Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Bước lùi thế kỷ về Nam Phong – Phạm Quỳnh

Kỳ II

Dư luận về Phạm Quỳnh – Nam Phong từ 2001 đến nay ở các diễn đàn Văn học và Sử học lặp lại in hệt tình hình ở miền Nam trước đây gần nửa thế kỷ mà GS. Nguyễn Văn Trung đã đặt ra và giải quyết thấu đáo trong công trình gồm 2 tập Chủ đích Nam Phong và Trường hợp Phạm Quỳnh như đã giới thiệu ở kỳ trước.
Chủ đích Nam Phong gồm có hai chương, xin lược trích một số đoạn của Chương I để bạn đọc hình dung được vấn đề:

Phê bình một quan điểm phê bình

Trong chương mở đầu này, chúng tôi trình bày quan điểm quen thuộc của nhiều nhà biên khảo Văn học sử từ trước tới nay vẫn coi Nam Phong chỉ là một tạp chí văn học, do Phạm Quỳnh chủ trương nhằm phục vụ những mục đích văn học như phổ biến tư tưởng, khoa học Tây phương, bồi bổ quốc văn và vì thế đề cao công lao của Nam Phong, Phạm Quỳnh.

Chúng tôi chia những nhà biên khảo trên thành hai loại:

1/ Những người như Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm trước 1945 đã không xét đến bối cảnh lịch sử của văn học nên không thấy được những liên hệ chính trị của tạp chí. Tuy nhiên, dù sao họ không mâu thuẫn với lối nhìn phi lịch sử, phi chính trị của họ.

2/ Trái lại, nhiều nhà biên soạn sau 1954 đã biết đặt Nam Phong vào bối cảnh lịch sử của nó. Nhưng lại bỏ quên, không liên hệ bối cảnh đó với việc phân tách nội dung Nam Phong, cho nên cũng chỉ thấy Nam Phong như một hiện tượng văn học, nghĩa là hiểu lệch lạc về tính chất thực sự của tạp chí đó.

Chúng tôi sẽ nêu lên tính cách bất nhất mâu thuẫn của những nhà biên khảo sau, giữa sự lựa chọn một quan điểm lịch sử chính trị để tìm hiểu văn học ở khởi điểm, trên nguyên tắc, và sự bỏ quên áp dụng lối nhìn đó trong khi phân tích trình bày văn học và thử tìm hiểu những nguyên nhân giải thích thái độ bất nhất trên.

Từ thái độ bất nhất của các vị đó, chúng tôi đưa ra một đòi hỏi có tính cách lý thuyết khi biên soạn Văn học sử, hoặc là đứng ở quan điểm phi lịch sử hay lịch sử; nếu đã chọn đứng ở quan điểm lịch sử để tìm hiểu Văn học sử Việt Nam, nhất là thời cận đại, hiện đại phải chú ý đến hoàn cảnh nền tảng của văn học Việt Nam! Sự kiện mất nước, lệ thuộc ngoại bang hoặc sự kiện chuyên chính bản xứ, trong cả hai trường hợp văn học đều bị chính trị hóa và do đó văn học phải chịu sinh hoạt trong một tình cảnh bất bình thường. Trên cơ sở đó, phải nhìn văn học như một trận tuyến tranh đấu chính trị giữa ngoại bang thống trị hoặc chuyên chính bản xứ và những phong trào, cá nhân chống đối và do đó phân biệt hai dòng văn học: công khai, hợp pháp và bí mật, bất hợp pháp…

Trong trận tuyến tranh đấu chính trị trên bình diện văn học đôi khi địch (thực dân đế quốc) đoạt lấy chính nghĩa quốc gia của ta và biến thành chiêu bài có thể lừa bịp được một số người, nhất là các người làm văn học. Một trong những chiêu bài trên gọi là “Chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ”. Một lý thuyết bảo vệ quốc gia bằng ngôn ngữ, coi việc duy trì được ngôn ngữ, tiếng nói của dân tộc qua một số tác phẩm văn chương tiêu biểu như một đường lối yêu nước và cứu nước thích hợp hơn cả trong hoàn cảnh mất nước. Luận điệu trên lừa bịp ở chỗ đáng lẽ ngôn ngữ, văn chương chỉ được coi như phương tiện khêu gợi lòng yêu nước, thức tỉnh tình tự dân tộc đưa tới hành động tranh đấu cứu nước thực sự, thì lại được coi như thay thế cho hành động tranh đấu.

Thực ra ngôn ngữ, văn chương cũng không được coi như phương tiện khêu gợi lòng yêu nước vì làm như thế đã là một hành động yêu nước rồi. Trái lại, bồi bổ chữ quốc ngữ được Phạm Quỳnh trình bày như một đường lối yêu nước, cứu nước, chỉ là làm sao cho tiếng Việt giàu thêm từ ngữ, chải chuốt hơn về lời văn, mà không cần chú ý đến nội dung từ ngữ, lời văn, vì điều cốt yếu chỉ là làm sao cho văn chữ quốc ngữ được lưu loát, phong phú, kể cả bằng cách ca tụng thực dân, mạt sát cách mạng.

Những luận điệu quen thuộc

Đọc những sách biên khảo Văn học sử tiêu biểu và thông dụng từ 30 năm nay chương liên quan đến Nam Phong và Phạm Quỳnh, chúng tôi thấy hầu như tất cả tác giả những bộ sách trên đều nhất trí với nhau về vấn đề Nam Phong và trường hợp Phạm Quỳnh. Kẻ nói ít người nói nhiều, nhưng không nói khác nhau như thể mọi sự đã rõ, một cách hiển nhiên, không còn thắc mắc, bàn cãi. Nam Phong là một tạp chí văn học, do Phạm Quỳnh chủ trương, và đã có công lớn bồi đắp chữ quốc ngữ trong thời kỳ phôi thai… Từ 30 năm nay, những người viết Văn học sử vẫn kế tiếp nhau viết như thế và cũng thay nhau giảng dạy như thế trong các lớp Việt văn ở trung học và đại học.

Quan điểm chung, hầu như chính thức cho đến nay về Phạm Quỳnh và Nam Phong là quan điểm tách chính trị ra khỏi văn học, như thể khi Phạm Quỳnh làm văn học, ông thực sự đã chỉ biết làm văn học mà thôi. Nói cho đúng, trong số những nhà viết Văn học sử nhất trí về điểm tách chính trị khỏi văn học, thật ra có thể chia thành hai hạng. Một hạng biên khảo bỏ quên hẳn không thèm để ý đến chính trị, chẳng hạn không tìm hiểu trình bày hoàn cảnh lịch sử lúc đó.

… Gác bỏ chính trị hoặc không để ý đến chính trị, nên các vị biên khảo này chỉ còn thấy Phạm Quỳnh chủ bút tạp chí, và do đó cho rằng Phạm Quỳnh chủ trương chủ động mọi sự, chọn viết về đề tài này, dịch giới thiệu tác giả kia, và làm những việc biên khảo đó chỉ nhằm mục đích thuần túy văn học. Dĩ nhiên các vị biên khảo này cũng chỉ để ý đến những bài văn học trong tạp chí, và bỏ qua những bài giới thiệu, bình luận về những bài diễn văn của Toàn quyền, Thống sứ, và nhất là bỏ qua mục Thời đàm. Đó là chính trị, không đáng kể, không cần xét tới…

Hạng biên khảo thứ hai trái lại không quên hẳn chính trị. Chẳng hạn có để ý tìm hiểu và giới thiệu khung cảnh chính trị của tạp chí: nào là đường lối của các nhà nho yêu nước, nào là chính sách về văn hóa, báo chí của thực dân Pháp; ngoài ra cũng còn nhìn nhận tạp chí Nam Phong do Pháp sáng lập, chủ trương, nhưng khi đi vào phần phân tách nội dung Nam Phong, đặc biệt các bài của Phạm Quỳnh, người đọc không nhận thấy những chính sách chủ trương của Pháp đâu cả, và chỉ còn thấy những ý nghĩa văn học hay một Phạm Quỳnh làm văn học mà thôi.

Những nhà biên khảo này như những nhà biên khảo trên cũng chỉ để ý đến những bài về văn học, và bỏ qua những bài về chính trị trình bày, tuyên truyền những quan điểm, đường lối của quan Toàn quyền, nhà nước bảo hộ, hay mục Thời đàm.

… Trước khi nhận định về lối nhìn, quan điểm của những nhà biên khảo này, chúng tôi muốn giới thiệu mấy tác giả tiêu biểu:

Thiếu Sơn – Dương Quảng Hàm – Vũ Ngọc Phan.

Trong “Phê bình và Cảo luận” xuất bản năm 1933 ở Hà Nội, Thiếu Sơn đã đề cao vai trò của Nam Phong và Phạm Quỳnh trong việc truyền bá văn hóa Đông Tây bằng công trình biên khảo, dịch thuật:

“… Nên chi những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng, thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả lại vừa dựa theo cái giọng điệu của quốc văn.

Bởi muốn mưu cái công cuộc mới mẻ đó, mà cái tiếng nói bản quốc còn nghèo nàn túng thiếu quá, nên ông lại phải lo tài bồi cho quốc văn, mượn những danh từ triết học khoa học của tiếng Tây tiếng Nhật cho nhập tịch vào quốc ngữ để có thể diễn thuật được những cái mà tiếng Nôm ta không đủ để gọi ra… cái công phu trước tác của ông, ích cho quốc dân không phải là nhỏ mà ảnh hưởng đối với dân chúng cũng thiệt là sâu. Có nhiều người không biết đọc văn Tây văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà cũng có được cái trí thức phổ thông, tạm đủ sinh hoạt ở đời. Có nhiều ông đồ nho chỉ coi Nam Phong mà cũng biết được đại khái những văn chương học thuật của Tây phương. Có lắm ông đồ chỉ coi Nam Phong mà cũng hiểu qua được cái tinh thần văn hóa của Đông Á. Ở Hà Tiên lâu nay có một cái đoàn thể học vấn kêu là “Trí Đức Học Xá” chỉ chuyên học quốc văn, người chủ trương đó là ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát, thường chỉ lấy Nam Phong làm cơ quan để đăng những bài luận văn của mình” (trang 19-20).

Trong câu chuyện tâm sự với chúng tôi, ông Thiếu Sơn thường thú nhận hồi đó có cảm phục Phạm Quỳnh, nhưng từ sau 1945, ông đã giác ngộ và thay đổi ý kiến, tuy nhiên một số soạn giả hiện nay vẫn dựa vào ý kiến trước đây của ông để tiếp tục đề cao Nam Phong, Phạm Quỳnh.

Trong “Việt Nam Văn học sử yếu”, ông…Dương Quảng Hàm không đả động gì đến nguồn gốc, bối cảnh lịch sử Nam Phong. Điều đó cũng dễ hiểu, ông soạn bộ Văn học sử này trong thời Pháp thuộc (xuất bản năm 1941), theo chương trình do người Pháp ấn định (1), nên dù ông có biết những chủ đích chính trị của Pháp, ông cũng không thể nói ra được. Do đó chỉ thấy ông trình bày Nam Phong như một tạp chí xuất bản được 17 năm và ra được 210 số nhằm hai mục đích: “đem tư tưởng học thuật Âu Á diễn ra tiếng ta cho những người không biết tiếng Pháp hoặc chữ Hán có thể xem mà lĩnh hội được, luyện tập quốc văn cho nền văn ấy có thành lập được. Muốn thực hiện bản chương trình ấy, các nhà biên tập tạp chí Nam Phong làm các việc sau này:

1- Viết các bài khảo cứu về triết học, khoa học văn chương, lịch sử của Á Đông và của Âu Tây.

2- Dịch các tác phẩm về triết học, văn học nguyên viết bằng chữ Nho hoặc chữ Pháp.

3- Sưu tầm các thơ văn cổ của nước ta.

4- In các sách cũ của nước ta.

Tạp chí Nam Phong đã có ảnh hưởng về hai phương diện:

1- Về phương diện văn tự, tạp chí ấy đã:

a) Sát nhập vào tiếng ta nhiều danh từ triết học khoa học mới mượn ở chữ Nho.

b) Luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới.

2- Về đường học vấn, tạp chí ấy đã:

a) Phổ thông những điều yếu lược của học thuật…Âu Tây.

b) Diễn đạt những điều đại cương trong các học thuyết cũ của Á Đông (Nho học, Phật học) và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn học cũ của nước ta (văn chương, phong tục, lễ nghi) (2).

Về Phạm Quỳnh, ông Dương Quảng Hàm cho rằng “đã có công dịch thuật các học thuyết của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể đạt được cái ý tưởng mới”.

Vào thời kỳ 1941, Vũ Ngọc Phan viết bộ…“Nhà văn hiện đại”. Cũng chủ trương một thái độ thuần túy văn chương như Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan cho rằng phê bình không cần xét đến thân thế, cuộc đời tác giả, bối cảnh lịch sử mà chỉ chú ý đến tác phẩm và trọng tác phẩm, đặc biệt chú ý đến câu văn (văn hay hoặc dở, cốt truyện khéo hay vụng, có đúng văn phạm hay không…). Với một thái độ phi chính trị như thế nên dĩ nhiên trong tập 1, phần bàn về Phạm Quỳnh, Vũ Ngọc Phan không nói gì đến bối cảnh lịch sử của Nam Phong và con người…Phạm Quỳnh…

Sau khi đã nhận xét về lối văn dịch thuật, biên khảo, phê bình của Phạm Quỳnh, Vũ Ngọc Phan kết luận về công lao Phạm Quỳnh: “Cái công Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay, thật là một công không nhỏ. Văn ông, ai cũng phải nhận là hùng, là dồi dào, thường thường lại có cái giọng thiết tha kêu gọi, nhưng vẫn có nhiều người kêu ông dùng nhiều chữ Nho quá làm cho câu văn hóa nặng nề cả những khi diễn những tư tưởng nhẹ nhàng. Trong mười sáu năm chủ trương tạp chí Nam Phong, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu, mà từ Bắc chí Nam, người thức giả đều phải lưu tâm đến. Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khuyết điểm của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây. Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý Trần cho đến nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị – xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ La Hy chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu biết được.

Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình. Nam Phong tạp chí sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều. Nam Phong tạp chí được rực rỡ như thế vì cũng được người chủ trương là một nhà văn học vấn đã uyên bác, lại có biệt tài, có lịch duyệt. Thật thế, Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về vấn đề gì từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chính trị – xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy.

Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong, vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn.

Nói như vậy không có gì là quá đáng vì nếu đem so tạp chí Nam Phong với những tạp chí xuất bản ở Pháp trong mấy năm gần đây như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Francaise, người ta sẽ thấy những tạp chí này đều thiên về một mặt văn học, thêm ít nhiều triết học và khoa học, còn không một tạp chí nào lại tham khảo được cả học thuật tư tưởng Đông Tây và chuyên cả về việc khảo cứu cùng biên tập thơ văn cổ kim như Nam Phong tạp chí. Mà những công việc này rất là đều đặn ở mỗi nhà văn, như Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, người ta cũng có thể rút được vài ba bộ sách có giá trị trong số những bài các ông đã biên tập trong Nam Phong.

Từ 1933 trở đi, tức là từ ngày Phạm Quỳnh thôi không chủ trương tạp chí Nam Phong nữa, tạp chí này mỗi ngày một sút kém, một non nớt, các bài văn học giá trị, các bài biên tập công phu không còn có nữa. Con mắt của chủ nhân đã vắng, nên tạp chí cứ lùi dần vào bóng tối cho đến ngày đình bản. Như vậy lại càng tỏ ra rằng một người có văn tài đứng chủ trương một cơ quan văn học tức là hồn của cơ quan văn học ấy, cũng như Phạm Quỳnh là hồn của tạp chí Nam Phong thuở xưa” (3).

Sở dĩ chúng tôi trích dẫn dài dòng Vũ Ngọc Phan là vì nghĩ rằng lối nhìn và đánh giá Nam Phong, Phạm Quỳnh của Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan đã trở thành khuôn mẫu cho những người đi sau. Những người này không nói gì khác hơn là nhắc lại những điều mà chính Dương Quảng Hàm và nhất là Vũ Ngọc Phan đã nói.

Kỳ sau: Những mâu thuẫn của thế hệ Phạm Thế Ngũ – Thanh Lãng.

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 516

——————
1) Chương trình trung học 1939 do Phạm Quỳnh ấn định với tư cách chủ tịch Hội đồng ban Việt văn và Thượng thư Bộ Giáo dục. Nha học chính Đông Pháp ủy cho Dương Quảng Hàm, giáo sư trường bảo hộ soạn và in.
2) Chương thứ 4, trang 414, bản in của Bộ Giáo dục.
3) Nhà văn hiện đại, Q.1, trang 127. NXB Vĩnh Thịnh, Hà Nội – 1951.

Ý Kiến bạn đọc