Văn học nước ngoài

Bữa tiệc của sói

Willa Sibert Cather (1873 – 1947) là một nhà văn người Mỹ nổi tiếng rộng rãi với những tiểu thuyết viết về vùng biên giới cao nguyên rộng lớn ở miền trung Bắc Mỹ. Bà được coi là một trong những người chép sử biên niên tài năng nhất về cuộc sống của những người tiên phong khai hoang của thế kỉ XX. Tác phẩm hay nhất của bà là My Antonia – Bữa tiệc của sói (1918). (Nguồn: online-literature.com)

Khi sắc thu nhạt dần trên màu cỏ và cánh đồng bắp, cuộc sống của hai người bạn Nga trở nên nguy ngập. Peter kể cho ông Shimerda nghe rắc rối mình gặp phải: ông ấy không thể thanh toán số tiền đáng ra phải trả vào ngày đầu tiên của tháng 11; phải trả thêm một số tiền cắt cổ để gia hạn lại nó; và phải cầm cố đám lợn, ngựa và thậm chí cả con bò sữa nữa. Chủ nợ của ông ấy là Wick Cutter, kẻ cho vay tiền tàn nhẫn của Black Hawk với tiếng tăm xấu xa khắp cả quận mà tôi sẽ kể thêm sau. Peter không miêu tả được rõ ràng những giao dịch của mình với Cutter. Ông ấy chỉ biết rằng lúc đầu mình mượn 200 đô la, sau đó là 100 nữa, rồi 50 – mỗi lần mượn thêm là số nợ lại tăng nhanh lên nhanh hơn bất kì vụ mùa nào ông ấy từng gieo trồng. Lúc này nợ nần đã chồng chất mà ông còn phải cầm cố nữa.

Không lâu sau Peter gia hạn lại khoản nợ, Pavel làm việc quá sức khi nâng gỗ làm chuồng ngựa mới và ngã xuống đám vỏ bào làm máu từ trong phổi phun ra khiến cho những người cùng làm nghĩ ông ấy sẽ chết ngay tại chỗ mất. Họ lôi ông ấy về nhà và đặt vào giường. Bất hạnh dường như đậu trên mái ngôi nhà gỗ súc như một con chim ác và cứ ở đó đập cánh xua đuổi con người đi chỗ khác. Hai người Nga này xui xẻo tới nỗi người ta sợ và không muốn nghĩ đến họ.

Một buổi chiều nọ Antonia và cha cô tới nhà chúng tôi lấy nước sữa rồi nấn ná lại như thường lệ tới khi mặt trời đã ngả xuống thấp. Ngay khi họ sắp về thì Peter người Nga tới. Ông ấy nói Pavel gặp nguy rồi và muốn nói chuyện với ông Shimerda và con gái ông; ông ấy tới để đón hai người. Khi Antonia và cha cô đã vào xe rồi, tôi nài xin bà nội cho đi cùng họ – tôi sẵn lòng đi mà không ăn tối, tôi sẽ ngủ trong chuồng ngựa nhà Shimerda và chạy về nhà vào buổi sáng. Kế hoạch của tôi hẳn có vẻ vô cùng ngớ ngẩn đối với bà, nhưng bà vẫn thường rộng lượng mà chiều lòng người khác. Bà kêu Peter chờ một lát rồi mang từ bếp ra một túi bánh mì kẹp và bánh vòng cho chúng tôi.

Ông Shimerda và Peter ngồi ở ghế trước; Antonia và tôi ngồi trong đống rơm đằng sau và ăn bữa trưa trên đường đi gập ghềnh. Khi mặt trời đã lặn, một cơn gió lạnh tràn tới và rền rĩ khắp đồng cỏ. Nếu trời trở sớm hơn thì chúng tôi đã không thể thoát được. Chúng tôi vùi người sâu vào đống rơm và thu mình lại gần nhau ngắm màu đỏ dữ dội tắt dần nơi trời tây và những ngôi sao bắt đầu tỏa sáng trên bầu trời trong trẻo lộng gió. Peter cứ thở dài và rên rỉ mãi. Tony thì thầm bảo tôi là ông ấy sợ Pavel sẽ không bao giờ khỏe lại. Chúng tôi nằm yên không nói chuyện. Trên kia các vì sao sáng ngời lộng lẫy. Dù chúng tôi đến từ những vùng khá khác nhau trên thế giới, nhưng trong cả hai đều có một niềm mê tín tăm tối mà những chòm sao sáng ngời kia chi phối. Có lẽ Peter người Nga, đến từ một nơi xa hơn chúng tôi nhiều, cũng mang theo một niềm tin như thế từ quê hương mình.

Anh-minh-hoa---Bua-tiec-cua-soi

Ngôi nhà nhỏ trên sườn đồi cũng tối thẫm như màn đêm tới mức khi đã tới được con lạch rồi chúng tôi vẫn chưa nhìn ra nó. Những ô cửa sổ đo đỏ dẫn đường cho chúng tôi – đó là ánh sáng từ bếp lò vì họ không có đèn.

Chúng tôi nhẹ nhàng vào nhà. Người nằm trên chiếc giường rộng có vẻ đang ngủ. Tony và tôi ngồi xuống băng ghế kê sát tường và đặt tay lên chiếc bàn trước mặt. Ánh lửa bập bùng hắt lên xà nhà. Pavel hít thở phát ra tiếng kèn kẹt và cứ than van mãi. Chúng tôi chờ đợi. Gió sốt ruột lay những cánh cửa lớn và cửa sổ rồi lại lướt đi tiếp, thổi vù vù qua những khoảng không rộng lớn. Mỗi luồng gió thốc tới lại khiến kính cửa khua lách cách, rồi nó lại lồng lên bay mất. Chúng khiến tôi nghĩ đến những đội quân bại trận phải rút lui, hoặc những con ma đang tuyệt vọng cố chui vào trong kiếm chỗ trú nhưng rồi phải rền rĩ ra đi. Chẳng mấy chốc, trong một khoảng nức nở như thế giữa các luồng gió, lũ sói đồng cỏ xuất hiện cùng với tiếng tru rền rĩ. Một, hai, ba con rồi tất cả cùng tru lên để cho chúng tôi biết rằng mùa đông sắp đến rồi. Lời đáp lại âm thanh này vang lên từ chiếc giường – một tiếng kêu dài ai oán như thể Pavel đang mơ thấy ác mộng hay đánh thức một nỗi đau xưa cũ nào đó. Peter lắng nghe nhưng không hề động đậy. Ông ấy đang ngồi trên sàn nhà bên cạnh bếp lò. Lũ sói đồng cỏ lại cất tiếng; chúng kêu vài tiếng ăng ẳng rồi tru lên tiếng rền rĩ cao vút. Pavel gọi gì đó và vật vã chống khuỷu tay nhỏm dậy.

“Ông ấy sợ sói”, Antonia thì thầm với tôi. “Ở nước của ông ấy có nhiều lắm, chúng ăn thịt cả đàn ông lẫn đàn bà”. Chúng tôi xích lại gần nhau hơn trên băng ghế.

Tôi không thể rời mắt khỏi người nằm trên giường. Áo sơ-mi ông để hở và lồng ngực hốc hác phủ lớp lông cứng màu vàng của ông cứ phập phồng dữ dội. Ông bắt đầu ho. Peter bồn chồn đi lấy ấm trà pha cho ông ấy chút nước nóng và rượu whisky. Mùi rượu mạnh cay nồng lan ra khắp phòng.

Pavel chộp lấy cái cốc uống cạn rồi bảo Peter đưa cho mình cái chai và nhét nó xuống dưới gối, miệng cười toe toét vẻ bực bội như thể ông ấy khôn hơn ai đó vậy. Mắt ông dõi theo Peter đi quanh phòng với vẻ khinh khỉnh không thiện cảm. Tôi nghĩ hình như ông ấy khinh chính bản thân mình vì quá đơn giản và dễ bảo.

Chẳng mấy chốc Pavel đã bắt đầu nói chuyện với ông Shimerda, giọng chỉ hơn thì thào chút đỉnh. Ông ấy kể một câu chuyện dài, lúc đó Antonia nắm lấy tay tôi thật chặt để dưới bàn. Cô ấy nhoài người về phía trước và căng tai ra nghe ông ấy kể. Ông ấy càng lúc càng trở nên phấn khích và cứ chỉ trỏ khắp giường mình như thể ở đó có thứ gì đó và ông ấy muốn ông Shimerda nhìn thấy chúng.

“Là sói đấy Jimmy”, Antonia thì thầm. “Kinh khủng lắm, chuyện ông ấy kể ấy!”.

Người đàn ông bệnh hoạn nổi cơn thịnh nộ và lay nắm đấm. Dường như ông ấy đang nguyền rủa những người đã làm điều xấu với mình. Ông Shimerda túm lấy vai ông ấy nhưng cố lắm mới giữ được ông ấy nằm trên giường. Cuối cùng ông ấy bị một cơn ho ngăn lại, nó gần như làm ông nghẹn thở. Ông ấy kéo một mảnh vải dưới gối ra đưa lên miệng. Nó nhanh chóng phủ đầy những chấm đỏ tươi – tôi nghĩ tôi chưa từng thấy loại máu nào lại tươi đến thế. Lúc ông ấy nằm xuống và quay mặt vào tường, toàn bộ cơn thịnh nộ đều biến mất. Ông ấy kiên nhẫn nằm hít thở một cách cực nhọc như đứa bé bị bệnh bạch hầu thanh quản vậy. Cha Antonia kéo một ống quần ông ấy lên để lộ cẳng chân xương xẩu và xoa bóp nó nhịp nhàng. Từ chỗ ngồi chúng tôi có thể nhìn thấy cơ thể ông hốc hác ra sao. Cột sống và xương bả vai ông nhô ra như những cái xương bên dưới lớp da của một con bò đực chết bị bỏ ngoài đồng. Phần xương sống sắc cạnh đó hẳn phải làm ông đau lắm mỗi khi nằm xuống.

Dần dần tất cả chúng tôi đều thấy nhẹ nhõm. Dù nó có là gì thì điều tệ nhất cũng đã qua. Ông Shimerda ra dấu cho biết rằng Pavel đang ngủ. Peter không nói một lời liền đứng lên và đi đốt đèn lồng. Ông ấy định ra ngoài chuẩn bị xe đưa chúng tôi về. Ông Shimerda đi cùng. Chúng tôi ngồi nhìn cái lưng dài cong cong bên dưới tấm chăn xanh mà chẳng dám thở.

Trên đường về, lúc nằm trong đống rơm chịu đựng chuyến đi xóc nảy đầy tiếng lạch cạch, Antonia cố hết sức kể tôi nghe câu chuyện kia. Phần không kể được lúc đó thì sau này cô kể lại; trong nhiều ngày tiếp theo đó chúng tôi không nói về thứ gì khác hết.

Hồi Pavel và Peter còn trẻ sống ở quê nhà ở Nga, họ được mời làm phù rể cho một người bạn sắp cưới một mỹ nhân ở làng bên. Lúc đó là giữa mùa đông và đám người rước dâu đi tới đám cưới bằng xe trượt tuyết. Peter và Pavel đi trong xe của chú rể, theo sau là 6 chiếc nữa chở toàn bộ người nhà và bạn bè.

Sau buổi lễ ở nhà thờ, nhóm người đó đi tới bữa tiệc do bố mẹ cô dâu tổ chức. Bữa ăn kéo dài cả buổi chiều, rồi sau đó họ ăn tối và chơi tiếp tới tận khuya. Họ uống và nhảy múa nhiều lắm. Nửa đêm, bố mẹ cô dâu chào tạm biệt con gái và cầu Chúa phù hộ cho cô ấy. Chú rể nhấc bổng cô ta lên mang vào xe của mình và nhét vào dưới đống chăn. Ông ấy nhảy vào ngồi bên cạnh còn Pavel và Peter ngồi ghế trước. Pavel đánh xe. Hội ăn cưới khởi hành trong tiếng hát hò và tiếng leng keng của nhạc ngựa kéo xe, xe của chú rể đi đầu. Tất cả những người đánh xe không ít thì nhiều đều say bí tỉ, còn chú rể cứ mải mê bên cô dâu.

Mùa đông năm đó lũ sói đói kém và ai cũng biết vậy, thế nhưng khi nghe thấy tiếng tru đầu tiên, những người đánh xe vẫn không mấy cảnh giác. Họ đã ăn uống no say quá rồi. Những tiếng tru đầu tiên vang lên và dội tới rồi nhanh chóng lặp đi lặp lại. Lũ sói đang tập hợp lại. Hôm đó không có trăng, nhưng ánh sao vẫn sáng tỏ trên nền tuyết. Một đám súc vật màu đen xuất hiện trên đồi sau lưng đám người đi ăn cưới. Lũ sói chạy như những vệt đen; trông chúng không lớn hơn chó nhà là mấy, nhưng phải có tới hàng trăm con.

Có gì đó xảy ra với chiếc xe đi sau cùng: người đánh xe mất lái – hẳn anh ta say quá rồi – lũ ngựa chạy trật ra khỏi đường, cỗ xe lao vào một lùm cây và bị lật sấp. Người trong xe lăn ra ngoài tuyết và con sói chạy nhanh nhất trong đám nhảy xổ vào họ. Những tiếng rít lên sau đó khiến ai cũng tỉnh cả người. Những người đánh xe đứng lên và quất roi vào ngựa. Chú rể có được toán ngựa tốt nhất và xe của anh ta cũng nhẹ nhất – toàn bộ các xe khác đều chở từ sáu đến hơn chục người.

Một người đánh xe nữa mất lái. Tiếng ngựa rít lên nghe còn kinh khủng hơn cả tiếng đàn ông và phụ nữ gào thét. Dường như không gì ngăn được lũ sói hết. Rất khó để biết được điều gì đang diễn ra ở phía sau; những người ngã lại rít lên cũng thảm thương như người đã mất rồi. Cô dâu nhỏ bé vùi mặt vào vai chú rể nức nở. Pavel ngồi bất động nhìn ngựa của mình. Con đường trống trải và trắng xóa, còn 3 con ngựa đen của chú rể cứ đi như gió. Điều duy nhất cần làm đó là bình tĩnh và điều khiển chúng thận trọng.

Cuối cùng khi chúng đi được một quãng đường dài lên một ngọn đồi, Peter cẩn thận đứng dậy quay nhìn lại. “Chỉ còn lại ba cỗ xe”, ông ấy thì thầm.

“Còn lũ sói?”, Pavel hỏi.

“Đủ cho tất cả chúng ta”.

Pavel lên đến đỉnh đồi, nhưng chỉ còn lại hai cỗ xe theo sau ông đi xuống. Trong khoảnh khắc đứng trên đỉnh đồi, họ nhìn thấy sau lưng mình một cụm màu đen như lốc xoáy trên nền tuyết. Ngay lập tức chú rể gào lên. Ông ấy nhìn thấy xe của cha mình lật nhào, trong đó có cả mẹ và chị em gái của ông. Ông ấy đứng bật dậy như thể sắp nhảy vậy, nhưng cô dâu thét lên và giữ lại. Lúc đó đã quá muộn rồi. Những cái bóng đen đã tập hợp lại đám người trên đường, một con ngựa mang theo yên cương trên mình chạy ra cánh đồng, lũ sói bám theo nó sát nút. Nhưng hành động của chú rể đã khiến Pavel nghĩ ra một ý.

Lúc này họ còn ở cách làng vài dặm. Cỗ xe duy nhất còn lại ở phía sau họ không xa lắm, và con ngựa chạy giữa của Pavel sắp chịu không nổi rồi. Peter nhìn thấy rõ là có chuyện đã xảy ra với cỗ xe kia lúc nó đến gần một cái ao đã đóng băng. Ba con sói lớn chạy sóng bước bên lũ ngựa và lũ ngựa phát điên. Chúng cố nhảy lên người nhau, bị rối dây cương và làm lật cỗ xe.

Khi tiếng gào thét sau lưng đã tắt ngấm, Pavel nhận ra rằng mình chỉ còn một mình trên con đường quen thuộc. “Chúng vẫn đuổi theo à?”, ông ấy hỏi Peter.

“Phải”.

“Mấy con?”.

“Hai mươi, ba mươi… quá đủ”.

Lúc này con ngựa chạy giữa gần như đang bị hai con kia kéo lôi đi. Pavel trao dây cương cho Peter và cẩn thận đi ra sau cỗ xe. Ông ấy gọi báo cho chú rể biết là họ phải làm cho nhẹ bớt… và chỉ về phía cô dâu. Chàng trai trẻ nguyền rủa ông và ôm cô ta chặt hơn. Pavel cố lôi cô ta ra. Chú rể đứng lên trong khi vật lộn. Pavel đẩy ông ta ngã ra khỏi cỗ xe và quẳng cô gái theo. Ông ấy nói là ông không bao giờ nhớ được chính xác là mình đã làm thế bằng cách nào hay sau đó ra sao. Peter lúc đó đang gò mình trên ghế trước nên không thấy gì hết. Điều đầu tiên mà cả hai bọn họ để ý thấy là một âm thanh mới vang lên trong không gian yên tĩnh, nó to hơn mọi thứ họ từng nghe trước đó – đó là tiếng chuông của tu viện từ làng của họ đang gióng lên bao giờ cầu kinh sớm.

Chỉ còn Pavel và Peter đánh xe vào làng, và kể từ đó họ chỉ còn một mình. Họ bỏ trốn khỏi làng. Mẹ của Pavel không chịu nhìn ông. Họ bỏ đi tới những thị trấn xa lạ, nhưng khi người ta biết được họ từ nơi nào tới, bao giờ họ cũng bị hỏi là có biết hai người đàn ông lấy cô dâu làm mồi cho sói không. Đi đâu câu chuyện đó cũng bám lấy họ. Phải mất năm năm họ mới tiết kiệm đủ tiền để đi tới Mỹ. Họ làm việc ở Chicago, Des Moines, Fort Wayne, nhưng lúc nào họ cũng gặp xui xẻo. Khi sức khỏe Pavel trở nên xấu đi nhiều, họ quyết định thử làm nông.

Pavel mất vài ngày sau cái hôm giãi bày tâm sự với ông Shimerda và được mai táng trong nghĩa trang của người Na Uy. Peter hết mọi thứ và rời khỏi vùng đi làm đầu bếp trong một trại xây dựng đường sắt nơi có nhiều người Nga được thuê.

Hôm bán đồ, chúng tôi mua cái xe cút kít của Peter và vài bộ yên cương. Trong buổi bán đấu giá, ông ấy cứ cúi đầu đi loanh quanh và không bao giờ ngước mắt lên. Dường như ông ấy không quan tâm đến gì hết. Người cho vay lãi của Black Hawk vốn vẫn đang giữ gia súc cầm cố của Peter cũng có ở đó, ông ta mua những bản ghi nhớ mua bán với giá khoảng 50 xu trên một đô la. Ai cũng nói Peter hôn con bò trước khi nó được chủ mới dẫn đi. Tôi không thấy ông ấy làm thế, nhưng có điều này tôi biết: sau khi toàn bộ đồ đạc với nào là bếp lò và xoong chảo đã bị người mua mang đi hết, khi ngôi nhà của ông đã bị lột sạch sẽ, ông ấy ngồi xuống sàn với con dao gấp và ăn toàn bộ dưa đã cất đi dành cho mùa đông. Lúc ông Shimerda và Krajiek đánh xe tới đưa Peter ra ga tàu, họ thấy ông ấy ở đó với bộ râu nhỏ nước, xung quanh là hàng đống vỏ dưa.

Việc mất đi hai người bạn khiến ông Shimerda buồn lắm. Khi ra ngoài đi săn, ông ấy thường tới ngôi nhà gỗ súc trống rỗng và ngồi đó suy nghĩ ủ ê. Đó là nơi ông ấy ẩn dật tới khi tuyết mùa đông nhốt ông trong cái hang của mình. Về phần Antonia và tôi, câu chuyện về những người đi dự dám cưới không bao giờ kết thúc hết. Chúng tôi không cho ai biết bí mật của Pavel hết mà bảo vệ nó một cách ghen tị, như thể lũ sói ở Ukraine đã tụ tập lại vào đêm đó rất lâu rồi, và hội những người đi dự đám cưới đã bị hy sinh để mang lại cho chúng tôi một niềm vui thích đau đớn kì dị. Vào ban đêm trước khi đi ngủ, tôi thường thấy mình trên một cỗ xe trượt tuyết được kéo bởi 3 con ngựa, lao vun vút qua một miền đất có phần trông giống Nebraska mà cũng lại giống Virginia.

Willa Cather (Mỹ)
Trương Thị Mai Hương (trích dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 454