Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Bước lùi thế kỷ về Nam Phong – Phạm Quỳnh

Kỳ IV: Chủ nghĩa quốc gia ngôn ngữ.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung tập trung vào Chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ để phân tích rõ thực chất hoạt động văn hóa văn học của Nam Phong – Phạm Quỳnh. Điều mà cho đến nay nhiều người vẫn vô tình hay cố ý ngộ nhận rằng Phạm Quỳnh tuy thất bại và đáng trách về chính trị (ra làm quan), nhưng về văn hóa là rất có công. Đó là luận điểm của các GS. Văn Tạo (Viện Sử học), GS. Nguyễn Đình Chú (Đại học Sư phạm), GS. Phong Lê (Viện Văn học), GS. Huệ Chi (Từ điển Văn học bộ mới), GS. Dương Trung Quốc – Phó Chủ tịch Hội KHLSVN; các nhà văn và soạn giả như Nguyên Ngọc, Phạm Toàn, Trần Văn Chánh, Đinh Nho Hoan…

Dưới đây xin lược trích Mục IV của Chương Một, Chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ:

… Trong thời Pháp thuộc, thực dân đã chủ trương tài trợ biết bao nhiêu tổ chức văn hóa tạp chí, nhưng nào ai biết và nói đến vì tay sai quá kém hoặc chỉ lạm dụng để thỏa mãn tư lợi. Trái lại bây giờ còn nói đến Nam Phong là vì Pháp đã may mắn và đã tinh mắt tìm ra được một người thừa hành đắc lực, mang hết tâm trí, tài ba thông minh của mình để thực hiện một cách trung thành những đường lối, thủ đoạn, tinh vi khôn khéo của Pháp… Thiết tưởng chính vì những lý do trên mà nhiều nhà biên khảo văn học sử hiện nay hiểu lầm, lẫn lộn nhập nhằng tự mâu thuẫn với chính mình: khẳng định Nam Phong là công cụ tuyên truyền của Pháp, nhưng khi đi vào nội dung Nam Phong, lại quên hẳn tìm hiểu những chủ trương của Pháp được thực hiện thế nào, có tác dụng ra sao, và chỉ còn biết có Phạm Quỳnh chủ động mọi sự nhằm mục đích phục vụ văn học, quốc học, quốc văn!!

Từ sự lẫn lộn đó, đi đến kết quả đề cao nhà văn hóa Phạm Quỳnh, có công với văn học, yêu nước theo đường lối của mình bằng cách cộng tác với Pháp, lợi dụng Pháp… có lẽ Phạm Quỳnh là trường hợp duy nhất trong thời Pháp thuộc về người trí thức không phải hiểu như người có bằng cấp, nhưng một người suy tưởng, biên khảo làm văn hóa, cộng tác với Pháp, làm tay sai cho Pháp như một người trí thức, bằng cách đem những lý do văn hóa ra để biện hộ cho việc cộng tác của mình.

… Nếu Phạm Quỳnh chỉ cộng tác với Pháp bằng cách ra làm quan như những Thân Trọng Huề, Hoàng Trọng Phu thì chẳng có vấn đề gì, vì những trí thức khoa bảng đó không đem văn hóa ra để biện hộ cho việc làm quan, họ không cộng tác với Pháp với tư cách nhà trí thức, nhà văn hóa, do đó cũng không mê hoặc đánh lừa được ai, chỉ có Phạm Quỳnh mê hoặc được, không phải tất cả những người đương thời nhưng chắc chắn đã mê hoặc được một số nhà biên khảo văn học sử ngày nay vì cái tư cách “nhà văn hóa” đó. Nhưng những nhà biên khảo ca tụng Phạm Quỳnh là nhà yêu nước theo cách thế của Phạm Quỳnh nghĩ sao về Pháp cũng ca tụng Phạm Quỳnh yêu nước theo cách thế của Phạm Quỳnh là cách thế mà Pháp coi là rất đắc lực hữu ích cho việc duy trì bảo vệ chế độ bảo hộ, do đó coi Phạm Quỳnh rất có công với nước Pháp, là người bạn lớn, người cộng tác nhiệt tình, luôn luôn trung thành phục vụ những đường lối, chính sách do Pháp đề ra, chẳng hạn chính sách Pháp – Việt đề huề?

Đọc những bài Phạm Quỳnh đã viết về quốc ngữ, quốc văn, nhất là bài “Văn quốc ngữ” (Nam Phong số 2, Thượng Chi văn tập, tập I) và “Chữ Pháp có dùng làm quốc văn An Nam được không?” (Nam Phong số 22, TCVT, tập 2) là hai bài các nhà văn biên khảo văn học thường dựa vào để ca tụng Phạm Quỳnh tha thiết đến quốc văn nếu không xét tới nguồn gốc, xuất xứ bối cảnh chính trị, đường lối của Pháp về Nam Phong, hoặc lập trường chính trị theo Tây của Phạm Quỳnh, thì đúng là những bài đó chỉ biểu lộ một niềm tha thiết đến quốc văn và do đó người đọc bị mê hoặc, hiểu lầm là điều thật dễ hiểu.

Nhưng nếu đặt những bài viết của Phạm Quỳnh về quốc văn, quốc ngữ vào “bối cảnh lịch sử” là những xuất xứ, chủ đích chính trị, người ta sẽ thấy việc đề cao quốc văn, quốc ngữ là một chủ trương, và chủ trương đó được Phạm Quỳnh gọi là một thứ “chủ nghĩa quốc gia về ngôn ngữ, về văn hóa”, và chính chủ trương đó đã góp phần vào việc làm mê hoặc mấy nhà biên khảo văn học sử cũng như một số độc giả đương thời của Nam Phong. Chủ nghĩa quốc gia về ngôn ngữ là thế nào và tại sao có thể mê hoặc được? Rõ hơn nữa, phải chăng chính Phạm Quỳnh đã bị chủ nghĩa đó mê hoặc và sau đó làm một số người khác mê hoặc theo?

Muốn trả lời những câu hỏi trên thiết tưởng phải tìm hiểu hoàn cảnh chính trị, tâm trạng của Phạm Quỳnh, của những người thời đó, sau cùng tâm trạng của những nhà viết văn học sử ngày nay còn bị mê hoặc.

Vào những năm Nam Phong ra đời, phong trào chống Pháp liên tiếp gặp những thất bại, thất bại trong những khởi nghĩa võ trang (Duy Tân, Đội Cấn ở Thái Nguyên), thất bại trong những vận động văn hóa (Đông Kinh Nghĩa Thục). Những thất bại đó dĩ nhiên làm cho những người còn tha thiết đến vận nước khó tránh khỏi rơi vào tâm trạng thất vọng đưa tới thái độ chịu đựng, đành chấp nhận chế độ bảo hộ.

Vậy căn cứ vào tình thế trước mặt thật khó trông thấy viễn tượng đánh đuổi được thực dân trong tương lai gần, chế độ thuộc địa có vẻ vững vàng như không còn cách nào lật đổ được.

Trước một tình thế và tâm trạng như vậy lại có những ông quan thực dân khôn khéo quỷ quyệt đề ra những chính sách cai trị có vẻ cởi mở, thực tâm khai hóa, rộng rãi, tâm trạng đã bị lung lạc sẵn, càng bị lung lạc hơn.

Và cũng do những người đã “cúc cung tận tụy” phục vụ cho những chủ trương của các quan cai trị như Phạm Quỳnh.

… Về những lập trường chính trị, văn hóa, giáo dục có tính cách giai đoạn của các Toàn quyền, Phạm Quỳnh không những đã phản ánh một cách trung thực mà còn suy tụng bằng lời lẽ thật là ngượng mồm khi đọc lại. Các cụ thời đó thường gọi Phạm Quỳnh là người hót Tây, xu thời vì quan Toàn quyền nào sang thay đổi đường lối cũng đều được Phạm Quỳnh “bốc thơm” hết mình, đúng như Bắc Hà đã phê phán trong báo Trung lập (số 6, trang 10, 1930): “Chỉ theo gió khiến buồm, thay đổi chủ nghĩa như thay đổi sơ mi”. Dưới thời Albert Sarraut, Phạm Quỳnh đã ca tụng đó là thời “Minh Trị”, nhưng đến khi Verenne sang, lại chỉ trích Sarraut và cũng làm ra vẻ thiên tả viết cho tờ “Indochine républicaine” là cơ quan của Hội nhân quyền Hà Nội, rồi khi Pasquier lên, Phạm Quỳnh lại trở thành thủ cựu tôn quân ca tụng xã hội tộc trưởng, bảo vệ truyền thống cũ… Sau cùng, khi Pétain cầm quyền, lại mang nho học ra thích nghi với đường lối phục hưng quốc gia của Thống chế…

*
Có thể lược tóm luận điệu về chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ của Phạm Quỳnh như sau: Hoàn cảnh chậm tiến, yếu kém của Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận chế độ bảo hộ như là một cần thiết cho quyền lợi dân tộc vì chế độ bảo hộ chỉ nhằm mục đích khai hóa. Trên cơ sở đó, người viết có tinh thần quốc gia không thể xuẩn động lập phong trào, đảng phái quốc gia, hành động chống đối nước bảo hộ nhưng là chuẩn bị giáo dục và bảo vệ tiếng nói vì duy trì được tiếng nói của dân tộc qua văn chương là đường lối yêu nước, cứu nước thích hợp hơn cả.

Luận điệu trên bịp bợm ở chỗ:

1- Mục đích của thực dân không phải là khai hóa, nhưng là khai thác bóc lột và áp bức.

2- Giáo dục, tiếng nói, văn chương, trong hoàn cảnh mất nước, đáng lẽ phải được coi chỉ như một phương tiện khêu gợi ý thức dân tộc (gọi hồn nước) đưa tới hành động tranh đấu và gắn liền với hành động tranh đấu, thì lại được coi như thay thế hành động tranh đấu, khỏi phải tranh đấu, hành động.

Trong thực tế, thời thực dân, tiếng Việt, văn chương Việt bị khinh miệt, không phải là con đường tiến thân. Tiếng Pháp mới có giá trị trong việc làm ăn, mới được trọng dụng. Dân quê hay những tầng lớp nghèo ở đô thị hoặc mù chữ hoặc chỉ học biết quốc ngữ bậc tiểu học không thể thăng tiến được, những người có điều kiện ăn học thêm phải học tiếng Pháp mới có đường tiến thân, dĩ nhiên là tiến thân trong tình trạng làm công, làm tay sai cho Pháp. Có những người chấp nhận tình cảnh đó vì không thể làm khác được. Những người khác cũng chấp nhận như thế nhưng lại muốn tỏ ra vẫn là quốc gia yêu nước, cứu nước. Nếu yêu nước, cứu nước bằng hành động chống đối đảng phái sẽ nguy hại về quyền lợi, nên họ chủ xướng yêu nước chỉ bằng cách yêu tiếng nói văn chương và duy trì bảo vệ tiếng nói văn chương dân tộc. Không phải dùng tiếng nói văn chương dân tộc để biểu lộ lòng yêu nước, tình tự dân tộc nhưng chỉ để luyện văn quốc ngữ cho xuôi gọn về hình thức, mà không xét nội dung, vì tiếng nói, văn quốc ngữ có thể dùng để xưng tụng, cả thực dân miễn là đạt được mục tiêu trau dồi, bồi bổ cho chữ quốc ngữ được giàu có phong phú về từ ngữ, chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ biến thành chủ nghĩa hình thức quốc gia, chủ nghĩa hình thức ngôn ngữ và đó là lý tưởng tranh đấu của Phạm Quỳnh, một lý tưởng thật dễ dàng: bồi bổ văn quốc ngữ.

Đã rõ luận điệu khốc hại trên không lừa bịp được dân quê, dân nghèo vì nó cũng không đến tai họ, nhưng đến tai trí thức có thể mê hoặc được một số người, nhất là những người sính văn chương, vì nó trấn an lương tâm thắc mắc làm sao cứu nước, và đây là đường lối: luyện quốc văn, bồi bổ quốc văn, bảo vệ văn chương.

*
Một cách cụ thể những luận điệu về chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ được những người đương thời đón nhận thế nào?

Theo các cụ như Bùi Hữu Sảng kể lại, có thể phân làm bốn loại thái độ đối với Nam Phong và Phạm Quỳnh. Loại thứ nhất gồm những nhà nho cương quyết không chấp nhận tất cả những gì do Pháp khởi xướng; chủ trương của loại này là tẩy chay Nam Phong không thèm đọc hoặc để ý tới.

Loại thứ hai gồm những nhà nho hay tân học vẫn giữ trọn vẹn được ý thức về chính trị, băn khoăn đến vận nước nhưng cũng tìm đọc Nam Phong để xem Phạm Quỳnh hót Tây ra sao: vì ngoài hai tạp chí Nam Phong và Đông Dương, sách báo khác rất hiếm, ngay cả đến những tác phẩm viết bằng Pháp văn của P. Pasquier hay của Albert Sarraut cũng ít ai được mua và đọc. Còn những tân thư bằng chữ Hán từ Trung Hoa sang thì bị cấm, nên họ đành phải đọc Nam Phong cho thỏa mãn tính ham học, ham biết, mặc dầu rất cảnh giác về những âm mưu thâm độc của Pháp và tay sai, chẳng hạn thấy rõ tính chất lừa bịp của những chiêu bài như việc đề cao chữ quốc ngữ, phổ biến văn hóa Tây phương trong Nam Phong.

Trong số 35, Nam Phong có đăng một bài cảm nghĩ của một độc giả về buổi diễn tuồng Molière của Hội Khai Trí Tiến Đức mà Phạm Quỳnh hết lời khen ngợi là một việc làm của hội có ích lợi cho việc khai hóa. Sau khi đã nhắc đến tình cảnh nước nhà, “nhất là ở chốn thôn quê, lầm than đói khổ thóc gạo chẳng có mà ăn, thì ở chốn Hà thành ham mê cái hào nhoáng bên ngoài bầy trò tiêu khiển văn chương”, độc giả gay gắt vạch mặt: “Cái nghiệp thằng phường chèo chẳng có danh giá gì đâu, đừng nên lấy thế làm tự đắc”.

“Trong quốc dân ta, ai là người có con mắt biết quan sát việc đời tưởng cũng đã từng thấy bầy ra trước mắt lắm tấn hài kịch hay rồi, lọ phải tìm đâu nữa. Cứ gì đến chốn diễn đàn mới thấy được mặt hề bôi nhọ. Than ôi có con lừa, con ngựa, thì mới phải buộc hai bên mắt hai miếng da để khỏi trông ngang mà chệch đường thẳng, chứ con người thiết tưởng cũng biết bỏ qua những cầu lợi tiểu danh mà không bỏ đường chính đạo vậy”. Trong bài trả lời, Phạm Quỳnh mắng lại độc giả trên là hỗn xược vì dám đụng đến cái hội gồm toàn các quan lớn Tây Nam: thượng lưu trí thức và những lời phê bình không đáng để ý vì chỉ nguyên lời khen của quan Toàn quyền Long cũng đủ làm cho quên những lời bình phẩm hỗn xược trên. “Tôi không ngờ người An-nam họ thông minh thế, dịch được văn Molière, diễn được tuồng Molière, lạ thật, tôi tưởng một lời tri kỷ của quan Toàn quyền đó đủ làm cho hội được hài lòng mà quên những lời bình phẩm không đâu vậy”. Về chữ quốc ngữ, văn quốc ngữ, căn bản chỉ là vấn đề phương tiện. Khi Pháp bắt học chữ Pháp để dễ thực hiện chính sách đồng hóa, thì người Việt đề cao tiếng Việt như phương tiện khêu gợi lòng yêu nước, bảo vệ dân tộc tính. Nhưng khi Pháp hạn chế việc học tiếng Pháp vì có những người Việt học tiếng Pháp, chẳng những không chịu làm tay sai mà còn chống Pháp và dùng ngay tiếng Pháp để chống Pháp vì chỉ dùng tiếng Pháp không phải chữ quốc ngữ, mới tranh đấu hiệu nghiệm trong dư luận, nhất là dư luận Pháp và chủ trương học tiếng Việt đề cao quốc văn để thực hiện chủ đích hạn chế trên, thì người Việt như Phan Chu Trinh nhận thấy chủ đích ngu dân đó, lại chống việc dùng chữ quốc ngữ ở bậc Tiểu học. Nói cách khác, không phải cứ viết tiếng Pháp, vào làng Tây là không yêu nước khi chỉ coi đó là phương tiện tranh đấu như những Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu đã làm và ngược lại không phải cứ chủ trương dùng tiếng Việt đề cao quốc văn là yêu nước vì Tây cũng có thể chủ trương như thế. Vấn đề quan trọng là phải xét quan điểm, chủ đích, tất cả còn lại chỉ là chuyện phương tiện.

Hơn nữa, trong hoàn cảnh nô lệ mất nước, mất nhân phẩm còn nói gì đến tiếp thu văn hóa đích thực. Trong thời Pháp thuộc, học tiếng Pháp, văn hóa Pháp không phải để trao đổi văn hóa, thưởng thức văn hóa, mà chỉ là con đường câu cơm, đưa vào danh vọng địa vị, còn học tiếng Việt, văn chương Việt không đưa tới đâu cả, cho nên nói đến làm văn hóa, phổ biến văn hóa, đề cao quốc văn chỉ là nói láo, lừa bịp, vì thiết thực trong xã hội thuộc địa, văn hóa, tiếng nói bản xứ đã bị khinh miệt không phải là tiêu chuẩn xác định thang giá trị và điều kiện thăng tiến xã hội.

Trong Nam Phong số 42 có đăng một số dư luận độc giả nói lên tính chất lừa bịp của việc đề cao chữ quốc ngữ.

Học Hán văn, còn có thể sống được nhờ việc cúng bái, tế tự; học Pháp văn, đâu phải để thâu thái văn minh mà là vì tiền và quyền: học để lấy tiếng, để lên mặt với xã hội đồng bào “đến như trong chốn thôn quê thì cái mục đích học mới lại ghê tởm hơn nữa; tưởng cho con đi học để làm gì, hóa ra để năm chừng mười họa có quí quan đến làng, là đem con thở được mấy mục tiếng Tây để lên mặt với dân làng ra điều ta đây thân cận thần thế lắm lắm!!

Còn học chữ ta là một cái học vô dụng: “cháu nó học chữ quốc ngữ rồi xin cho cháu nó học chữ nho mới là chữ thánh hiền để cháu có danh dự trong dân hoặc cho cháu nó lên tỉnh học chữ Tây để ra làm việc nhà nước chứ học chữ quốc ngữ thì đến già đời cũng không làm gì được!”.

“Đó là thứ chữ trên thì vô dụng, dưới không tin… rút cục đến kẻ nói ấy (ám chỉ Phạm Quỳnh) chẳng qua cũng chỉ là hão mà thôi. Thời đại này phi tiền và quyền thì nói chẳng ai nghe, đe chẳng ai sợ, đạo đức cũng xếp xó, tài năng cũng gác lên. Vậy mà hai cái học Hán và Pháp thì đạt được hai mục đích trên tiền và quyền, và địa vị về tín ngưỡng nữa. Như thế thì thiết thực còn nói đến Nam học làm gì”.

Loại thứ ba gồm những thanh niên cấp tiến, chống Nam Phong một cách tích cực, ngay trên đất Nam Phong hay ở ngoài Nam Phong bằng sáng tác, đưa ra một lối văn mới gọn gàng, sáng sủa đối lại lối văn kênh kiệu của Phạm Quỳnh như nhóm Đông Tây của Hoàng Tích Chu, nhóm Ngọ Báo với Vũ Đình Chi, nhóm Phụ nữ Tân văn ở Saigon, và nhất là nhóm Tự lực Văn đoàn đã gọi Nam Phong là “bà lão phố hàng Da” với một lối viết khởi sắc hồn nhiên.

Trong loại này, cũng phải kể tới “Hội Truyền bá Quốc ngữ” đã thực sự chống nạn mù chữ. Nó tiếp tục tinh thần và việc làm của Đông Kinh Nghĩa Thục và là tiền thân của tổ chức Bình dân Học vụ sau này: là nơi hội tụ những người làm cách mạng và để che mắt thực dân, hội đã đưa cụ Nguyễn Văn Tố ra làm hội trưởng như một thứ bình phong…

Loại thứ bốn gồm những người tân học hoặc có để ý đến chính trị, vận nước, nhưng cho biết thế thôi hoặc tha thiết nhưng ngại dấn thân tranh đấu, tìm đọc Nam Phong và có thể thấy Phạm Quỳnh cũng có lý vì những luận điệu của Phạm Quỳnh rất thích hợp với tâm trạng muốn yêu nước như tranh đấu khó quá, tương lai lại rất mờ mịt, nên cho rằng có lẽ làm văn hóa, văn học là thiết thực hơn cả. Do đó cũng có thái độ rộng rãi: Phạm Quỳnh theo Tây, hót Tây đấy, đôi khi quá hèn hạ nhưng dù sao ít ra làm được gì: đó là bồi bổ chữ quốc ngữ. Hoặc những người tân học có khiếu văn chương, không để ý gì đến chính trị, nên chẳng cần xét chủ đích, nguồn gốc tờ báo; chỉ thấy ở tờ báo một diễn đàn để đăng thơ văn biên khảo và rung động trước những luận điệu đề cao quốc văn của Phạm Quỳnh có vẻ đầy nhiệt tình thành khẩn do đó mê Nam Phong, mê Phạm Quỳnh. Chẳng hạn trường hợp Hoàng Ngọc Phách ngoài Bắc và Đông Hồ trong Nam. Trong chuyến du lịch vào Nam, Phạm Quỳnh đến thăm Đông Hồ, bàn bạc về văn chương ca tụng thơ Tagore, hồn dân tộc Ấn Độ thuyết phục được Đông Hồ mở trường dạy quốc ngữ.

Quả thật thời đó đối với một số thanh niên không ham chính trị và chỉ thích văn chương, thứ văn chương viễn mơ, mây gió trăng sao, vượt không gian thời gian gắn liền với những gì là vĩnh cửu, thiêng liêng là hồn thơ, hồn nước, những luận điệu chủ trương của Phạm Quỳnh đã xuất hiện như một lối thoát. Những thanh niên không còn thấy gì khác: ngoài văn chương quốc văn… và nói đến văn chương quốc văn, không còn ai khác ngoài Phạm Quỳnh và Nam Phong.

Những người trẻ đó đã bị mê hoặc cũng như bây giờ một số nhà biên khảo văn học sử không muốn đưa chính trị vào văn chương, không muốn đặt những bài Phạm Quỳnh viết về văn quốc ngữ trong thái độ chính trị căn bản của Phạm Quỳnh được bày tỏ một cách có hệ thống rõ rệt nhất là qua những bài viết về tiếng Pháp in lại trong hai tập Essais franco-annamites, nên cũng chỉ thấy văn chương, thấy Phạm Quỳnh tha thiết đến quốc văn có công xây đắp văn quốc ngữ mà thôi!

Tóm lại, Phạm Quỳnh đã tự mê hoặc và sau đó mê hoặc được một số người đương thời vì lý do chính trị, trong hoàn cảnh đen tối của chế độ thuộc địa chỉ còn thấy con đường làm văn hóa là thiết thực, hoặc vì lý do văn nghệ không ham thích chính trị chỉ ham thích văn chương, và sau cùng một vài nhà biên khảo văn học sử ngày nay như ông Phạm Thế Ngũ tuy để ý đến chính trị, chủ trương liên hệ văn học với chính trị, nhưng khi đi vào văn chương lại bỏ quên mối liên hệ ấy, và cũng chỉ thấy văn chương nên mới cho là khó hiểu, sự mâu thuẫn giữa tư tưởng, giọng thiết tha về trước và hành động hủ hóa cầu an “phú quý hiển vinh” lúc làm quan về sau.

Thực ra chẳng có gì là khó hiểu, mâu thuẫn nếu ông Ngũ đừng bất nhất, mâu thuẫn với chính mình, nếu ông không quên tìm hiểu mọi hành động của Phạm Quỳnh về văn hóa, chính trị trên cơ sở những lựa chọn căn bản về chính trị của Phạm Quỳnh và hơn nữa trên cơ sở những lựa chọn căn bản đó phù hợp một cách rất trung thực với những đường lối căn bản của thực dân cao cấp. Nếu ông nghiên cứu Phạm Quỳnh, Nam Phong trong những chiều hướng liên hệ văn học với chính trị mà chính ông đã vạch ra, ông sẽ thấy sự thống nhất giữa con người chính trị và con người văn hóa trong Phạm Quỳnh, sự nhất trí giữa những chủ trương về văn học với những chủ trương về chính trị theo những tôn chỉ mà quan thầy của Phạm Quỳnh đã vạch ra và “bảo thi hành”, do đó ông sẽ không bị mê hoặc ngây thơ tách chủ nghĩa quốc gia về chính trị khỏi chủ nghĩa quốc gia về ngôn ngữ, văn hóa của Phạm Quỳnh để chỉ thấy sự thất bại của chủ nghĩa quốc gia về chính trị của Phạm Quỳnh không đưa tới đâu, nhưng về văn hóa không phải không nuôi được một tinh thần dân tộc làm nơi trú ẩn cho nhiều tâm trí băn khoăn thời ấy và có thể để lại hậu quả tốt về sau nữa. Thực ra xét theo chủ đích của thực dân khi cho ra Nam Phong và dùng Phạm Quỳnh, chủ nghĩa quốc gia về chính trị đâu có thất bại, trái lại đã đưa Phạm Quỳnh tới triều đình Huế như cái đích phải đạt mà thực dân đã chuẩn bị lâu năm cho Phạm Quỳnh bằng con đường văn hóa. Cũng như cái chủ nghĩa quốc gia về ngôn ngữ văn hóa đúng là một nơi trú ẩn, lối thoát cho nhiều tâm trí băn khoăn thời ấy và đúng là có thể để lại những hậu quả tốt, những hậu quả mê hoặc, nhưng cũng cần phải chú thích cho rõ đó là những kết quả tốt xét theo quan điểm thực dân, kẻ thù của dân tộc.

Kỳ sau: Chủ đích Nam Phong và Giải thực tinh thần.

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 518

Ý Kiến bạn đọc