Tản văn

Bồng bềnh “Hồ trên núi”

Thấm thoắt đã 15 năm, kể từ chuyến đi vùng cao năm 2003 để hoàn thiện các thủ tục công nhận đạt chuẩn phổ cập quốc gia độ tuổi trung học cơ sở trong toàn huyện, nay tôi mới có dịp trở lại nơi này. Một vùng đất đã đọng trong tôi những kỷ niệm gian nan mà ngọt ngào…

Vừa đặt chân tới Cầu Sắt, cửa ngõ của xã Sơn Hải, chợt nghe tiếng gọi háo hức: “Cô lên trên này à? Lâu lắm rồi mới gặp cô”… Ôi, bác Phiến! Gia đình ở ven hồ Cấm Sơn, nhưng thời trung niên một lần bác đi rừng bị ngã gãy chân nên đi lại khó khăn, từ đó bác ra “cổng làng” này bán hàng nước rau cháo đỡ gia đình vừa làm người đón khách nơi xa tới thăm làng. Lúc còn công tác, mỗi bận lên đây, tôi đều ghé vào quán bác, uống hớp nước vối nóng ủ trong giành tích, nghe bác kể những câu chuyện về núi Ba Hòn, núi Kỉn, suối Mọc, suối Vảy Rồng, suối Cấm, đảo Lăn Lóc… của vùng hồ Cấm Sơn như những huyền thoại. Mỗi chuyện bác kể là sự tái hiện vẻ đẹp, những hiểm trở của núi rừng và niềm khát khao chinh phục thiên nhiên, vươn tới cuộc sống đủ đầy của con người. Lâu dần thành quen, hễ lên Sơn Hải là tôi phải ghé vào bác cho đỡ nhớ người, nhớ chuyện.

Dòng Cấm Sơn khởi nguồn từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến huyện Lục Ngạn thì được chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn nằm trong địa bàn 4 xã Sơn Hải, Hộ Đáp, Tân Sơn và Cấm Sơn (4 trong 12 xã vùng cao và khó khăn của huyện Lục Ngạn). Người dân 4 xã nơi đây đều thông thuộc những số liệu liên quan: Hồ Cấm Sơn có diện tích bề mặt khoảng 2.650 ha. Vào mùa mưa, nước dâng lên nhiều, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ tới 30km, bề rộng có nơi tới 7 km, còn chỗ hẹp nhất khoảng 200m. Lòng hồ nơi sâu nhất gần 50m. Nhớ những lần đầu mới đến 1 trong 4 xã kể trên, tôi chỉ dám đứng trên đồi, phóng tầm mắt ra xa, thấy mênh mang một màu nước xanh thẳm.

Qua Ủy ban xã, chúng tôi vào trường Trung học cơ sở Sơn Hải. Ngày chủ nhật nên chỉ còn nhóm giáo viên xa nhà ở lại. Các thầy giáo trẻ Hùng, Sơn và Thanh dẫn khách xuống lối mòn rồi tháo xích kéo con thuyền neo sẵn vào một gốc cây. Làn gió nhẹ lướt qua thổi bay những sợi tóc mai vương bên má, vậy mà cũng làm sóng gợn lên, thuyền khẽ chòng chành… Rồi thuyền chạy êm dần trên sóng. Cảm giác sờ sợ trong tôi dần biến mất, nhường chỗ cho sự ngỡ ngàng trước không gian của lòng hồ ngày càng rộng mở. Máu phiêu lưu, bản chất ham tìm hiểu trong tôi nhanh chóng bắt đầu… Dù đã biết lòng hồ lọt giữa 4 xã Sơn Hải, Hộ Đáp, Tân Sơn và Cấm Sơn, nhưng tôi không tưởng tượng được là bờ của hồ lại chính là những ngọn núi trùng điệp bao quanh, chỗ lồi chỗ lõm. Ngoài những căn nhà hai, ba tầng phủ mái tôn nâu tươi, lác đác trên đồi cao vẫn còn những căn nhà tường chình đất lợp ngói máng vương trắng hơi sương, ẩn hiện giữa màu xanh của núi rừng và đất trời trông thật hữu tình. Một thuở, những ngôi nhà dùng đất chình thành tường đã đi vào quá khứ bởi bê tông cốt thép lên ngôi. Nhưng bây giờ, sự tồn tại vài ngôi nhà đất ấy đã trở thành một điểm nhấn tô điểm cho cuộc sống đa dạng nơi đây. Chỉ có điều, những căn nhà ấy cao ráo hơn chứ không thấp lè tè như trước nữa, trông nó có vẻ đơn sơ, thế nhưng sự dày dặn của vách nhà tuy pha một chút cục mịch lại giúp cho căn nhà mát mẻ về mùa hè và ấm áp về mùa đông. Đã có một thời (từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX), không có ánh sáng trắng của dòng điện, nhiều thế hệ cùng sống trong những ngôi nhà như thế, mà người dân ở đây cũng thọ mấy đời người. Chợt vẳng ra tiếng nói cười ríu ran của lũ trẻ từ những căn nhà ấy… gợi lại cho tôi những kỷ niệm một thời từng đặt chân lên đây.

So-532--Anh-minh-hoa---Bong-benh-Ho-tren-nui---Anh-1

Đã hơn 7 giờ sáng mà ánh mặt trời còn chưa ló rạng. Ban mai kéo làn sương bay là là mặt nước, trông thật huyền ảo. Ngồi trên chiếc thuyền dưới tay lái điêu luyện của 3 chàng trai trẻ thay nhau điều khiển, chúng tôi cảm giác như được bay trên một chiếc gương bạc khổng lồ. Rồi khi những tia nắng rọi xuống, lớp sương trắng đục trên mặt hồ tan dần, lấp loáng bóng rừng cây hắt xuống mặt nước trong veo, in đậm một màu xanh thăm thẳm… Lâu lắm rồi, tôi mới có dịp được hòa mình vào khoảng không tĩnh lặng, thấm đẫm không khí trong lành như lúc này.

Cho tới lúc nắng bừng sáng cả không gian, những con thuyền lớn nhỏ đi đánh cá qua đêm đã lác đác về. Lòng hồ nơi đây là chỗ trú ngụ cho nhiều loài thủy sinh, là nơi “đóng góp” vào cuộc sống cho những bản làng nằm rải rác trên “ốc đảo” của các dân tộc Nùng, Tày vốn quen sống trên cao. Nghe nói có những hôm trở trời, các “ngư dân” ở đây quăng vó có khi bắt được cả tạ cá một đêm. Có những con cá nặng hàng chục ký… Khi lướt đến gần một đám lau sậy lớn, chúng tôi thấy một nhóm thuyền tụ tập. “Mọi người họp chợ luôn trên hồ hay sao nhỉ?”, Thắng cất tiếng hỏi vì lần đầu mới được đi hồ nên thấy cái gì cũng lạ. Thế là chả mấy chốc, cả nhóm chúng tôi đã lọt vào giữa nhóm thuyền “chợ” này. “Chợ” bày bán đủ loại, từ tôm cua, cá lăng, cá chiên, cá vược, có cả cá hồi, cá tầm cho đến hoa quả, chè lam, xôi cẩm các màu, lợn, gà… được bày la liệt trong lòng thuyền. Chủ thuyền là những “ngư ông” áo chàm tráng kiện, những bà lão vai đeo túi nải miệng nhai trầu bỏm bẻm… Người mua là dân 4 xã ven hồ, người bên Hữu Lũng hoặc đập Sông Hóa. Có cả những “ngư dân” vừa đi đánh cá đêm về cũng tạt vào mua thêm những đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt. Họ cùng ngó nghiêng, lựa chọn, mặc cả. Bên bán, bên mua tiếng Kinh xen lẫn tiếng dân tộc làm xao động một bến hồ…

Đã sang mùa đông nên những con tôm thau tháu bụng căng tròn trứng, chúng tôi đặt mua món tôm đặc sản ấy rang qua. Lát họ sẽ chế biến rồi đóng hộp và chuyển về quán bác Phiến để chúng tôi ghé lấy. Ăn nắm xôi cẩm xong, cả nhóm lại tiếp tục ngao du. Rừng cây xa lắc trong im ắng. Bất chợt lời ca vang lên trong tâm thức tôi: “Thuyền về mà bến mới… (ối a)/Cá nặng lưới đầy… (hừ là)…”(*). Dân 4 xã quanh lòng hồ ngày qua ngày cùng thả lưới buông câu, ngày ngày cùng giao thương trên mặt hồ lộng gió. Nhưng khi trao nhau mối chân tình mộc mạc đậm đà tình quê là họ đã nhận về và sẻ chia đi cả những giọt mồ hôi mặn mòi sương gió, những trận nắng cháy da, những cơn bão bùng đe dọa tính mạng, tài sản của mọi nhà… Dấu ấn về phiên chợ trên lòng hồ hẳn không chỉ gợi cho một mình tôi sự ngạc nhiên, mà còn là sự thích thú về đời sống đa sắc màu của đồng bào dân tộc vùng cao.

Hùng đổi tay chèo cho Sơn xoay một vòng chầm chậm đưa chúng tôi đến gần một bờ eo. Tôi sững sờ khi chạm mắt được tới những cây cổ thụ ven bờ. Màu nước ở đây bỗng xanh thẫm lại bởi cây cối ven hồ ngả bóng chở che. Bất chợt một luồng gió thổi qua, rừng cây xào xạc như vẫy chào. Những chiếc lá vàng rời cội, chao nghiêng rồi đậu lại trên bờ vai mái tóc, trên lòng thuyền và trên cả mặt nước xanh, tạo nên một sự phối màu tuyệt đẹp như quảng bá cho mùa thu vàng còn vương vấn rớt lại miền sơn cước để chào đón du khách. Trời ạ, trong chuyến đi, trái tim bướng bỉnh của tôi cứ liên tục nhói lên, hồi hộp, nghẹn ngào… Tôi cứ luôn phải hít vào thật sâu, rồi nhẹ nhàng thở ra từ từ, để thanh lọc trái tim và níu giữ vẻ đẹp trinh nguyên, hoang sơ mà mặn mòi nơi rẻo cao yêu dấu trong từng vách ngăn, như cất giấu thêm của báu vào kho tàng lưu trữ của cuộc đời. Con thuyền bồng bềnh trong lòng hồ rộng mênh mang. Mùa này, nước vẫn còn dâng cao, len lỏi vào sâu trong sườn rừng, đã chia cắt ven bờ thành cả trăm hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô, in bóng xuống mặt nước… Lòng hồ lúc này đã chuyển từ màu xanh thẫm sang màu tím hồng trong một không gian thật tĩnh lặng. Hồ Cấm Sơn trước mắt tôi lúc này quả đẹp đến siêu thực và đúng là phiên bản “Vịnh Hạ Long” ngự trên núi! Trong chuyến đi, ba tay lái rất biết khi nào tăng ga lướt sóng, khi nào tắt máy thả thuyền trôi để mọi người cùng cảm nhận và ngắm được hết những diễn biến đang diễn ra trước sóng nước mênh mang…

Những mẻ cá thu được từ nửa đêm trong hồ Cấm Sơn đã có ô tô ở thành phố đón đợi mua mang đi. Cuộc sống của người dân trở nên khấm khá dần, bà con đã thực sự quan tâm tới việc học hành của con trẻ. Ở nơi núi non, rừng thẳm mênh mông nước này, tình cảm, trách nhiệm của các thầy cô dạy chữ cho con em bản làng luôn gắn liền với tình cảm của đồng bào các dân tộc vùng cao. Niềm vui từ sự đổi thay của cuộc sống đã làm cho những làn điệu Sli, Sloong hau thêm đằm thắm, lúc trầm, lúc vút cao…

Đó đây những chiếc thuyền đã tỏa về ven bờ. Sau một đêm quăng lưới và “giao thương”, họ hào hứng trở về nơi những người thân đang chờ đợi. Hẳn ánh mắt, nụ cười sẽ rạng ngời trong bữa cơm gia đình sau một đêm miệt mài lao động. Mấy đứa nhỏ sẽ lại mang sách vở ra học bài, bàn tay chai sần của ông bố sẽ vụng về nâng cuốn vở, lòng bồi hồi nghĩ tới mấy đứa con rồi sẽ được đổi đời nhờ những chữ nghĩa thầy cô dạy hôm nay…

Hoàng hôn đang dần lấn chiếm “Vịnh Hạ Long”. Mặt trời như chiếc mâm vàng nhấp nhóa chia không gian mây trời và sóng nước ra làm hai nửa. Xa xa, rừng cây được nhuộm dưới ráng chiều hồng rực, tươi tắn như làn môi cô gái xuân thì lúc ẩn lúc hiện. Trước kia, bà con sống dựa vào nguồn thu sắn và đỗ xanh ở trên đồi. Họ cũng trông chờ cả vào mùa cạn, nước xuống thì trồng hoa màu bên ven hồ, rồi thả rọ bắt tôm cá… Nhưng nguồn thu ấy thất thường bởi phụ thuộc vào thời tiết. Mươi năm gần đây, những quả đồi thấp đã phủ xanh cây vải thiều. Vào dịp tháng 5 ta, những trái vải mọng đỏ dập dìu trong gió gọi mời. Lòng người ngập tràn hân hoan dù mồ hôi vẫn vương dài, khi từng sọt quả theo chân bà con trên những con đường nhỏ xuống núi, xuống thuyền vượt hồ mang sự thảo thơm ngọt ngào của trái vải thiều vùng cao Lục Ngạn ra khắp nơi… Ánh mắt, lòng người phơi phới khi nguồn thu từ vải thiều đã dần thay đổi cuộc sống nơi đây. Điện đã thắp sáng vùng cao, những căn nhà mới khang trang đang mọc lên ngày càng nhiều. Trên cao, nhiều ngôi nhà tầng lẫn giữa màu xanh của đồi núi xa xa trông như khu nghỉ dưỡng. Tuy vậy, vẫn còn đó thấp thoáng những ngôi nhà chình tường đất trên đồi cao, như những điểm nhấn nửa tối nửa sáng huyền ảo gọi mời trở về một thời giản dị, bình yên… Con thuyền máy nhẹ lướt trên mặt hồ xanh thẳm, tìm về bến đỗ vào bữa chiều tà… Tôi thả tay xuống làn nước trong veo, tận hưởng cảm giác mát lạnh, bỗng thấy mình bồng bềnh, xao xuyến trước những gì hoang sơ mộc mạc đang ùa vào, đang lan ra thật nhanh trong cơ thể, thật sâu đến ngỡ ngàng…

Mùi cá nướng thơm nức, mùi lá chanh rừng mơn man khứu giác đã bứt tôi ra khỏi những phiêu du. Chúng tôi cùng chụm lửa ngay bên ngôi nhà chình đất nhỏ nhắn mà tươm tất. Đây là căn nhà do tập thể nhà trường làm tặng một cặp vợ chồng trẻ là giáo viên khu Đồng Mậm vào ngày cưới. Trong nhà có giường, tủ, bàn làm việc và bộ bàn ghế tiếp khách. Đồ đạc đơn giản nhưng gọn gàng, ngăn nắp. Ngoài chái đầu nhà, lủng lẳng các bắp ngô, những túm khoai lang, mới chợt nhìn mà như đã nếm được mùi vị thơm ngon của món ăn dân dã. Hai vợ chồng chủ nhà về quê ngoại, cửa chỉ khép hờ để sẵn sàng đón khách ghé thăm và tiện nấu nướng.

Có tiếng loảng xoảng của dây xích dưới bến. Mọi người đều nhận ra dáng người đang bước đến:

- Chú Kiên! Chú Kiên đây ạ?

- Xin chào các thầy cô! Nghe tin mọi người lên, nhất định tôi phải mang rượu sang có nhời chào chứ – Ông nói rồi giơ cái chai xanh nút lá chuối và bọc xôi cẩm ra.

- Chú đừng nhuộm chín rượu mấy chàng trai vàng này của cháu đấy nhé! – Đang nhai miếng xôi dẻo thơm, tôi vẫn không quên nhéo sang một câu như thế. Hình như cũng chỉ chờ có vậy, chú Kiên đã nhanh nhẩu:

- Đúng là vàng đấy cô ạ, phải giữ gìn chứ. Bà con Đồng Mậm quý các thầy cô lắm. Ai cũng tận tụy với con em trong xã mà.

Trong bữa ăn, không đợi gợi ý, chú Kiên kể cho chúng tôi nghe câu chuyện ngày xưa… bắt phi công Mỹ nhảy dù. Sau “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, năm 1965, Mỹ chính thức mở rộng quy mô dùng không quân leo thang bắn phá miền Bắc ác liệt. Huyện Lục Ngạn là một trong những điểm quan trọng, là cái túi hứng bom trút xuống khi máy bay Mỹ trên một số không phận bị quân ta bắn tháo chạy… Mỗi lần quan sát, phát hiện có máy bay rơi, chú Kiên, lúc bấy giờ là xã đội trưởng xã Sơn Hải đã khoanh vùng khu vực phi công nhảy dù, phân công dân quân mai phục, phối kết hợp với dân quân các xã Hộ Đáp, Tân Sơn, Cấm Sơn và chính quyền địa phương giáp ranh tỉnh Lạng Sơn để truy lùng những tên phi công. Năm 1966, tại thôn Thông Vàng, làng Tính, xã Sơn Hải, chú đã chỉ huy bắt sống một tên phi công Mỹ ngoan cố khi định sử dụng vũ khí chống trả! Trong những năm giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, khi là xã đội trưởng, chú Kiên đã tổ chức dân quân địa phương vây bắt thành công 7 tên giặc lái rơi trên địa bàn 4 xã vùng cao.

- Còn nhớ một lần lên Cấm Sơn, cháu đã gặp chiếc ô tô chở đoàn cựu chiến binh Mỹ lên thăm chiến trường xưa… Hình như có cả tên phi công mình bắt ở đây, chú nhỉ?

Mọi người xuýt xoa: “Sao tường tận thế?”. Đấy là niềm tự hào của cả một vùng quê. Sơn Hải trước có tên là xã Ninh Sơn, năm 1970 mới đổi lại tên như bây giờ. Lúc ấy chú Kiên làm Bí thư Đảng ủy, năm 1985 chú mới nghỉ hưu. Mười lăm năm, chú đã cùng với Ban chấp hành Đảng bộ xã chỉ đạo các ban, ngành đoàn thể sát cánh cùng bà con phấn đấu, xây dựng Sơn Hải để có được sự đổi thay như hôm nay.

Bữa tiệc xong, cả nhóm dọn dẹp rồi ra sân ngồi hóng gió. Dù trời đã tối, nhưng phía xa ngoài lòng hồ vẫn có nhiều khoảng sáng lấp lánh. Một ngày trời bên nhau trong nắng gió, mấy cô cháu thật tâm đầu ý hợp. Chia tay chú Kiên mà câu chuyện cứ vương vấn trong đầu tôi về một vùng hồ chứa đựng bao gian nan, nhưng thật kiên cường, đầy sức sống và tuyệt đẹp. Bọn tôi bàn soạn chuyến đi tiếp để khám phá khi đêm về trên hồ. Đèn pin gắn trên trán, áo phao nai nịt gọn gàng – tất cả lại hăm hở lên đường.

Những năm xưa, không có một con đường nào để đi vòng quanh hồ. Muốn đến trung tâm các xã hay từ nhà này sang nhà nọ bà con đều phải dùng thuyền. Từ Ủy ban đến Đồng Mậm, nơi xa nhất của xã Sơn Hải, con đường duy nhất là trên thuyền, không tính bằng kilômét mà tính bằng tiếng đồng hồ. Dân ở đây đều biết sử dụng thuyền, biết bơi thành thạo từ lúc còn nhỏ và rất thuộc đường đi lối lại trên hồ. Từ bà cụ già cho đến cô gái, hay những em bé đến trường đều có thể tự chèo thuyền mà vẫn ung dung nói cười vô tư. Giờ đây, thuyền máy đã dần thay thế cho thuyền gỗ tự chèo lái, đã có nhiều con đường nhỏ trải bê tông quanh các sườn núi từ trung tâm xã tới 5 thôn bản: Cầu Sắt, Tam Chẽ, Cổ Vài, Đấp, Đồng Mậm, nên việc đi lại của mọi người đã thuận tiện hơn nhiều.

Đêm nay không trăng nhưng bầu trời đã ban cho chúng tôi một nguồn sáng lung linh, đấy là muôn ngàn vì tinh tú hắt xuống làm làn nước ánh lên bàng bạc. Cả đoàn tắt đèn pin trên trán, con thuyền đè sóng ra khơi trong đêm thâu. Nếu đã một lần đến đây vào thời khắc như thế này, nếu không kịp chạm tay vào mặt hồ trong đêm thanh vắng, làm sao có thể cảm nhận rõ rệt được hơi sương đang tan ra trong bàn tay ta, lan tỏa ra như gột rửa mọi bụi trần để lòng ta lâng lâng giữa lưng chừng trời, cảm giác giữa cái thực và cái ảo hòa quyện trong tâm thức, bỗng thấy trái tim mình thật thánh thiện, trinh nguyên. Con người sẽ được một lần nữa bé nhỏ trước thiên nhiên… khiến ai đã đến một lần là muốn lần sau trở lại sẽ mang thêm những người bạn mới!

Đêm hồ Cấm Sơn sôi động hơn khi trong tiếng sóng vỗ, làn điệu Sli, Sloong hau từ đâu đó trên một con thuyền đánh cá lan xa… Đấy là những câu hò, câu đối mà người vùng hồ tự biên tự diễn để trao nhau những ân tình sâu nặng, giúp quên đi những nhọc nhằn, biến vị mặn của những giọt mồ hôi vương trên vầng trán quanh năm đón gió trời và mưa nắng trở thành vì sao sáng lung linh soi tỏ đường đi của những con thuyền…

Lưu Thị Phụng
(Lục Ngạn – Bắc Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 532

……….
(*) Lời bài ca “Hồ trên núi” của nhạc sĩ Phó Đức Phương.

Ý Kiến bạn đọc