Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

“Boristo Nguyễn đã bé cái nhầm” hay là trò láu của Nguyễn Huệ Chi?

Để Trả Lời Bài “Boristo Nguyễn Đã Bé Cái Nhầm” Mà Nguyễn Huệ Chi Đã Đăng Trên Diendan.org Và Sau Đó Đăng Trên Tuần Báo Vn Tp.hcm, Tôi Xin Gửi Bài Viết “Boristo Nguyễn Đã Bé Cái Nhầm” Hay Là Trò Láu Của Nguyễn Huệ Chi? Trong Đó Chỉ Rõ (Có Bằng Chứng) Việc Ông Nguyễn Huệ Chi Đạo Văn, Nói Dối Xung Quanh Chuyện Trần Tung.

 

1.Trong bài viết Có phải GS Nguyễn Huệ Chi tìm ra tên của Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Tung[1], tôi có đưa ra những bằng chứng về việc Nguyễn Huệ Chi đạo văn của Nguyễn Lang và từ đó suy ra phát hiện Trần Tung của Nguyễn Huệ Chi chỉ là kết quả ăn cắp. Trước hết, tôi xin rút lại kết luận này với lí do có chỗ sơ suất trong chứng minh. Logic của tôi rất đơn giản: nếu trong Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần[2] – bài viết công bố việc tìm ra Trần Tung vào năm 1977 mà Nguyễn Huệ Chi đạo văn từ cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (viết tắt: VNPGSL)[3] xuất bản trước đó 4 năm của Nguyễn Lang thì chứng tỏ ông đã ăn cắp kết quả của người đi trước. Vì ở xa, không có điều kiện để có bản in năm 1977, tôi nhầm nghĩ nó được in lại ở những lần sau (trong Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, NXB Giáo dục, 2013 hay tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3-4, 2014). Hai bài trùng tên nhưng khác ruột.

Ông Nguyễn Huệ Chi thấy đấy, khác với ông, những gì mình làm sai tôi sẵn sàng nhận lỗi, chứ không lấp liếm quanh co.

2. Tuy nhiên, ông Nguyễn Huệ Chi cũng đừng mừng vội! Chuyện đạo văn vẫn còn nguyên đó. Ông viết: “Trong tuyển tập in 2013 ông chỉ tìm được một đoạn phỏng dịch có 3 câu “gần như giống từng chữ từng từ” với Nguyễn Lang, chắc tên kẻ cắp sơ ý chưa xóa hết, thì trong văn bản 1977 tất ông phải tìm được nhiều hơn nhiều”[4]. Xin thưa, vì bài dài nên Văn nghệ TP.HCM cắt một nửa, phần phụ lục không đăng và chính vì vậy mà ông không nhìn thấy hết những chỗ mình đã đạo văn. Trong phần phụ lục bản đầy đủ có trích lại văn bản của hai người cũng như ghi lại 10 nhận xét về những chỗ mà Nguyễn Huệ Chi đã đạo văn. Bài viết đầy đủ có thể xem tại blog của Boristo Nguyen[1]. Và đây là tóm lược về chúng:

“Ngoài nhận xét 10 (xem Phụ lục 1) về việc 2 đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi hao hao, từa tựa nhau và nhận xét 1 chưa đủ thuyết phục, các nhận xét còn lại chia thành 3 loại sau:

1 chỗ (nhận xét 3): câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối.

4 chỗ (nhận xét 2, 7, 8, 9): câu chữ trong các đoạn văn của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi giống nhau gần như tuyệt đối, và khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b.

3 chỗ (nhận xét 4, 5, 6): nội dung/thông tin đều có trong các văn bản của Nguyễn Lang và Nguyễn Huệ Chi nhưng không có hoặc khác với trong các bản dịch Vb2a, Vb2b”.

Lưu ý: Tất cả những trùng lặp, sao chép của ông Nguyễn Huệ Chi nói ở đây chỉ là trong một đoạn văn ngắn khoảng một trang giấy với 756 chữ.

Tôi biết, Nguyễn Huệ Chi lâu nay vẫn vô tư coi chuyện sao chép của người khác mà không ghi nguồn là bình thường. Nguyễn Huệ Chi viết: “Tôi xin nhắc để Boristo Nguyen biết là trong giới dịch Hán văn trước nay, trên cùng một bản dịch, thế hệ đi sau nhiều khi mượn của thế hệ đi trước một đôi chữ đôi câu, chẳng thành vấn đề gì cả. Như trong phần dịch Thượng sĩ ngữ lục của Thiền sư Thích Thanh Từ năm 1996 mà bài ông có nhắc đến, ông sao chẳng để ý rằng nhiều bài thơ Thiền sư Thích Thanh Từ đã mượn hẳn lời dịch của chúng tôi hoặc của dịch giả Trúc Thiên. Vào đầu, Thiền sư đã dẫn tên chúng tôi cũng như tên Trúc Thiên, xem là những người đã có “những bài dịch hay công bố trước mình”. Ông mượn nó rồi sửa thêm ít nhiều, tôi nghĩ cũng chẳng sao, bởi trong kinh nghiệm dịch, chúng tôi rất biết, có những bản dịch của người trước tạm gọi là đã “thành”, muốn thay thế dăm bảy chữ thì được nhưng thay hết là bất khả” rồi sau đó để làm ví dụ đã đưa ra mấy bài thơ mà Thiền sư Thích Thanh Từ dịch lại của các ông.

Trước hết, để nhắc lại với ông Nguyễn Huệ Chi khái niệm thế nào là đạo văn tôi mượn tạm định nghĩa của GS Nguyễn Văn Tuấn[5]: “Đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình”. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc”.

Quay lại các bài thơ mà ông nhắc tới. Trong Lời đầu sách trước khi dịch lại các bài thơ Phóng cuồng ngâm, Trữ tình tự răn, Thói đời hư dối [6], Thiền sư Thích Thanh Từ đã có những dòng này: “Trước đây, ông Trúc Thiên đã phiên dịch quyển sách này từ chữ Hán ra chữ Việt và xuất bản năm 1968. Sau này trong THƠ VĂN LÝ – TRẦN tập II do Nhà xuất bản Khoa học xã hội cũng dịch ra. Hai bản dịch trên khá hay, song thỉnh thoảng có đôi chỗ không thích hợp lý Thiền. Chúng tôi nương theo hai bản dịch này, dịch lại và giảng rõ ra, cốt giúp độc giả dễ cảm nhận và dễ lãnh hội. Chúng tôi chân thành tri ân những nhà dịch trước, đã đóng góp lớn lao cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam và cho công tác gây dựng lại “TỦ SÁCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM” của chúng tôi”. Như vậy, Thiền sư Thích Thanh Từ đã chỉ rõ lí do tại sao phải dịch lại, nói đúng hơn, dịch lại những chỗ mà ông coi các bản dịch trước chưa đúng tinh thần lý Thiền. Quan trọng hơn, Thiền sư ghi nguồn, tên những người dịch trước và nói rõ là nương theo các bản dịch đã có!

Ông có thấy sự khác nhau giữa ông với Thiền sư Thích Thanh Từ? Một bên sao chép nhưng giấu nhẹm không ghi nguồn, còn bên kia ghi rõ ràng “nương theo hai bản dịch” của Trúc Thiên và Thơ văn Lý – Trần (viết tắt: TVLT)? Hay ông vẫn không thể hiểu thế nào là đạo văn?

3. Liệu có phải Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung từ năm 1973? Nguyễn Huệ Chi viết: “… Sách Thơ văn Lý – Trần Tập I đúng là in xong năm 1977, và bài viết của tôi trên Tạp chí Văn học cũng ra đời cuối tháng Tám năm đó. Nhưng đừng cố ý đánh đồng hai chuyện lại. Đối thoại với nhau trên tinh thần cốt tìm ra chân lý thì không ai phớt lờ một sự thực mà Đặng Văn Sinh đã tìm hiểu nghiêm túc và chỉ dẫn đến nơi đến chốn: tuy sách Thơ văn Lý – Trần Tập I in xong năm 1977 nhưng thực tế nó đã hoàn thành nhiều năm trước, bởi bản thảo phải trải qua nhiều khâu duyệt, khoảng cuối năm 1973 được Viện Văn học đưa sang NXB KHXH, NXB này lại đưa cho Viện Sử học đọc, đến giữa 1974 mới chuyển tới Nhà in Thống nhất. Tiếp đó đến khâu xin chữ Hán và xếp chữ Hán cực kỳ vất vả của Nhóm soạn giả cùng với công nhân xếp chữ tiếng Việt, ròng rã gần 4 năm”.

Bạn đọc đọc lại bài của Đặng Văn Sinh[7] thì sẽ thấy lập luận giống hệt của Nguyễn Huệ Chi. Có vị ở Viện Văn học còn nói với tôi: Bài viết chắc là của Nguyễn Huệ Chi nhưng nhờ Đặng Văn Sinh đứng tên. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ khác. Thứ nhất, Đặng Văn Sinh chép lại đoạn văn trong Những năm tháng với Phong Lê, bài viết của chính Nguyễn Huệ Chi đăng trên Talawas, coi đó là chân lí và là luận cứ để bảo vệ cho “thân chủ” của mình. Thêm nữa, rồi cũng chính từ việc chép lại những lời kể mà không ai có thể kiểm chứng để phát biểu giống hệt như Nguyễn Huệ Chi: “Có thể nói, ở miền Bắc Nguyễn Huệ Chi là người đầu tiên nêu nghi vấn Tuệ Trung Thượng sĩ không phải là Trần Quốc Tảng kể từ năm 1973 trong bộ sách Thơ văn Lý – Trần ở mục “Khảo luận văn bản” trang 113, 114, 115 do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1977”. Sách in năm 1977, ngoài những lời kể của chính Nguyễn Huệ Chi thì dựa vào chứng cứ nào mà Đặng Văn Sinh nói “… kể từ năm 1973”? Thế thì “một sự thực mà Đặng Văn Sinh đã tìm hiểu nghiêm túc và chỉ dẫn đến nơi đến chốn” là sự thực gì?

Như vậy, để chứng minh Nguyễn Huệ Chi là đúng Đặng Văn Sinh đã dùng lời của Nguyễn Huệ Chi. Và giờ đây, để chứng minh mình đúng Nguyễn Huệ Chi lại sử dụng “sự thật” của Đặng Văn Sinh. Hỏi thực ông Nguyễn Huệ Chi, ông có thấy hài hước không?

Quay lại câu hỏi, liệu có đúng Nguyễn Huệ Chi phát hiện ra Trần Tung vào năm 1973?

Ông Nguyễn Huệ Chi cứ cãi, cứ kể lể, đưa ra hết câu chuyện này đến câu chuyện khác để chứng minh nhưng trên thế giới chưa từng có tiền lệ công nhận các kết quả khoa học thông qua lời kể! Kết quả khoa học chỉ được xét trên cơ sở những gì đã công bố chính thức.

Trọng chứng chứ không trọng cung!

Nếu Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung năm 1973 sao suốt mấy năm liền sau đó không thấy ông đăng đàn công bố ở đâu?

Tiếp theo là về những “câu chuyện cổ tích” của ông Nguyễn Huệ Chi. Liệu có thể tin những điều mà ông kể khi không có bất cứ chứng cứ nào đi kèm? Liệu có thể tin khi mà Nguyễn Huệ Chi đã không ít lần nói dối và trí trá, chẳng hạn: TVLT tập 1 xuất bản năm 1977. Nguyễn Hưng Quốc sinh năm 1957, tốt nghiệp ĐHSP TP.HCM năm 1979, năm 1985 mới rời Việt Nam sang Pháp và năm 1991 sang Úc định cư (wiki). Thế mà Nguyễn Huệ Chi dám bịa đặt: “Ít lâu sau nữa, từ Úc châu, từ Canada, và từ Pháp, các học giả Nguyễn Hưng Quốc, Trần Văn Tích và Claudine Salmon đã viết những lời đầy khích lệ làm tôi ấm lòng”. Còn bức hình 1 dưới đây là ví dụ khác về chuyện trí trá của Nguyễn Huệ Chi.

So-534--Boristo-Nguyen-da-be-cai-nham-hay-tro-lau-cua-Nguyen-Hue-Chi---Anh-1
Hình 1: Nguyễn Huệ Chi nói dối.

Còn nhiều điều dối trá khác tôi sẽ liệt kê hầu bạn đọc trong một bài tiếp theo để trả lời bài Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen[8] mà Nguyễn Huệ Chi đã đăng trên trang diendan.org.

Với một người hay trí trá, nói dối như vậy thì lấy cơ sở nào để tin vào những điều Nguyễn Huệ Chi kể?

Quay lại với những lời kể lể của Nguyễn Huệ Chi: “… tuy sách Thơ văn Lý – Trần tập I in xong năm 1977 nhưng thực tế nó đã hoàn thành nhiều năm trước, bởi bản thảo phải trải qua nhiều khâu duyệt, khoảng cuối năm 1973 được Viện Văn học đưa sang NXB KHXH, NXB này lại đưa cho Viện Sử học đọc, đến giữa 1974 mới chuyển tới Nhà in Thống nhất. Tiếp đó đến khâu xin chữ Hán và xếp chữ Hán cực kỳ vất vả của Nhóm soạn giả cùng với công nhân xếp chữ tiếng Việt, ròng rã gần 4 năm. Phần viết 2 trang rưỡi về Trần Tung và Thượng sĩ ngữ lục trong Khảo luận của tôi cũng in đầy chữ Hán giản thể, chứng tỏ nó đã xong cùng toàn bộ bản thảo một lần. Không thể giả thiết 2 trang rưỡi này “chèn thêm vào sau” vì: 1. Chữ Hán giản thể là xin của báo Tân Việt Hoa thuộc ĐSQ Trung Quốc giữa 1974. Sau 1975, khi Khmer Đỏ trở về Campuchia và gây rối biên giới Việt Nam kể từ ngày 2, nhất là ngày 4-5-1975 đánh chiếm ngay đảo Phú Quốc, thì quan hệ với ĐSQ Trung Quốc trở nên căng thẳng, cán bộ bình thường đến đó giao thiệp không được nữa nếu không có lệnh từ cấp cao. Muốn xin chữ Hán tất nhiên cũng bó tay. 2. Sách in hiện đang còn, cứ nhìn chữ in không xộc xệch, không hàng nào xô lệch đến mất cân đối thì biết, khó có một người nào đủ khả năng phù phép để nhét thêm 2 trang rưỡi vào cho 632 khuôn chì đã xếp chữ gần như trọn vẹn, chuẩn bị đưa lên máy in, trừ phi tháo dỡ hết cả ra (phần Khảo luận của tôi lại nằm ở ngay đầu). Hãy thanh thỏa với nhau chuyện ấy cho gọn đi”.

Thú thực tôi phải khâm phục cái tài của ông Nguyễn Huệ Chi khéo kể chuyện cổ tích, dẫn dụ người đọc đi theo ý của mình. Tôi có hỏi chị L., người học chuyên ngành in và có mấy chục năm công tác tại các nhà in Tiến Bộ, Diên Hồng trước nghỉ hưu. Những bước cơ bản của việc sắp chữ sơ bộ như thế này: tùy theo máy in lớn nhỏ mà người ta ghép 8, 6, 32… trang in vào 1 khuôn. Các trang được tạo từ bát chữ. Thợ sắp chữ xếp các con chữ vào bát chữ và sau đó dùng dây để buộc thật chặt, cố định bát chữ. Tiếp theo là bước dàn trang, xếp các trang và bát chữ vào các khuôn. Với hình ảnh, sơ đồ hay hình vẽ người ta có thể chụp phim rồi phơi bản kẽm. Các bản kẽm này được xếp cùng với các con chữ trong các bát chữ, tùy theo nội dung của trang sách.

Để nhét thêm 2 trang rưỡi không cần phải tháo dỡ toàn bộ 632 trang ra làm lại từ đầu! Để chèn 2 trang rưỡi này phải làm các việc sau:

1) Sắp lại chữ các trang tính từ trang chèn cho đến hết trang mà trang tiếp theo bắt đầu lại từ đầu trang, không quan trọng trang trước đó có đầy trang hay không. Cụ thể trong trường hợp này: nếu chèn 2,5 trang vào trang 113 của TVLT tập 1 thì sẽ chỉ phải xếp chữ từ trang 113 cho đến hết trang 136 nếu coi trang 137 (BẢNG III: về thơ) được bắt đầu lại từ đầu. Như vậy chỉ phải sếp chữ lại có 24 trang. Nếu không muốn thì cũng chỉ phải sắp chữ lại cho đến hết trang 139 (mục mới của Khảo luận văn bản), thêm 3 trang nữa.

2) Dàn lại trang: chuyển dịch tịnh tiến các trang và bát chữ vào các khuôn theo trật tự mới; gắp rút ra và thay lại số trang theo số thứ tự mới. Thông thường việc dàn lại trang mất không quá ½ số thời gian sắp chữ.

Như vậy, ai bảo để chèn trang phải dỡ ra làm lại từ đầu?

Thêm nữa, khi tôi gửi cho chị bạn xem cuốn TVLT tập 1 và hỏi: Liệu có chuyện “Nhóm soạn giả cùng với công nhân xếp chữ tiếng Việt, ròng rã gần 4 năm”? Chị cười và nói: “Nếu vậy thì nhà in ăn cháo à?”. Chị nói thêm mấy ý: 1) Không có chuyện tác giả vào cùng xếp chữ với công nhân, đơn giản vì không có tay nghề. Một trong những điều rất khó là người sắp chữ phải biết đọc chữ ngược, xếp từ bên phải qua. Như vậy, không phải cứ biết chữ Hán là có thể đọc được chữ ngược. Nhà in họ có các công nhân chuyên sắp chữ cho các tiếng nước ngoài. 2) Cỡ cuốn TVLT (tập 1) này thì xếp chữ hết khoảng 1 tuần, nhiều lắm là 2 tuần. Khi tôi hỏi lại, liệu có thể nhiều hơn, hết vài năm hay cả năm không? Chị nói, cùng lắm là một vài tuần chứ không có chuyện kéo dài hàng tháng, hay cả năm. Chị nhắc lại: “Nếu mất cả năm trời thì nhà in có mà ăn cháo!”.

Tôi thì cứ lại nghĩ, chắc ông Nguyễn Huệ Chi khéo nói nên nhà in Thống Nhất họ cử một đội công nhân mấy năm không làm gì mà chỉ chuyên phục vụ chơi trò sắp chữ với nhóm tác giả TVLT của ông. Tính thô: 632 trang, sắp hết 4 năm, mỗi năm 365/366 ngày kể cả ngày nghỉ ngày lễ, mỗi ngày sắp chưa được 1 trang? Nghe có vẻ giống như chuyện Những người thích đùa của Aziz Nesin?

Cứ theo cái cách của Nguyễn Huệ Chi thì mỗi lần in ấn có chữ Hán lại phải chạy sang ĐSQ TQ xin chữ và khi quan hệ hai nước căng thẳng thì bó tay? Nếu vậy thì ngay TVLT tập 3 in năm 1978 hay các ấn phẩm khác lấy đâu ra chữ mà sắp, theo ông?

Nguyễn Huệ Chi viết: “bản thảo phải trải qua nhiều khâu duyệt, khoảng cuối năm 1973 được Viện Văn học đưa sang NXB KHXH… đến giữa 1974 mới chuyển tới Nhà in Thống nhất” nhưng cuối Lời nói đầu của TVLT tập 1 lại ghi rõ 30 tháng 12 năm 1974 (xem hình 1 ở trên). Điều này được hiểu thế nào? Hoặc là ông nói dối, hoặc là khi đưa bản thảo qua nhà xuất bản hay thậm chí qua nhà in mà chưa có Lời nói đầu? Một cuốn sách đồ sộ, một công trình trọng điểm của Viện Văn học dưới sự chỉ đạo chặt chẽ theo như ông nói, lại qua nhiều khâu duyệt mà bản thảo đưa tới tận nhà in không có Lời nói đầu? Lời nói đầu nằm ngay đầu cuốn sách, mà theo ông nói “khó có người nào đủ khả năng phù phép để nhét thêm” thì nó chui vào sách bằng cách nào?

Nói dối thì cũng phải sao cho khớp chứ thưa ông Nguyễn Huệ Chi!

Hình dưới là thêm một bằng chứng nữa về việc Nguyễn Huệ Chi nói dối. Trong hai năm 1973-1974, các ông còn đang tìm tòi tư liệu thì làm sao TVLT tập 1 đã qua nhiều khâu duyệt và đưa sang NXB KHXH cuối năm 1973?

So-534--Boristo-Nguyen-da-be-cai-nham-hay-tro-lau-cua-Nguyen-Hue-Chi---Anh-2
Hình 2: Nguyễn Huệ Chi lại nói dối.

4. Nguyễn Huệ Chi tiếp xúc với kết quả của Nguyễn Lang khi nào?

Nguyễn Huệ Chi quanh co, bịa đặt để người đọc lầm tưởng rằng ông đã tìm ra Trần Tung từ năm 1973. Tại sao lại là 1973 mà không phải là năm khác, 1974 hay 1975 chẳng hạn? Tôi nghĩ, chắc không phải Nguyễn Huệ Chi chọn vu vơ mà là có chủ ý. Năm 1973 Nguyễn Lang (Thiền sư Thích Nhất Hạnh) trong cuốn VNPGSL (NXB Lá Bối) đã công bố việc tìm ra được Tuệ Trung Thượng sĩ chính là Trần Quốc Tung, anh cả chứ không phải là Trần Quốc Tảng con lớn của Trần Hưng Đạo. TVLT tập 1, trong đó Nguyễn Huệ Chi công bố tìm ra Trần Tung in năm 1977. Một câu hỏi dễ được đặt ra là liệu có phải Nguyễn Huệ Chi đã được đọc VNPGSL và biết được phát hiện của Nguyễn Lang trước đó? Câu hỏi là tự nhiên vì các lí do: 1) Nguyễn Huệ Chi công bố sau Nguyễn Lang 4 năm; 2) Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất giới khoa học miền Bắc được tiếp xúc với các tài liệu và kết quả khoa học của miền Nam, chưa nói đến chuyện ngay cả trước 1975 sự trao đổi sách báo giữa hai miền hay giữa Bắc Việt Nam và người Việt ở Pháp tuy rất ít nhưng vẫn có; 3) Nguyễn Lang có một vị thế và uy tín rất lớn trong giới khoa học xã hội. Chính vì vậy mà nhiều người có thể đặt câu hỏi về việc phát hiện Trần Tung của Nguyễn Huệ Chi.

Cây ngay không sợ chết đứng! Nếu ông Nguyễn Huệ Chi thực sự tự mình tìm ra Trần Tung thì cần gì phải bịa ra chuyện này chuyện khác để rồi “gậy ông lại đập lưng ông”? Phải chăng xuất phát từ “linh cảm khác thường” hay từ cái complex (phức cảm tự ti) lo sợ người khác nghi ngờ về tính trung thực của mình?

Đẩy lùi “phát hiện” về năm 1973 mới là một cách. Ông còn có nhiều cách khác để gây hỏa mù nhằm dẫn lái người đọc khỏi sự nghi ngờ về tính trung thực khoa học của mình.

Chắc bạn đọc đều đồng ý với tôi về những điều sau:

* Tìm kiếm mau hay lâu, nhưng tìm thấy chỉ xảy ra ở một thời điểm! Trước thời điểm đó là chưa thấy, sau thời điểm đó là đã tìm thấy.

* Nếu người khác đã tìm thấy và người đi sau đã biết đến kết quả thì không thể lại tìm thấy một lần nữa. Vật đã thấy rồi thì còn tìm thấy cái gì? Hơn nữa, nếu “tác giả” giấu chuyện đã được biết kết quả trước đó và vẫn tuyên bố mình tự tìm ra một cách độc lập thì đó là vi phạm đạo đức khoa học.

Vậy câu hỏi sẽ là: Nguyễn Huệ Chi đã được làm quen với kết quả mà Nguyễn Lang công bố trong VNPGSL (1973) khi nào, trước hay sau khi “phát hiện” ra Trần Tung?

Việc Nguyễn Huệ Chi được thâm nhập rất sớm với VNPGSL nhiều đồng nghiệp của ông có biết. Trong các lần tái bản VNPGSL tập 1 do NXB Văn học phát hành (1992, 1994) có ghi: “Chúng tôi còn được giáo sư Nguyễn Huệ Chi, người từng có điều kiện thâm nhập hai tập Việt Nam Phật giáo sử luận từ rất sớm, vui lòng viết Lời giới thiệu in vào đầu trang sách cũng như soát kỹ lại bản thảo”. Bản thân ông cũng có nói đến điều này không chỉ một lần. Vấn đề là thời điểm! Thực tình, thời điểm khi nào chỉ một mình ông biết. Tuy nhiên, các phát biểu của Nguyễn Huệ Chi về vấn đề này thường xuyên bất nhất và có nhiều điểm dễ gây nghi ngờ. Có cảm giác Nguyễn Huệ Chi một mặt thì cố tỏ ra công khai là mình biết kết quả của Nguyễn Lang, nhưng mặt khác lại cố tình đẩy lùi thời điểm ra sau khi “phát hiện” ra Trần Tung (TVLT tập 1 in xong ngày 20-8-1977).

Nếu thực sự Nguyễn Huệ Chi tìm ra Trần Tung trước khi biết đến VNPGSL của Nguyễn Lang thì việc gì ông cứ quanh co, mỗi lần nói một khác?

Trong Lời giới thiệu của VNPGSL tập 1 (NXB Văn học, 1994, trang 19, chú thích 2), Nguyễn Huệ Chi viết: “Người viết bài này, mặc dù không có hân hạnh quen biết tác giả, vào cuối năm 1978 cũng nhận được 2 tập sách gửi qua Bộ Ngoại giao đến NXB Khoa học xã hội (là nơi in xong Thơ văn Lý – Trần, tập I) với lời đề tặng trân trọng”.

So-534--Boristo-Nguyen-da-be-cai-nham-hay-tro-lau-cua-Nguyen-Hue-Chi---Anh-3
Hình 3. Nguyễn Huệ Chi nói được nhận sách VNPGSL do Nguyễn Lang tặng vào cuối năm 1978.

Còn đây là bức thư gửi giáo sư Hoàng Xuân Hãn do Viện trưởng Viện Văn học Hoàng Trung Thông ký ngày 23-6-1978.

So-534--Boristo-Nguyen-da-be-cai-nham-hay-tro-lau-cua-Nguyen-Hue-Chi---Anh-5
Hình 4. Thư gửi GS Hoàng Xuân Hãn, ngày 23-6-1978.

Chúng ta thấy gì qua bức thư này?

* Trong thư ký ngày 23-6-1978 chỉ rõ Nguyễn Huệ Chi trước đó đã được nhận sách tặng, thời điểm phải trước ngày 23-6-1978 chứ không thể là cuối năm 1978. Chẳng nhẽ Nguyễn Lang hứng chí gửi tặng thêm lần nữa?

* TVLT tập 1 in xong 20-8-1977, Nguyễn Huệ Chi nhận sách tặng nửa đầu năm 1978. Sách in xong, phải làm các thủ tục này nọ, đưa vào hệ thống phát hành, ai đó biết được mua sách gửi sang Pháp cho Nguyễn Lang, rồi ông đọc thấy tâm đắc và gửi sách về Việt Nam tặng lại Nguyễn Huệ Chi. Sách thì dày, đọc chắc không nhanh như tiểu thuyết. Đây là một quá trình qua nhiều công đoạn và thường mất không ít thời gian. Tất nhiên, mọi chuyện đều có thể nhưng quá trình nói trên xảy ra trong quãng thời gian chỉ hơn nửa năm thì đó là một tốc độ kỷ lục! Ta cũng nên nhớ, thời kỳ đó chuyện quan hệ với nước ngoài ở miền Bắc Việt Nam là không hề đơn giản và phải được phép của tổ chức. Bức thư trên chứng tỏ điều này.

* Như vậy, Nguyễn Huệ Chi tiếp cận với VNPGSL là qua sách tặng của Nguyễn Lang chứ chẳng có đồng chí nào mách như ông kể: “Gần đây, có đồng chí mách cho biết: trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (Lá Bối; Sài Gòn; 1974), Nguyễn Lang cũng có ý kiến giống chúng tôi về tác giả đích thực của Thượng sĩ ngữ lục”[2]. Hơn nữa cũng chẳng có chuyện “định kiến Thích Nhất Hạnh là “tên biệt kích văn hóa thực dân mới” (cùng một giọng như Đặng Văn Sinh – BN thêm) đến những năm này rồi vẫn cứ còn lởn vởn trong nhiều đầu óc” để Nguyễn Huệ Chi “đánh bạt đi” [4] .

Trong bài “Boristo Nguyễn đã bé cái nhầm”, Nguyễn Huệ Chi lại đưa ra thời điểm khác: “Nói thêm cho Boristo Nguyen rõ: Trong bài viết đăng trên Tạp chí Văn học năm 1977, tôi đã đọc Nguyễn Lang. Tôi đọc cả bản dịch Thượng sĩ ngữ lục của Trúc Thiên do Lá Bối, Sài Gòn, in năm 1969. Ông hãy đi lục tìm hồ sơ ở Vụ Tổ chức UBKHXH thì may ra tìm được: đầu tháng 8-1977, người bố của tôi được điều động từ Sài Gòn ra công tác ở Ban Hán Nôm. Ông ra, mang cả sách ra cho tôi. Tuy mới đọc vội, tôi đã chú thích Nguyễn Lang ngay trên trang đầu bài viết, cốt thông báo với toàn giới nghiên cứu Cổ cận đại tin tức nóng hổi này…” [4]. Thời điểm đưa ra lần này là sớm hơn (tuy vẫn trong ngưỡng an toàn) vào đầu tháng 8-1977. Tuy nhiên, điều ông kể cũng chẳng có gì làm bằng chứng. Ngược lại, người đọc dễ có chút nghi ngờ liệu ông Nguyễn Huệ Chi có lại nhớ nhớ quên quên rồi ”nhầm” thời điểm hay không? Bài viết Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý – Trần được đăng trên Tạp chí Văn học số 4 cho hai tháng 7 và 8-1977. Thường để đăng trên tạp chí khoa học tác giả phải gửi bài trước đó khá lâu rồi qua các khâu duyệt, biên tập, đưa vào nhà in sắp chữ, in ấn. Sách mang ra đầu tháng 8. Lần đầu tiên có sách không biết nội dung trong đó có gì, muốn biết phải đọc. Đọc sách, thấy thông tin cần thiết muốn bổ sung phải đưa Tòa soạn để sửa bài rồi lại ”tháo dỡ toàn bộ khuôn đã xếp chữ” để in, ông Nguyễn Huệ Chi nhớ chưa? Lại là một tốc độ kỷ lục! Chắc Tạp chí Văn học làm việc tùy tiện chẳng cần qui trình mà các tạp chí khoa học vẫn làm?

Thời điểm chính xác mà Nguyễn Huệ Chi lần đầu được tiếp xúc với VNPGSL có lẽ chỉ có một mình ông biết. Những điều trình bày ở mục này chưa đủ để xác định thời điểm mà Nguyễn Huệ Chi biết được kết quả của Nguyễn Lang. Tuy nhiên, những bất nhất, mâu thuẫn và những điều không bình thường trong các phát biểu của Nguyễn Huệ Chi đã làm người đọc nghi ngờ về sự trung thực của ông.

Boristo Nguyen,
Moscow, tháng 1-2019

(Xem tiếp kỳ sau)

Boristo Nguyen
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 534

————-
1. Boristo Nguyen. Có phải GS Nguyễn Huệ Chi tìm ra tên của Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Tung? Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, số 375, 29-11-2018. Bản đầy đủ xem tại Blog: boristonguyen.wordpress.com.
2. Nguyễn Huệ Chi. Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý – Trần. Tạp chí Văn học, số 4, tháng 7 và 8-1977.
3. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. Chương 11: Tuệ Trung Thượng sĩ. NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1973.
4. Nguyễn Huệ Chi. Boristo Nguyễn đã bé cái nhầm. Diễn đàn (Diendan.org), 11-12-2018, in lại tại Văn nghệ TP.HCM, số 530, 27-12-2018.
5. Nguyễn Văn Tuấn. Đạo văn trong hoạt động khoa học. Vietsciences, 16-11-2007.
6. H.T. Thích Thanh Từ. Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục giảng giải. 1996.
7. Đặng Văn Sinh. Giáo sư Huệ Chi “đạo văn” hay là nhà phê bình Nguyễn Hòa vu khống? Diễn đàn (www.diendan.org). 13-11-2013.
8. Nguyễn Huệ Chi. Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen. Diendan.org, 30-9-2018.

Ý Kiến bạn đọc