Ngoài nước

Bob Kerrey và tội ác gây ra ở Việt Nam – Chúng ta học được gì?

 

Đơn vị An ninh Không quân Mỹ của tôi được cử đến Việt Nam vào ngày 7-3-1969, để huấn luyện cho quân lính Sài Gòn kiểm soát căn cứ không quân Bình Thủy, cách một vài dặm về phía tây bắc của thành phố Cần Thơ, cách khoảng 100 dặm về phía tây nam Sài Gòn ở đồng bằng sông Cửu Long. Tôi là Trung úy phụ trách đơn vị gần 40 người này.

Tết 1969, mặc dù ít dữ dội hơn nhiều so với cuộc tấn công Tết tàn khốc năm 1968, đã được Việt Cộng (VC) phát động chưa đầy hai tuần trước đó, vào ngày 23-2. Hai ngày sau, ngày 25-2, người khi đó là Trung úy và bây giờ là Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Bob Kerrey và 6 lính Hải cẩu khác (lực lượng đặc nhiệm của Không quân trên biển) dưới quyền chỉ huy của ông ta đã tấn công vào làng Thạnh Phong, sát hại tới 24 dân làng, ít nhất một nửa trong số đó là phụ nữ và trẻ em.

Trong Tết Mậu Thân năm 1968, vùng đồng bằng, cũng như hầu hết miền Nam Việt Nam, đã bị ảnh hưởng nặng nề. Mười ba trong số 16 tỉnh lỵ đã bị Việt Cộng xâm nhập nghiêm trọng. Căn cứ Không quân Bình Thủy đã phải đối phó với 18 cuộc tấn công khác nhau trong tháng 2 và tháng 3-1968, nhiều hơn 10 căn cứ Không quân khác ở miền Nam Việt Nam, ngoại trừ Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn, cũng bị đánh 18 lần. Phản ứng của Hoa Kỳ đã rất dữ dội, đặc biệt là chống lại các hoạt động của Việt Cộng tại thành phố Cần Thơ, Mỹ Tho và Bến Tre thuộc tỉnh Kiến Hòa ở phía đông, không xa Thạnh Phong. Vào thời điểm đó, Thời báo New York (ngày 6-2-1968) báo cáo đã xảy ra ít nhất 750 thương vong dân sự ở Mỹ Tho, 350 ở Cần Thơ và 2.500 ở Bến Tre. Bến Tre đã bị nghiền nát bởi hỏa lực của Hoa Kỳ đến nỗi một Thiếu tá Hoa Kỳ đã giải thích: “Cần phải phá hủy thị trấn để cứu nó”.

Vài tháng sau, vào tháng 12-1968, Chiến dịch “Tàu tốc hành – Speedy Express”, chủ yếu do Sư đoàn 9 Bộ binh thực hiện, đã bắt đầu các nhiệm vụ càn quét được thiết kế để kết liễu các đơn vị Việt Cộng ở đồng bằng, đặc biệt là ở các tỉnh Kiến Hòa và Vĩnh Bình. Hoạt động này đã được hoàn thành khi tôi đến. Theo nhà sử học quân sự, Đại tá Harry
G. Summers nay đã nghỉ hưu, thì chỉ riêng chiến dịch Speedy Express khi kết thúc vào tháng 5-1969, đã gây ra gần 11.000 thương vong của “kẻ thù”, hầu hết là dân thường.

Là một sĩ quan an ninh chiến đấu, tôi phải nhanh chóng làm quen với các báo cáo tình báo về hoạt động của “kẻ thù”, địa điểm của họ cũng như các địa bàn thân thiện. Tôi đã không ở Việt Nam hơn một tháng khi tôi thấy hầu như tất cả mọi người, ngoại trừ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, chính trị và quân sự Việt Nam cộng hòa, đều phản đối, ít nhất là bí mật bày tỏ sự thù địch với sự hiện diện của người Mỹ và đồng cảm với cuộc đấu tranh của người Việt Nam giành độc lập bằng mọi lực lượng chính trị/quân sự của họ. Mặc dù lúc đầu tôi không muốn tin vào điều này, nó đã được khẳng định bằng sự kết hợp của những kinh nghiệm khác: thảo luận với các nhân viên Không quân Hoa Kỳ và các thành viên của quân đội Sài Gòn, tương tác với các thành viên của Sư đoàn Bộ binh số 9 của Quân đội Hoa Kỳ, kể cả các bài báo như bài “Hoa Kỳ tại Việt Nam” (New York: Dial Press, 1967).

Sau Tết năm 1968, chương trình Phượng hoàng của CIA đã bắt đầu những nỗ lực mạnh mẽ nhằm loại bỏ sự lãnh đạo chính trị và quân sự của Việt Cộng. Các lực lượng Không quân và mặt đất của Hoa Kỳ đã trở nên bừa bãi hơn nhiều trong việc bắn giết người Việt Nam, quy kết tất cả họ đều là VC. Đến năm 1969, tôi đã được thông báo rằng 3/4 miền Nam Việt Nam đã được chỉ huy quân đội Hoa Kỳ và các quan chức tay sai địa phương chỉ định là “vùng bắn phá tự do”, nghĩa là hầu như bất kỳ dân làng nào trong khu vực rộng lớn đó đều có thể bị giết mà không cần bất cứ lý do nào. Tuy nhiên, trong những chuyến đi liên tục của tôi đến các làng khác nhau ở phía tây bắc và đông bắc Cần Thơ, dường như có rất ít sự ủng hộ thực sự của dân làng dành cho Hoa Kỳ và chư hầu chính trị/quân sự miền Nam Việt Nam của chúng ta.

Bob Kerrey, với tư cách là chỉ huy của đội Navy SEAL, có khả năng tham gia Chiến dịch Speedy Express và/hoặc chương trình ám sát Phoenix (Phượng Hoàng). Nhiều đơn vị SEAL của Hải quân được xác định là đội “thợ săn sát thủ”, và đặc biệt có kỹ năng xâm nhập các khu vực bằng đường biển trên những chiếc thuyền nhỏ hoặc là người nhái. Việc huấn luyện nghiêm ngặt của họ rõ ràng là để chuẩn bị cho những nhiệm vụ như vậy.

Rõ ràng là quân đội Hoa Kỳ chúng ta biết rất ít hoặc không biết gì về người dân Việt Nam, lịch sử của họ hoặc tình cảm đích thực của họ. Tôi nghi ngờ rằng các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta ở Washington hoặc những người trong chuỗi chỉ huy quân sự của chúng ta có thể hiểu điều này. Người Việt Nam có một lịch sử lâu dài chống lại và chiến thắng các lực lượng bên ngoài, bất kể tổn thất nặng nề của họ. Họ đã chiến đấu với người Trung Quốc trong gần một ngàn năm và sau đó là người Pháp trong một trăm năm. Kể từ khi kết thúc Thế chiến II, người Pháp đã phải chịu gần 175.000 thương vong trong nỗ lực khôi phục thuộc địa đã có trước chiến tranh, trong khi người Việt Nam đã phải chịu đựng hơn 1 triệu người chết để bảo vệ nền độc lập non trẻ của họ.

Sự can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1954, ngay sau thất bại nhục nhã của Pháp. Thật không may, quân đội của chúng ta đã bị lừa dối một cách bi thảm! Sự thiếu hiểu biết của người Mỹ chúng ta, cùng với sự phân biệt chủng tộc văn hóa nội tại và ý thức ưu việt lịch sử của chúng ta, kết hợp lại để thể hiện trong một lực lượng vô pháp, tàn bạo, hầu như không có giới hạn trong các cuộc tấn công bạo lực nhằm vào những người dân Việt Nam bình dị nhưng kiêu hãnh. Quân lính của chúng ta với họ chỉ đơn giản là loài chuột lang! Chúng ta đã không nhận ra người Việt Nam luôn sẵn sàng bảo vệ nền độc lập thiêng liêng của họ bằng bất cứ giá nào. Trong khi chúng ta thậm chí không tin rằng người Việt Nam có quyền được hưởng độc lập.

Hiệp định Genève ngày 21-7-1954 kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp của người Việt Nam đã hứa với họ một cuộc bầu cử thống nhất, bắt buộc được tổ chức vào tháng 7-1956. Chính phủ Hoa Kỳ biết rằng cuộc bầu cử công bằng, có hiệu lực, sẽ có nghĩa là một chiến thắng dân chủ thực sự cho nhà lãnh đạo Cộng sản đáng kính Hồ Chí Minh. Điều này là không thể chấp nhận được với người Mỹ! Do đó, vào tháng 6-1954, trước khi Hiệp định lịch sử được các bên liên quan ký kết, Hoa Kỳ đã bắt đầu các hoạt động phá hoại nội bộ do CIA chỉ đạo chống lại người Việt Nam, đồng thời thiết lập con rối Ngô Đình Diệm (được đưa về VN từ Mỹ) làm “lãnh đạo chính trị” của chúng ta. Không có cuộc bầu cử nào được tổ chức! Điều này tạo tiền đề kéo dài cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam, chống lại các lực lượng không mong muốn của Hoa Kỳ và các con rối người Việt của họ.

Người Việt Nam đã bị phản bội! Mức độ can thiệp nghiêm trọng của chính phủ Hoa Kỳ vào các phong trào độc lập ở châu Á có thể đã bị đánh giá thấp. Các tài liệu của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ từ năm 1956 đã tuyên bố rằng “an ninh quốc gia của chúng ta sẽ bị đe dọa bởi sự thống trị của Cộng sản ở Đông Nam Á”. Các kế hoạch quân sự bí mật đã ghi rõ rằng “vũ khí hạt nhân sẽ được sử dụng trong chiến tranh nói chung và trong các hoạt động quân sự không tuyên bố khác”. Đến tháng 3-1961, Lầu Năm Góc đề nghị gửi 60.000 binh sĩ đến miền tây Lào kèm theo sức mạnh Không quân, và nếu cần thiết, sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân để đảm bảo rằng Chính phủ Hoàng gia Lào sẽ thắng thế chống lại đội quân Pathet Lào nổi tiếng đang đấu tranh chống lại nó.

Các hoạt động bí mật nhằm gây bất ổn cho phong trào độc lập của Việt Nam, tất nhiên, đã vi phạm trực tiếp các Hiệp định Genève. Họ cũng vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc và các luật pháp quốc tế khác. Cuộc chiến bí mật này kéo dài gần 10 năm cho đến khi cuộc xâm lược công khai của các lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 8-3-1965. Cuộc xâm lược này cũng vi phạm luật pháp quốc tế, cũng như Hiến pháp Hoa Kỳ, vốn đòi hỏi phải có Tuyên bố chiến tranh của Quốc hội trước khi bắt đầu các hành động chiến tranh.

Trong 10 năm tiếp theo, Hoa Kỳ tiếp tục hành vi vô luật pháp của mình, gây ra (và đang tiếp tục gây ra) một sự tàn phá không thể cắt nghĩa được:

Các vụ đánh bom bừa bãi với 8 triệu tấn bom được ném từ trên không (gấp 4 lần số lượng mà Mỹ sử dụng trong toàn bộ Thế chiến II), đã phá hủy một khu vực có kích thước của bang Maine, nếu đặt sát các miệng hố bom lại với nhau.

- Sử dụng 8 triệu tấn bổ sung các loại vật liệu nổ khác.

- Thả gần 400.000 tấn napalm vào mục tiêu con người, một vũ khí gây cháy nổ hoàn toàn bừa bãi.

- Việc xác định một cách tàn nhẫn đến 3/4 diện tích miền Nam Việt Nam là một “khu vực bắn phá tự do” biện minh cho các vụ giết hại hầu như bất cứ ai bị phát hiện trong hàng ngàn ngôi làng ở những khu vực rộng lớn đó.

- Một mức độ chiến tranh hóa học chưa từng có trong lịch sử loài người với việc phun chất độc hóa học bừa bãi, 21 triệu gallon trên 1/7 diện tích miền Nam Việt Nam. Các tác động di truyền của chiến tranh hóa học tiếp tục gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người Việt Nam trưởng thành (và cựu chiến binh) trong khi gây ra dị tật bẩm sinh leo thang. Các mẫu đất, nước, thức ăn và mỡ cơ thể của người Việt Nam tiếp tục tiết lộ mức độ nguy hiểm của chất độc da cam cho đến ngày nay.

- Hôm nay, các cơ quan Việt Nam ước tính sự hiện diện nguy hiểm liên tục của 35 triệu quả mìn còn sót lại sau chiến tranh và 300.000 tấn vật liệu chưa nổ. Đáng thương thay, chúng tiếp tục phát nổ khi nông dân và trẻ em vô tình kích nổ chúng trong công việc và các hoạt động vui chơi, giết chết hoặc làm bị thương hàng ngàn người mỗi năm. Báo cáo cho thấy hơn 40.000 người đã thiệt mạng kể từ sau năm 1975 bởi mìn và bom còn sót lại. Điều đó có nghĩa là mỗi ngày hiện nay lại có 4 hoặc 5 người Việt Nam bị giết do chiến tranh của Hoa Kỳ.

Cuộc chiến chống lại người Việt, vì thế cứ tiếp diễn. Hiện tại người ta tin rằng Hoa Kỳ và các đồng minh đã giết chết khoảng 6 triệu công dân Đông Nam Á trong những năm chiến tranh. Số người chết ở Lào và Campuchia vẫn chưa được tiết lộ đầy đủ, nhưng đến năm 1971, một báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội chuẩn bị cho Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ chỉ ra rằng hơn 1 triệu người Lào đã bị giết, bị thương và phải lánh nạn, con số đó ở Campuchia là 2 triệu. Hơn một nửa triệu nhiệm vụ ném bom “bí mật” của Hoa Kỳ vào đất Lào bắt đầu vào cuối năm 1964 đã tàn phá toàn bộ cư dân của nền văn hóa cổ đại ở đó. Ước tính chỉ ra rằng khoảng 230.000 tấn bom đã được thả xuống phía bắc Lào chỉ trong năm 1968 và 1969. Số lượng nhân viên quân sự Mỹ ngày càng tăng đã được thêm vào trên đất Lào vào năm 1961. Cuộc xâm chiếm đất liền của Lào xảy ra trong hai tháng đầu năm 1969, và một lần nữa trong một tuần vào đầu năm 1971. Vụ đánh bom “bí mật” vào Campuchia đã bắt đầu vào tháng 3-1969. Một cuộc xâm chiếm đất liền vào Campuchia đã xảy ra từ cuối tháng 4-1970 đến cuối tháng 6, gây ra hàng ngàn thương vong. Và các cuộc chiến bí mật của Hoa Kỳ tại các quốc gia này cuối cùng vẫn không chấm dứt cho đến ngày 14-8-1973, gây ra vô số thương vong. Khi vụ đánh bom ở Campuchia cuối cùng đã chấm dứt, Không quân Mỹ đã chính thức ghi nhận thả gần 260.000 tấn bom ở đó. Tổng trọng tải bom rơi ở Lào trong tám năm rưỡi đã vượt quá 2 triệu.

Sự đồng thuận hiện nay là nhiều hơn 3 triệu người Việt Nam đã bị thiệt mạng, với thêm hơn 300.000 người mất tích trong chiến đấu và coi là đã chết. Trong quá trình này, Hoa Kỳ đã mất gần 59.000 người đàn ông và phụ nữ của mình, với thêm gần 2.000 người còn mất tích, trong khi 4 đồng minh của Hoa Kỳ mất hơn 6.000 người nữa. Quân đội Sài Gòn có gần 225.000 người chết. Tất cả các cuộc tàn sát này là nhằm phá hủy các quyền và năng lực cơ bản của người Việt Nam để xây dựng một xã hội độc lập, có chủ quyền của riêng họ. Không ai trong số những người này đáng phải chết trong chiến tranh. Những người Việt Nam, Lào, Campuchia và kể cả quân đội Mỹ đều là nạn nhân. Tất cả những xác chết này đã được tạo ra vì sự tồn tại của một SỰ DỐI TRÁ đáng kinh tởm. “Nguyên nhân” của nó đã được các nhà cầm quyền da trắng ở Washington chế tạo, nhiều người trong số họ sở hữu bằng tiến sĩ từ các trường đại học danh tiếng. Các chính trị gia này và những người được chỉ định của họ, cùng với các nhà sản xuất/buôn bán vũ khí thu lợi nhuận, mong muốn, cũng như hầu hết những người tiền nhiệm của họ trong lịch sử Hoa Kỳ, để đảm bảo sự phá hủy các phong trào dân chủ của người dân có thể đe dọa sự bá chủ gần như vô hạn của Hoa Kỳ trên thị trường và kiểm soát tài nguyên, trong trường hợp này là những người ở Đông Nam Á, và lợi nhuận thu được từ đó.

Nhưng chưa bao giờ một quốc gia nhỏ bé nào phải chịu đựng quá nhiều tội ác từ một quốc gia đế quốc, như người Việt Nam phải chịu đựng từ Hoa Kỳ. Để nắm bắt những hậu quả gần như không thể hiểu được đối với xã hội Việt Nam, cần phải phản ánh rằng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của người Việt Nam, gần 1/10, hoặc 10% trong tổng số khoảng 35 triệu người của họ đã bị giết chết một cách khủng khiếp. Ngoài ra, các khu vực rộng lớn của lãnh thổ đã bị tàn phá bởi ném bom và chiến tranh hóa học, hầu hết cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã bị phá hủy một cách man rợ. Điều này trái ngược với tỷ lệ 0,03% dân số Hoa Kỳ đã chết một cách không cần thiết trong sự can thiệp vô luật pháp này. Điều gì sẽ ảnh hưởng đến xã hội Hoa Kỳ nếu chúng ta chịu tổn thất 20 triệu, hay 10% dân số trong một cuộc chiến? Hơn nữa, nó sẽ ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào nếu các vùng rộng lớn của đất nước chúng ta bị ném bom và các cánh rừng bị rụng lá trơ trụi vì chất độc hóa học, đơn giản chỉ vì chúng ta đòi hỏi được tự do khỏi một thế lực nước ngoài có ý định thống trị và kiểm soát hệ tư tưởng chính trị và xã hội của chúng ta?

(Còn tiếp)

Brian Willson
(cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam;
luật sư – nhà phê bình chính sách đối nội và đối ngoại của Hoa Kỳ)
Ngô Mạnh Hùng (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 568

Ý Kiến bạn đọc