Tản văn

Bông hồng bên hồ Gươm

Nếu người Tràng An thanh lịch như thể hoa nhài, thì phụ nữ Hà thành chính là sắc, là hương của hoa. Con gái Hà Nội lạ là thế, cuộc sống càng khó khăn, hiểm nghèo thì vẻ đẹp càng rạng rỡ… Cụ Phạm Thị Hồng, vợ nhà hoạt động cách mạng quá cố Nguyễn Kim Cương, chị ruột vợ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bạn thân vợ Đại tướng Võ Nguyên Giáp là con người như thế. Cụ Hồng năm nay tròn 108 tuổi, sống khỏe mạnh, vui tươi và rất minh mẫn tại số nhà 70 – đường Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Trong tiết trời thu tháng 8, dưới bóng cây cơm nguội vàng, cụ Hồng bồi hồi xúc động nhớ lại những kỉ niệm về một thời tuổi xuân của mình.

Cách đây 108 năm (1909), khi sinh ra cô bé Phạm Thị Hồng thì ngôi nhà 37 – phố Cầu Gỗ (xưa gọi là phố Phơranxi Ganiê) đã có từ thời ông nội. Bố của Phạm Thị Hồng là Phạm Quang Hưng làm Phán dây thép ở bưu điện bờ hồ, ông là một công chức giỏi thời Tây nhưng có tinh thần yêu nước nồng nàn; mẹ là Nguyễn Thị Nhung. Ông bà sinh hạ được 12 người con (5 trai, 7 gái) đều chăm ngoan, học giỏi và sớm có tinh thần giác ngộ cách mạng. Đặc biệt, 7 cô con gái đều rất xinh đẹp, thông minh, vui tính và được mang những cái tên của các loài hoa: Hồng, Nga, Lan, Na, Mai, Cúc, Thu – Phạm Thị Hồng là “bông hoa” nổi trội hơn cả.

Thời đó, ngôi nhà 37 – Cầu Gỗ của dòng họ Phạm Quang rất ít được mọi người biết đến. Nhưng bắt đầu từ câu chuyện, người anh trai thứ tư của Phạm Thị Hồng là Phạm Quang Chúc. Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, anh Chúc tham gia Việt Nam quốc dân Đảng. Vì có tinh thần yêu nước và luôn nêu cao tư tưởng chống Pháp nên đã bị địch bắt cùng với Nguyễn Thái Học, rồi bị đày ra Côn Đảo năm 1930. Trong tù, anh Chúc được giác ngộ cách mạng và kết bạn với các đảng viên Cộng sản tiền bối như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương…

Cu-Pham-Thi-Hong---Anh-1
Cụ Phạm Thị Hồng.

Năm 1936, do bị áp lực từ phía mặt trận Bình dân Pháp đang thắng thế ở chính quốc, buộc chính quyền thực dân tại Việt Nam phải trả tự do cho các tù nhân chính trị ở Côn Đảo. Vì đã kết nghĩa huynh – đệ, “trích máu ăn thề” ở trong tù, nên khi được phóng thích về với gia đình, Phạm Quang Chúc đã nảy ra ý định xin phép cha cho các bạn tù chính trị là các anh: Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Tuấn Thức, Ba Ngọ, Đình Nhu… cùng được về ở tại nhà mình (37 – Cầu Gỗ), mục đích tìm công ăn việc làm để hoạt động cách mạng. Cảm kích trước chí khí cách mạng của các chàng trai trẻ và vui mừng về sự trưởng thành của con trai mình, ông Hưng không những đã chấp thuận ngay lời đề nghị đó mà còn sẵn sàng giúp đỡ họ vô điều kiện. Từ đó, gia đình ông Phạm Quang Hưng đã trở thành “địa chỉ đỏ” thời kháng chiến chống thực dân Pháp ở thủ đô Hà Nội. Ngôi nhà 37 – Cầu Gỗ nay được xếp hạng di tích lịch sử và gắn biển “Là cơ sở bí mật của phong trào yêu nước ở Hà Nội từ năm 1930 đến năm 1945”.

Từ cái nết được cha mẹ uốn nắn ngay ở trong nhà, khi ra ngoài xã hội, Phạm Thị Hồng luôn là người con gái kín đáo, ý nhị, lịch thiệp, mềm mỏng và giàu lòng tự trọng. Cô đã chủ động liên hệ để những người bạn của anh trai mình được học nghề làm bánh, làm kem và mở hiệu tại bờ hồ Hoàn Kiếm, sau này trở thành hiệu kem nổi tiếng với cái tên Zêphie (Zephyr). Lúc đó, Phạm Thị Hồng bắt đầu cảm nhận, các chiến sĩ cách mạng ở nhà cô họ rất tử tế, lịch thiệp và vui tính. Anh Tô (Phạm Văn Đồng) ở trên gác xép, chăm chỉ viết báo, anh Nguyễn Kim Cương cũng vậy. Sau những giờ phút hoạt động bí mật, các anh lại tranh thủ ra bờ hồ để bán kem, bồi bàn, nói tiếng Pháp làu làu, khiến cho bọn Tây cũng phải nể phục. Có điều lạ, hầu như 7 chị em gái của cụ Hồng lúc đó cô nào cũng muộn chồng không phải vì thua tài, kém sắc mà thời đó đã không ít các chàng trai Hà thành đều là những trí thức, con nhà danh giá để mắt đến, nhưng không có một cô gái họ Phạm nào bằng lòng, bởi cái “mốt” của con gái Hà Nội lúc bấy giờ vẫn thích những thanh niên có ý chí cách mạng hơn là giàu sang phú quý.

Tình cảm gia đình và tình cảm cách mạng luôn là động lực thôi thúc trái tim người con gái Hà thành, Phạm Thị Hồng đã đem lòng yêu thương và kết duyên với chàng trai xứ Nghệ Nguyễn Kim Cương. Mặc dù ở Hà Nội hồi đó, việc cưới xin đều phải tuân thủ theo đúng phép tắc của các nghi thức cổ, nhưng vì thương mấy anh cách mạng nên ông Hưng đã miễn tất cả, từ việc ăn hỏi, trầu cau, đến lễ tơ hồng… song đám cưới của họ vẫn rất vui vẻ, cô dâu mặc áo dài đỏ, chú rể mặc áo thụng màu lam, thật xứng đôi “trai thanh, gái lịch”. Đến năm 1946, nhà cách mạng Phạm Văn Đồng đã làm lễ thành hôn với cô Phạm Thị Cúc (cô thứ 6). Tiếp theo đó, hai cô: Phạm Thị Mai và Phạm Thị Thu cũng lần lượt tổ chức lễ cưới với hai thanh niên kháng chiến: Tạ Văn Nho và Lê Kim Ánh.

Từng là đồng chí của nhau, nay lại trở thành anh em trong một gia đình như động lực to lớn, giúp các chiến sĩ cách mạng vượt qua được muôn vàn khó khăn thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Bác Hồ giao phó. Có một điều thú vị, trong mối quan hệ gia đình ở số nhà 37, mặc dù là em rể nhưng chưa khi nào cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi bà Phạm Thị Hồng là chị, mà vẫn một mực gọi “cô Hồng”, cách xưng hô đó nghe thật tình cảm và thân thiết, giống như ngày đầu mới gặp, ngược lại bà Hồng cũng luôn gọi người em rể của mình là anh Tô, hoặc anh Đồng.

Sau-chi-em---Bong-hong-ben-Ho-Guom---Anh-1
Sáu chị em – “Bông hồng bên hồ Gươm”.

Trong số bạn bè thân thiết của Phạm Thị Hồng, có Nguyễn Quang Thái, em ruột của Liệt sĩ Nguyễn Thị Minh Khai. Chị Nguyễn Quang Thái vốn là sinh viên trường Bưởi và là vợ đầu của anh Võ Nguyên Giáp. Một hôm, chị Thái nhìn thấy lá cờ tam sắc treo ở trên cột, vì căm ghét thực dân Pháp, chị đã thốt lên một câu như chửi thẳng vào mặt chúng: “Cờ gì mà trông như cái đuôi chó vậy”, không ngờ có tên chỉ điểm đứng cạnh, chị Thái đã bị giặc bắt và phải chịu những trận đòn tra tấn hết sức dã man, dẫn tới băng huyết rồi chết tại Bệnh viện Bạch Mai. Biết tin, Phạm Thị Hồng đến lo liệu việc khâm liệm và tiễn đưa vợ anh Giáp về nơi an nghỉ cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn.

Một câu chuyện tình cờ đầy cảm động. Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1975), trong đoàn cán bộ của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc đó vào tiếp quản Sài Gòn có ông Sáu Chức, là chỗ thân tình với gia đình cụ Phạm Thị Hồng. Trong khi làm nhiệm vụ tiếp quản tại nha cảnh sát Ngụy, ông Chức phát hiện thấy trong tập hồ sơ “danh sách các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam” có một tấm hình đen trắng cỡ 18 x 24, chụp năm 1938 tại hiệu ảnh bờ hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội. Điều đặc biệt là, 6 cô con gái nhà ông Phạm Quang Hưng trong bức ảnh thì cả 6 cô đều bị đánh số ở trên trán?

Lần dở từng trang hồ sơ của sở mật thám Pháp chuyển giao cho chính quyền Mỹ – Ngụy ở Sài Gòn, ông Sáu Chức rất ngạc nhiên và bất ngờ về những dòng chữ được ghi bằng tiếng Pháp ở phía sau tấm hình như một lời chú thích: “Những đối tượng thân cộng sản theo số thứ tự: Phạm Thị Nga (số 1); Phạm Thị Mai (số 2); Phạm Thị Cúc (số 3)…”. Đặc biệt phần cuối có dòng chữ đậm: “Phải theo dõi chặt chẽ nhân vật số 06 – Bông Hồng bên hồ Gươm” (tức Phạm Thị Hồng).

Năm 1938 (lúc đó Phạm Thị Hồng tròn 30 tuổi), sau khi kết hôn với nhà hoạt động cách mạng Nguyễn Kim Cương. Một hôm, Hồng rủ các em gái của mình là: Phạm Thị Nga, Phạm Thị Lan, Phạm Thị Na, Phạm Thị Mai và Phạm Thị Cúc (lúc đó chưa sinh cô thứ 7 – Phạm Thị Thu) ra bờ hồ Hoàn Kiếm để chụp chung tấm hình làm kỷ niệm. Không ngờ, bọn mật thám Pháp theo dõi, chúng yêu cầu chủ hiệu ảnh phóng thêm một tấm và trả với giá tiền cao gấp 5 lần.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Việt Nam, bọn thực dân phản động thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Theo chỉ thị của Trung ương, các đảng viên Cộng sản hoạt động bán công khai ở Hà Nội dần dần lui vào hoạt động bí mật. Từ năm 1943, ông Nguyễn Kim Cương đưa vợ con vào Sài Gòn, sang Phnôm Pênh, rồi từ Phnôm Pênh trở lại Sài Gòn. Dù đi đến đâu, chân trời hay góc bể, nhưng bà Hồng vẫn cùng chung vai gánh vác với chồng, tần tảo nuôi 5 đứa con để ông yên tâm hoạt động cách mạng. Toàn quốc kháng chiến (1946), ông Cương đi chiến khu, bà Hồng ở lại Sài Gòn tổ chức trạm giao liên, xây dựng cơ sở cách mạng ở nội thành. Sau đó, bà về Bạc Liêu, rồi ra chiến khu cùng chồng (lúc đó ông Cương làm Phó giám đốc, kiêm Bí thư Hiệu ủy trường Cán bộ Đảng Cao cấp Trường Chinh và Phó Giám đốc Sở Giáo dục Nam bộ, sau này giữ chức Thứ trưởng Phủ Thủ tướng (nay là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao).

Năm 1953, theo chủ trương của Trung ương Cục Miền Nam, bà Phạm Thị Hồng được đồng chí Hà Huy Giáp giao nhiệm vụ đặc biệt, đưa đoàn vợ con của các đồng chí cán bộ từ Bạc Liêu ra chiến khu Việt Bắc. Tại đây, bà Hồng vinh dự được gặp Cụ Hồ và được phân công làm việc ở Văn phòng Trung ương Đảng. Cho đến khi hòa bình lập lại (1954), ông bà cùng Trung ương trở về Hà Nội, về với phố xưa nhà cổ.

Trọn một thế kỷ, có biết bao biến cố sự đời trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, nhưng đến hôm nay cụ Phạm Thị Hồng vẫn sống vui, sống khỏe, có lẽ một phần là do lòng cụ chan chứa yêu thương, yêu người, yêu đời, yêu cuộc sống, nên đã giúp cụ nuôi dạy 5 người con khôn lớn, trưởng thành, như bài thơ cụ tặng chúng tôi trước lúc chia tay: “Trải ngoại trăm năm gội nắng mưa / Xót dạ không còn lớp bạn xưa / Ơn trời cho được bầy cháu chắt / Ngẫm lại đời mình tự tuổi thơ / Qua bao sương gió thân còn sót / Kể chuyện vui cười con cháu ưa / Nội – Ngoại phong cho cây “cổ thụ” / Còn ngày, còn hưởng khúc xuân đưa”.

Ngô Văn Học
(Sóc Sơn – Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 480

Ý Kiến bạn đọc