là tạp chí do người Pháp sáng lập, chủ trương nhằm phục vụ những mục đích chính trị của họ như ông Phạm Thế Ngũ đã làm.

Nhưng đến khi đi vào nội dung các bài báo Nam Phong, người đọc thấy các soạn giả trên lại chỉ nói đến Phạm Quỳnh và coi Phạm Quỳnh như chủ động, chủ trương mọi sự. Trên căn bản chính yếu đó (Phạm Quỳnh chủ động, chủ trương mọi sự), các soạn giả đã bỏ quên thực dân, bỏ quên A. Sarraut, Louis Marty là những người mà các soạn giả vừa khẳng định là sáng lập, chủ trương tạp chí, do đó cũng bỏ quên luôn cả Nam Phong vì đã coi Phạm Quỳnh là chủ động, chủ trương, linh hồn của tạp chí, đã coi Phạm Quỳnh là Nam Phong, là tất cả Nam Phong, nên dĩ nhiên chỉ cần nói đến Phạm Quỳnh là đủ rồi.

Nói về Phạm Quỳnh, các soạn giả trên hoặc không đá động gì đến đường lối chính trị của Phạm Quỳnh (Thanh Lãng), mà chỉ nói đến biên khảo dịch thuật, và ngay cả những bài biên khảo dịch thuật về chính trị cũng vẫn được coi như những bài biên khảo văn học chỉ có chủ đích văn học, cho nên chỉ chú trọng đến trình bày tư tưởng và nhất là hình thức diễn tả (dùng chữ quốc ngữ) của những bài đó, hoặc có nói đến đường lối chính trị (Phạm Thế Ngũ) nhưng như trên đã nói, lại bỏ quên đường lối của thực dân là vai chính chủ động, do đó coi Phạm Quỳnh là chủ động chủ trương những đường lối quan điểm ông đã đề ra.

So-517--Buoc-lui-the-ky-ve-Nam-Phong-Pham-Quynh
Bìa sau Tạp chí Nam Phong (chữ Hán). – Bìa trước Tạp chí Nam Phong – 1919.
- Bìa trước Tạp chí Nam Phong – 1928.

Nói cách khác, các soạn giả trên, ở khởi điểm đã theo một lối nhìn lịch sử, nhưng đến khi đi vào nội dung lại bỏ qua lối nhìn đó và chỉ xét Nam Phong và các bài của Phạm Quỳnh về phương diện văn học như các tác giả Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, nên rút cục cũng đi đến những kết luận đánh giá về ý nghĩa, công trình, hậu quả của Nam Phong như những tác giả đàn anh mà họ đã trích để làm dẫn chứng.

Lối nhìn thuần túy văn học của những nhà văn học sử trên, hoặc không liên hệ văn học với thời thế lịch sử, hoặc liên hệ rồi bỏ qua khi đi vào nội dung tác phẩm bao hàm hai hệ luận lớn sau đây:

1) Coi sự ra đời của Nam Phong hồi 1917 và việc Phạm Quỳnh viết văn biên khảo, dịch thuật trong tạp chí đó là một dữ kiện nằm trong sự liên tục của văn học sử Việt Nam, như thể đến giai đoạn đó trong diễn tiến văn học sử, Phạm Quỳnh và Nam Phong xuất hiện đóng vai trò của mình, tiếp nối bước đường của người đi trước, trong khi căn cứ vào xuất xứ, nguồn gốc mà chính ông Ngũ đã tìm ra lại thấy nếu không có Sarraut, Marty, không có thực dân chủ trương một chính sách chính trị về văn học và có sáng kiến thành lập Nam Phong, dùng Phạm Quỳnh để phục vụ cho chính sách chính trị đó, thì đã rõ, không có Nam Phong; và đã rõ khi thực dân cho ra Nam Phong chắc hẳn không phải để phục vụ văn học Việt Nam, quốc văn. Vậy nếu căn cứ vào xuất xứ, nguồn gốc chính trị của nó, phải chăng nên trả lại Nam Phong trước hết cho Bộ lịch sử thông tin tuyên truyền Pháp ở Viễn Đông?

Chính vì đã không xét tới xuất xứ, nguồn gốc chính trị, coi Nam Phong như một hành động tiếp nối lịch sử văn học Việt Nam, nên Thanh Lãng đã xếp chung, lẫn lộn theo thứ tự năm tháng xuất bản những tạp chí do Pháp bỏ tiền, chủ trương với những tạp chí của người Việt Nam:

- Đông Dương tạp chí (1913).

- Nam Phong tạp chí (1917).

- Đại Việt tạp chí (1918).

- Hữu Thanh tạp chí (1921).

- An Nam tạp chí (1926).

(Thanh Lãng s.t.d, trang 175)

2) Coi Nam Phong, Phạm Quỳnh hay Nam Phong của Phạm Quỳnh có công rất lớn về văn học và do đó nếu không có Nam Phong như Thanh Lãng đã nhận định, văn học thời kỳ này đã rơi vào một lỗ hổng lớn, là một sự nghèo nàn rỗng tuếch, trong khi đúng ra, nếu xét tới bối cảnh lịch sử thời đó, căn cứ vào nguồn gốc, xuất xứ và chủ đích chính trị của Pháp người ta mới đặt Nam Phong vào đúng chỗ của nó và đánh giá đúng mức hậu quả thứ yếu về văn học của tạp chí, đồng thời cũng bắt buộc người ta phải tìm hiểu và đánh giá đúng mức những hậu quả chính trị của tạp chí một khi đã nhìn nhận sở dĩ có tờ báo, chủ yếu là vì những mục đích chính trị của thực dân.

Nhìn trong một viễn tưởng lịch sử như trên, nghĩa là trên bình diện trận tuyến tranh đấu chính trị về văn hóa giữa ta và địch, người ta cũng có thể tìm thấy một trả lời đích đáng cho nhận định của Thanh Lãng về sự nghèo nàn, trống rỗng trong văn học sử thời kỳ này nếu đem đốt Nam Phong đi. Đúng là nếu lúc đó, Pháp không cho ra Nam Phong, văn học Việt Nam đã nghèo nàn, nhưng không phải vì không có ai khác ngoài Phạm Quỳnh làm văn học, ra báo chí, mà chỉ vì thực dân Pháp đã bịt miệng, bỏ tù, đày ra Côn Đảo những người muốn làm văn học, muốn viết báo không nằm trong chủ trương của thực dân, nhằm chống lại thực dân, và chỉ cho phép ra báo, hội văn hóa, những tạp chí, những hội văn hóa do Pháp thành lập, điều khiển hay kiểm soát.

Nói cách khác, nguyên nhân sự nghèo nàn trống rỗng là chính trị, không phải văn hóa. Thực sự, người Pháp không thể không làm một cái gì thay thế cho những hoạt động của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục để che giấu sự trống rỗng, nghèo nàn sau khi ngăn cản phong trào… vì người Pháp nói khai hóa mà lại cấm những hoạt động khai hóa, chính mình không làm, người khác làm điều mình chủ trương lại cấm làm là điều không thể để như vậy được. Cho nên bó buộc họ phải mở trường, cho ra báo, thực hiện những điều Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương, chỉ khác một điều là nhằm những chủ đích lợi cho việc duy trì, bảo vệ chế độ thực dân. Cho nên, có thể nói: Nam Phong là Đông Kinh Nghĩa Thục của thực dân, và do đó, nếu thực dân Pháp không ngăn cấm, bỏ tù những nhà văn hóa yêu nước, và Đông Kinh Nghĩa Thục cứ được tự do hoạt động, phát triển, bành trướng, thì đã rõ, văn học 1917 – 1930 không nghèo, mà chắc chắn còn phong phú gấp bội vì một đàng, cả một phong trào lôi cuốn được đông đảo nhiều sĩ phu, nho học và trí thức tân học, một đàng chỉ có một mình Phạm Quỳnh múa bút, nhất là những năm đầu của Nam Phong.

Một quan điểm bất nhất

Đến đây, độc giả hẳn đã thấy vấn đề căn bản, then chốt, là lối nhìn, quan điểm nghiên cứu, biên soạn.

Ông Phạm Thế Ngũ đã khẳng định về xuất xứ của Nam Phong qua lời tự thú của chính Phạm Quỳnh trong một bài phỏng vấn mà ông Ngũ là người đã có công chú ý đến.

Những lời kể của Phạm Quỳnh thật rõ ràng, chẳng cần dựa vào hồ sơ mật nào của Pháp cũng đủ nói lên hầu hết sự thật về nguồn gốc, mục đích tờ báo.

Những lời kể Phạm Quỳnh cho thấy:

- Nam Phong có từ lâu, trước 1917 dưới hình thức tập “Âu châu chiến sử”.

- Nam Phong không phải do Phạm Quỳnh sáng lập nhưng do Toàn quyền Đông Dương và Phạm Quỳnh chỉ là một tay sai thừa hành “Quan Toàn quyền vời tôi lên và bảo tôi cùng ông Nguyễn Bá Trác làm tờ báo”.

- Nam Phong là một cơ quan thông tin tuyên truyền của Pháp do Phủ Toàn quyền điều khiển.

- Nam Phong nhằm những chủ đích chính trị phục vụ quyền lợi của thực dân Pháp.

Những chú thích của ông Ngũ về Louis Marty, người thay mặt Toàn quyền trực tiếp điều khiển tờ báo cho thấy Louis Marty là thứ trùm mật vụ, chuyên về những vấn đề chính trị bản xứ, đọc, nói thạo chữ Nho, tiếng Việt, có tài tổ chức và rất quỉ quyệt…

Nhưng đến khi đi vào nội dung Nam Phong, ông Ngũ lại bỏ quên không tìm hiểu xem chủ đích chính trị của Pháp được thể hiện thế nào qua toàn bộ các bài, các mục trong Nam Phong, hoặc chứng minh cái tài tổ chức, óc quỉ quyệt của Marty ở đâu trong việc điều khiển tờ Nam Phong.

Không thể nào quan niệm được thực dân Pháp có chủ trương như vậy, nhưng khi thực hiện tờ báo, lại để cho Phạm Quỳnh chủ động và coi tờ báo chỉ còn là cơ quan phổ biến văn hóa, phục vụ quốc học, bồi bổ quốc văn!…

Chúng tôi nói người Pháp coi Nam Phong là cơ quan chính thức, bằng chứng là các nha sở, cho đến làng xã đều được chỉ thị phải mua để thông hiểu chính sách, đường lối của nhà nước bảo hộ. Điều khôn khéo của thực dân không phải ở chỗ che giấu tính cách chủ động của nhà cầm quyền nhưng chỉ ở cách thực hiện: để cho người bản xứ điều hành và dùng lý luận để thuyết phục…

Nguyên nhân bất nhất

Tại sao có sự thiếu mạch lạc như vậy, một sự thiếu sót mà các nhà biên khảo như Phạm Thế Ngũ đã không nhận thấy?

Thiết tưởng, trước hết vì các tác giả viết văn học sử trên đã không để ý đủ đến vấn đề quan điểm, nghĩa là chưa ý thức rõ rệt được tầm quan trọng của quan điểm ở chỗ nó chi phối tất cả chiều hướng, diễn tiến công trình phân tách trình bày. Sự không chú trọng đủ vấn đề quan điểm cũng có thể hiểu như một lựa chọn chỉ chú trọng về phương diện văn học và không xét hay e ngại xét tới những phương diện khác, nhất là phương diện chính trị. Những tác giả biên soạn văn học sử nói trên đều là những nhà giáo, nên càng dè dặt, ái ngại, không muốn có quan điểm, hiểu như một chủ thuyết (tâm lý, xã hội học) để giải thích văn học càng không muốn có một quan điểm chính trị để giữ được thái độ vô tư, thanh bình, khách quan và khiêm tốn vì chỉ nhằm cung cấp cho học sinh, sinh viên những tài liệu văn học sử phải được sắp xếp theo một đòi hỏi tối thiểu về phương pháp mà thôi.

Cũng trong ý định khiêm tốn đó, các nhà giáo biên soạn văn học sử có lẽ chỉ muốn theo đúng chương trình đã ấn định để soạn thảo tài liệu giảng dạy, do đó đưa ra một quan niệm táo bạo, độc đáo, đi ngược lại những điều đã được chấp nhận sợ rằng sẽ gặp khó khăn trong việc sửa soạn thi cử nhất là ở bậc Trung học.

Cuối cùng, có lẽ cũng còn khó khăn về tài liệu để biên soạn. Thật rất khó kiếm những sách báo xuất bản cách đây ba bốn chục năm, tương đối Nam Phong dễ kiếm hơn cả, và do đó các tác giả trên đã giản dị tham khảo những gì có thể kiếm được hoặc có trước mặt, ấy là chưa kể có thể có người vì vội vã không đủ thì giờ đọc ngay cả Nam Phong, nên chỉ đọc Thượng Chi văn tập là tài liệu được Trung tâm Học liệu in lại (1962).

Nếu chỉ đọc Thượng Chi văn tập rất dễ rơi vào lầm tưởng những bài viết của Phạm Quỳnh chỉ thuộc về văn học vì Phạm Quỳnh vô tình hay cố tình đã bỏ tất cả những chú thích tòa soạn, những lời giới thiệu các bài báo rất lộ liễu, phiền cho Phạm Quỳnh. Trái lại, phải đặt những bài được tuyển chọn đó vào trong Nam Phong theo thứ tự thời gian đã đăng với những chú thích giới thiệu mới thấy xuất xứ, nguồn gốc những bài đó và do đó mới dễ nhận ra chủ đích thực sự của người viết hoặc của người bảo viết.

Chẳng hạn trong một bài “Thí dụ thành công diễn kịch của Hội Khai Trí Tiến Đức” (Tập IV). Nếu chỉ đọc bài Phạm Quỳnh trong Thượng Chi văn tập, không thấy gì cả, hay chỉ thấy cái hay, phải đặt bài đó vào bối cảnh Nam Phong, qua các bài khác về hội đó mới hiểu được bộ mặt thực của cái hội Khai Trí Tiến Đức là gì, phản ứng của độc giả sau bài của Phạm Quỳnh và bài trả lời của Phạm Quỳnh cho thấy có thành công thực sự hay không.

… Ngoài ra, cũng còn một lý do khác là chủ trương “chủ nghĩa quốc gia về văn hóa hay về ngôn ngữ” do Phạm Quỳnh đề xướng theo đường lối của Pháp đã mê hoặc, gây lầm tưởng cho một số người đương thời, nhất là vào những năm cuối cùng của Nam Phong. Sự lầm tưởng, bị mê hoặc này càng dễ mắc vì Phạm Quỳnh đã đem hết tài năng thông minh của mình ra để phục vụ cho chủ trương trên với một vẻ say sưa chân tình trong luận điệu, lời văn.

Hậu quả sự thiếu mạch lạc của những soạn giả kể trên là đã chỉ thấy một khía cạnh văn học trong Nam Phong, trong các bài vở của Phạm Quỳnh, do đó đã đánh giá lệch lạc chính những bài đó, vì chỉ thấy hiện tượng bề mặt văn học mà không đi thấu xuống tới thực chất, nguyên nhân động cơ, chủ đích tác dụng trong tờ Nam Phong là chính trị.

Nói cách khác, các soạn giả kể trên đã bày tỏ một cái nhìn chủ quan của người đọc bây giờ về Nam Phong và coi là sự thực lịch sử mà không tự hỏi xem người đương thời đọc Nam Phong, đọc Phạm Quỳnh thực sự đã nghĩ thế nào về tờ báo, về Phạm Quỳnh, và tờ báo đã có tác dụng nào đối với họ. Người thời nay có thể phê phán thái độ của người đương thời đối với Nam Phong. Nhưng trước hết phải tìm hiểu thái độ đó. Những học sinh, sinh viên hoặc những độc giả của các cuốn văn học sử kể trên có thể nhìn nhận cho các nhà biên soạn những cuốn văn học sử đó quyền đưa ra một thẩm định chủ quan của mình về một sự kiện lịch sử, nhưng họ cũng có quyền thắc mắc về việc thẩm định đó trước hết có dựa vào sự thực lịch sử hay không.

Chúng tôi, độc giả của những soạn giả trên, nghĩ rằng việc thẩm định của những soạn giả đó không dựa vào sự thực lịch sử và xin đưa ra một số nhận định về vấn đề quan điểm và chủ trương “chủ nghĩa quốc gia về ngôn ngữ”, mà chúng tôi vừa nhắc qua, như những nguyên nhân chính làm cho những tác giả trên đã vô tình hay hữu ý không tới gần được sự thực lịch sử trong trường hợp Nam Phong.

Kỳ sau: Chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ.

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 517

Ý Kiến bạn đọc