Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Bước lùi thế kỷ về Nam Phong Phạm Quỳnh

Kỳ V: Chủ đích Nam Phong

Giáo sư. Nguyễn Văn Trung khảo sát tình hình nghiên cứu, đánh giá Nam Phong – Phạm Quỳnh từ đầu (1933) đến thời điểm 1972, nêu rõ những bất cập của các nhà biên khảo văn học sử từ Thiếu Sơn cho đến Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng là do họ không xác định được quan điểm lịch sử khi nghiên cứu vấn đề, không thấy mối quan hệ chính trị – văn hóa đương thời, không thấy hay không dám vạch ra Nam Phong – Phạm Quỳnh là cơ quan tuyên truyền chính trị, là công cụ chính trị bằng phương tiện văn hóa, bằng ngôn ngữ và văn học. Mấu chốt của Chương Một là vấn đề Chủ đích chính trị của Nam Phong (Mục 3, từ trang 144 đến 160).

Tác giả đưa ra nhiều cứ liệu rất thuyết phục, có thể tóm gọn trong một câu: Nam Phong là cơ quan tuyên truyền chính trị của Phủ Toàn quyền, do Toàn quyền Sarraut khởi xướng và Marty – chánh mật thám Đông Dương – chủ sự chính trị Phủ Toàn quyền trực tiếp điều khiển mà Phạm Quỳnh chỉ là người thừa hành. Sau đây là các văn bản của Phủ Toàn quyền:

So-519--Buoc-lui-the-ky-ve-Nam-Phong-Pham-Quynh

Sau khi tuyên chiến, sự cần thiết phải ảnh hưởng đến công luận bản xứ bằng một cuộc tuyên truyền thích hợp, có phương pháp và thường trực càng tỏ ra khẩn cấp hơn, vì từ nhiều năm qua, người Đức đã đạt tới một bước lớn lao trong lãnh vực tuyên truyền ở Viễn-đông, và vì việc tuyên truyền quỉ quyệt bằng Hán văn của họ đã ảnh hưởng sâu xa đến quần chúng An-nam. Trong các phúc trình đã gửi đến ngài, các vị tiền nhiệm tôi đã nhiều lần ám chỉ sự thù địch ngấm ngầm mà hoạt động tiên liệu của kẻ thù chúng ta đã thành công trong việc xúi giục số đông các giới ở Á-châu chống đối chúng ta, và đến các xu hướng thân Đức mà sự can thiệp mau chóng và hữu hiệu của nước Nhật đã đến kịp thời để ngăn cản ngay từ đầu cuộc khủng hoảng.

Tôi thấy cần phải cho ngài biết rõ các sáng kiến mà chính phủ thuộc địa đã sử dụng để cố gắng hết sức vãn hồi tình trạng vô cùng tai hại cho quyền lợi chúng ta, và tôi thấy cần phải trình bày các kết quả dự đoán được của công tác đang làm ấy.

Điều căn bản làm cho lời vu cáo của những người chống đối một cách qui mô xứ sở chúng ta đã dễ dàng truyền bá trong thế giới da vàng, là do tình trạng các dân tộc Viễn-đông mù tịt không biết gì đến những điều sinh hoạt của nước Pháp hiện đại.

Trong văn chương Trung-hoa, các tác phẩm viết do cảm hứng hay dịch ở các tác phẩm Pháp trở về sau thế kỷ 18 có thể nói là không có. Trái lại, từ hơn 20 năm nay, một số rất lớn sách dịch từ tiếng Anh hay Đức về mọi vấn đề đã được in ra do các nhà xuất bản ngoại quốc. Vì thế, người Trung-hoa đã chỉ biết nước Pháp qua sự trình bày thiên lệch trong các sách do những kẻ cạnh tranh với chúng ta viết. Dư luận thường ngày cho rằng nước Pháp là một nước già nua, có một quá khứ rực rỡ nhưng đã dừng lại ở cuộc cách mạng 1789; và từ lúc đó, nước Pháp càng ngày càng sa sút. Người ta lãng quên và gần như phủ nhận khoa học mà nước Pháp đã đóng góp vào công cuộc phát triển kỹ nghệ và nghệ thuật trong suốt thế kỷ vừa qua. Người Đức được coi như là những người thật sự đã chủ xướng sự tiến bộ gần đây về khoa học và sự thịnh vượng chung của nhân loại.

Trong các ngôn ngữ Tây-phương, Anh văn là tiếng duy nhất được thông dụng ở Viễn-đông, nên các nhà xuất bản sách Trung-hoa ở Thượng-hải và ở các hải cảng khác chỉ tìm nơi người đồng hương những thông dịch viên tiếng Anh thành thạo mà thôi. Đó là một trong những lý do mà một số rất hiếm người Trung-hoa hiểu biết những tài nguyên của thư quán quốc gia chúng ta đã đưa ra để biện minh cho sự hầu như hoàn toàn vắng bóng những tác phẩm xuất xứ từ Pháp văn trong văn chương hiện đại của nước họ.

Vả lại tôi không cần nói đến việc người Đức đã đảm nhiệm việc làm cho các dân tộc khác biết đến những tác phẩm của họ, và để thực hiện mục đích đó họ đã làm với một tinh thần phương pháp và không ngại dùng bất cứ phương tiện gì, mà ai cũng biết.

Một trong các tác phẩm làm hại chúng ta nhiều hơn cả là của học giả danh tiếng Khang Hữu Vi. Cuốn sách đó gồm các ghi chú đóng thành 11 cuốn tường thuật lại chuyến du lịch qua Âu-châu thực hiện xong vào khoảng năm 1900. Mỗi cuốn dành cho một xứ mà ông ta đã đi qua. Từ đó, người ta nhận thấy nhân vật Trung-hoa nầy là điệp viên tích cực nhất của chủ nghĩa thân Đức ở Trung-hoa. Không phải trong tinh thần vô vị lợi mà bộ sách viết về nước Pháp được trình bày như là một đối chiếu giữa nước Pháp và nước Đức mà tác giả dành cảm tình ưu ái cho cường quốc Đức.

Những chú thích mà tác giả ghi về nước Pháp chỉ là một thêu dệt những chỉ trích, buộc tội, có tính cách vu khống, thế mà từ 18 năm nay tại Trung-hoa không có một ai lên tiếng phản đối lại.

Cũng vào ngày 1 tháng 7 vừa qua, chính ông Khang Hữu Vi với tướng Trung-hoa Trương Huân đã cố gắng khôi phục lại chế độ quân chủ ở Bắc-kinh. Thế mà ngày nay sự cố gắng ấy ai cũng biết là được nước Đức chính thức cổ võ và tài trợ.

Tôi không biết làm gì để chứng minh cho ngài tin cái thực tế và sự thiệt hại sâu rộng hơn là gửi cho ngài xem bản báo cáo hấp dẫn của một nhân viên có thẩm quyền nhất ở trường Viễn-đông bác cổ – đó là ông Noel Péri – đệ trình lên Toàn quyền ngày 3-2-1911, nói về các kết quả của kỳ thi tiến sĩ ở Huế vừa qua. Ở Trung kỳ vào thời kỳ ấy, cuộc thi nầy đã là kỳ thi cao nhất để tìm các phần tử ưu tú trong hàng ngũ sinh viên các thí sinh trúng tuyển sẽ làm mầm móng của quan trường tương lai.

Chính phủ vì muốn hiện đại hóa chương trình thi cử, nên đã đưa vào vài môn khoa học Tây phương. Nhưng người ta ít quan tâm đến các sách vở để cho những người liên hệ kiếm tìm tài liệu. Cho nên cái gì phải đến đã đến. Các người học thức An-nam bị bắt buộc phải học hỏi về hình thể các quốc gia Tây phương, nhưng họ không có tài liệu nào hơn là mua sắm các tác phẩm của Khang Hữu Vi – điệp viên làm thuê cho Đức quốc – vì không có gì tốt hơn bằng tiếng Trung-hoa, thứ ngôn ngữ duy nhất vừa với trình độ của họ. Bản phúc trình của ông Péri cho thấy rõ những kết quả bi thảm và bất ngờ của sự du nhập các sách Trung-hoa.

Lời kết luận của ông Péri thật ý nghĩa, nếu người ta nghĩ đến phong trào chống Pháp đang ấp ủ khắp xứ An-nam vào thời ấy và hậu quả của phong trào đó là các cuộc mưu sát khủng bố năm 1913.

Cũng vừa đây, một trong các cộng sự viên của tôi đi kinh lý các tỉnh miền Bắc Trung kỳ đã nhận thấy trong tủ sách của các gia đình nhà nho chỉ có các tác phẩm viết theo cảm hứng ngoại quốc, hoàn toàn câm lặng về nước Pháp hoặc chỉ chứa đựng những lời phê bình bất lợi cho nước chúng ta. Và tác phẩm của Khang Hữu Vi vẫn tiếp tục được ưa chuộng lưu hành khắp thuộc địa, mặc dù có sự ngăn cấm du nhập tất cả mọi thứ sách báo Trung-hoa bất cứ thuộc loại nào (biện pháp áp dụng từ 6-11-1914).

Tôi cố gắng trình bày hết sức rõ ràng vì thấy cần thiết cho ngài hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề đòi hỏi người hướng dẫn thuộc địa phải lưu ý ngay từ những ngày đầu tiên chiến tranh:

Chúng ta có làm chủ được công luận bản xứ không?

Cuộc nghiên cứu do Phủ Toàn quyền thực hiện nhằm để trả lời câu hỏi trên đã cho phép chúng tôi xác nhận là các sách căn bản rất thiếu thốn và phần khác các cơ quan báo chí bản xứ hiện có ở Đông-dương quá bấp bênh và không đem lại cho chính quyền một hỗ trợ nào đúng đắn tương xứng với bao hy sinh mà chính quyền dành cho họ.

Mặt khác, các cơ quan báo chí này bị thu hẹp lại: ở Bắc-kỳ, trong những tờ báo do chủ nhà in ở Hà-nội xuất bản, đó là ông Schneider. Năm 1913, ông nầy đã ký với các cơ quan hành chính Trung-kỳ và Bắc-kỳ những khế ước bảo đảm cho ông ta một thứ đặc ân, ngược lại, các khế ước đó phải dành cho những cơ quan hành chính trên một phương thế tuyên truyền hữu hiệu, nhưng rủi thay, các cơ quan nầy lại không biết rút tỉa hết những điều hữu ích. Còn ở Nam-kỳ, các cơ quan báo chí bị thu hẹp lại trong những tờ báo xuất bản bằng tiếng An-nam, đó chỉ là những tờ thông tin thô sơ có tính cách hoàn toàn địa phương.

Tạp chí “Nam Phong”

Chính trong những điều kiện đó mà Phủ Toàn quyền đã tránh tài trợ cho các báo chí địa phương và đi đến sáng kiến thành lập một “tạp chí” bằng tiếng bản xứ dùng cho các xứ An-nam và để đáp ứng lại mục tiêu giáo dục và tuyên truyền mà chúng ta phải theo đuổi.

Việc chuẩn bị thực hiện “tạp chí” nầy được trao cho một ban biên tập gồm các học giả có tiếng thực sự trong số đồng bào của họ đã đòi hỏi nhiều tháng. Không những cần phải thu thập trước các tài liệu, mà còn phải chờ chủ nhà in có thể trang bị các máy móc và mẫu chữ rời cần thiết.

Ngài sẽ thấy đính theo đây ở phần phụ lục một tường trình giải thích mục đích và những phương tiện của cơ quan mới nầy cũng như một mẫu gồm hai số đầu tiên mới phát hành.

Mục đích là đặt vào tầm tay lớp người nho sĩ có học những bài cần thiết rõ ràng có thể làm cho những kẻ được bảo hộ hiểu được vai trò của nước Pháp trên thế giới, về mặt trí thức, khoa học và kinh tế. Tạp chí mới nầy mang tên là “Nam Phong” sẽ đăng những loạt bài phân tích các tác phẩm khoa học, văn chương hay nhất, những tiểu sử các nhà bác học hiện đại nổi tiếng nhất của chúng ta cũng như các bài mô tả đẹp đẽ về nước Pháp và một ít bài dịch các truyện hay tiểu thuyết.

Từ khi tạp chí xuất hiện, nó đã thu lượm được thành công rực rỡ trong đám độc giả ưu tú bản xứ mà tạp chí nầy nhằm đến, và lần đầu tiên họ tìm thấy tại chỗ cái tương đương với những sách báo hay mà trước đây họ phải tìm cách đem từ Trung-quốc sang.

Bộ lịch sử chiến tranh Âu Châu

Mặt khác, để đáp lại sáng kiến của người Đức trong việc xuất bản bằng Hán văn ở Thượng-hải một cuốn Lịch sử ghi các biến cố ở Âu-châu dưới một nhãn quan bất lợi cho các nước đồng minh, Sở chính trị của Phủ Toàn quyền đã quyết định cho viết một tác phẩm tương tự vào tháng 4-1916. Tác phẩm nầy phải được xuất bản thành từng tập nhỏ định kỳ và cũng in ngay tại Thượng-hải là trung tâm trí thức thực sự của Trung-hoa hiện tại.

Dự định nầy chính là nội dung của bản điện tín do vị tiền nhiệm của tôi gửi số 178 ngày 20-4-1916 và được phân bộ sở quan rất tán thành. Hiện nay, ba cuốn của bộ “Lịch sử chiến tranh Âu-châu” đã được hoàn thành hai cuốn đã xuất hiện trong tiệm sách. Ngài sẽ thấy những cuốn mẫu kèm theo văn thư nầy.

Theo ý các tác giả của bộ sách trên, truyện sử nầy viết cho tầng lớp nho sĩ, và nhất là cho hàng ngàn sĩ quan Trung-hoa xuất thân từ những trường quân sự ngoại quốc nhất là từ Nhật-bản.

Họ là những người rất tự phụ về kiến thức mới mẻ của họ, và cũng không nghi ngờ gì về khả năng quân sự của họ. Và để làm cho họ chú ý thích thú, chúng ta cần giới thiệu những bài khai triển khá sâu sắc về kỹ thuật tác chiến quân sự. Nhờ các tác phẩm như tác phẩm mà ông Hanotanx đã xuất bản, chúng ta có thể dễ dàng gom góp các tài liệu chính yếu cho tác phẩm đã dự trù. Ngoài ra, Nha địa dư thuộc địa cũng sẵn lòng giúp đỡ việc soạn thảo các đồ hình để giúp độc giả hiểu được bản văn.

Tôi không thể nói rằng cuốn “Lịch sử” đó sẽ có thể được thực hiện đến cùng.

Và công trình nầy vì tính cách lâu dài và phức tạp của cuộc chiến có lẽ vượt quá những phương tiện mà các cộng sự viên của tôi đã đảm nhận cho đến bây giờ.

Điểm chính yếu là làm sao cho người Trung-hoa thấy rõ được sự thật lịch sử liên quan đến nguyên nhân và khởi điểm cuộc chiến, đó là vấn đề căn bản để giải thích và biện minh tất cả các biến cố xảy ra sau nầy.

Ở Nam kỳ

Ở thuộc địa Nam-kỳ của chúng ta vấn đề tuyên truyền qua sách báo bằng tiếng địa phương không có ích lợi bao nhiêu, vì Pháp văn đã được phổ biến khắp xứ nầy rồi và Hán tự hầu như bây giờ không còn ai biết đến. Vả lại, một phong trào mạnh mẽ đang thành hình mà tôi sẽ nói với ngài trong một báo cáo sau, đó là phong trào đưa các giới người Nam-kỳ Pháp-hóa đi tìm đọc các nhật báo Pháp, và mới vừa đây có tờ “Diễn Đàn Bản Xứ” (Tribune Indigène) ra đời viết bằng Pháp văn và do người An-nam điều khiển. Tâm trạng mới nầy sẽ đưa đến hậu quả không thể tránh được là giúp cho việc truyền bá ngôn ngữ của chúng ta và nhờ đó việc truyền bá văn chương của chúng ta được thuận lợi. Vậy ta có thể công nhận rằng ở Nam-kỳ và xứ bảo hộ Trung Bắc-kỳ có sự khác biệt rõ ràng, nhưng sự khác biệt đó càng giảm dần tùy theo chế độ chính trị và hành chánh của xứ bảo hộ càng tiến đến chỗ gần giống với chế độ của Nam-kỳ.

Chính phủ thuộc địa cũng không thể lơ là việc tuyên truyền ở bên ngoài, trong các nước khác tại Viễn-đông.

Theo lời yêu cầu của Bộ trưởng Pháp ở Vọng-các, từ tháng giêng 1945, chính phủ sẽ dành một số tiền hàng năm là 3.000 đồng (bạc Xiêm) cho ông Bộ trưởng sử dụng để duy trì tình trạng lệ thuộc của tờ “Vọng-các Thời báo”, một “cơ quan” viết bằng tiếng Anh và nhằm binh vực chính sách của đồng minh ở Xiêm.

Mặt khác, dưới sự bảo trợ của các lãnh sự Pháp và Anh, Phủ Toàn quyền cũng chú ý đến việc phát hành một tờ thông tin có hình ảnh về chiến tranh mang tên là “Âu-châu chí báo”. Vị đồng nghiệp của ngài, ông Bộ trưởng Ngoại giao chắc cũng đã nêu ra cho ngài biết tầm quan trọng của việc xuất bản tạp chí, và cách thức phân phối tờ báo đó. Một số bản đã được gửi một cách đều đặn vào Nam-kỳ, và được người trí thức An-nam hăm hở đọc. Đông-dương gửi cho tạp chí đó một số tiền trợ cấp hàng tháng là 620 Mỹ kim.

Sau cùng, gần đây hơn, vào tháng giêng vừa qua, tôi đã gửi cho lãnh sự chúng ta ở Quảng-đông số tiền hàng tháng là 700 đồng bạc để ông sử dụng trong các nhật báo quan trọng nhất những bài có thể vô hiệu hóa sự tuyên truyền thân Đức không ngừng hoạt động trên các báo chí địa phương thuộc hải cảng đó.

Tôi sẽ gửi sau đến ngài bản sao phúc trình mà ông Beauvais phải gửi cho tôi để tường trình về các kết quả của hoạt động kín đáo đó và đã trở thành thường xuyên từ ít lâu nay.

Sau cùng tôi sẽ nhắc lại rằng theo lời yêu cầu nhiều lần của Tòa Đại sứ Pháp ở Đông-kinh và của Bộ Sở Quan Đông-dương đã chấp thuận gửi số tiền trợ cấp là 15.000 quan cho tờ “Thông tin Viễn-đông” được phát hành tại Nhật-bản.

Dù việc tuyên truyền thực hiện ở trong thuộc địa hay ở ngoài các nước lân cận, Phủ Toàn quyền cũng đều chăm lo đến công tác trực tiếp hữu ích. Đó là một con đường trong đó các kết quả thâu lượm được chỉ có thể làm chúng ta dấn bước kiên trì và ý định của tôi là tiếp tục cung cấp các phương tiện cần thiết cho công cuộc tuyên truyền hữu hiệu của nước Pháp trong khu vực Á-châu rộng rãi.

Tôi hy vọng với một ít kiên nhẫn và phương pháp trong nỗ lực, chúng ta sẽ đạt đến trong việc làm lan rộng trong thuộc địa và chung quanh thuộc địa những tài liệu chọn lọc phong phú về thông tin đúng đắn, nhờ đó những kẻ được bảo hộ của chúng ta, cũng như các xứ Á-châu lân cận trong những tình thế như tình thế chúng ta đã trải qua có thể tìm được các luận chứng thích hợp ràng buộc họ vào sự quyến luyến mà chúng ta phải giữ gìn ở nơi những người nầy và gây dựng được ở nơi những người khác.

A. SARRAUT

Kỳ sau: Báo cáo của Marti về Tạp chí Nam Phong.

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 519

Ý Kiến bạn đọc