Truyện ngắn

Bờ có hai cây trâm

 

Người đàn ông bước xuống xe đò. Dáng cao lòng khòng. Chiếc túi vải dày quảy trên vai, bộ quần áo nhăn nhúm vẫn còn hằn rõ những đường xếp nằm ngang cùng cái nón vải kéo thấp che khuất một phần khuôn mặt. Anh ta đứng tần ngần một lúc, có lẽ để rũ bỏ trạng thái nôn nao sau một chuyến xe dài và cũng để định hình mọi thứ trước mắt. Mười mấy năm, trí óc đang cố nhớ lại mọi vật lúc này đã có quá nhiều thay đổi. Hay chỉ có ánh mặt trời đang chiếu những tia rẻ quạt màu vàng cam kia là hoàn toàn của ngày xưa. Mà không, con rạch uốn lượn này nữa mặc dầu hai bên bờ đã được người ta kè đá với hai dãy lan can sắt. Cũng hãy còn đây cây cầu mà hồi nhỏ anh cùng với đám bạn trèo lên thi nhau “bom” đùng đùng xuống nước. Từ chỗ này, có thể định hướng được con đường về nhà…

Anh lầm lũi bước. Con đường đất trước kia rợp mát bóng dừa, vương vãi rơm và phân trâu giờ đã được tráng xi măng sạch sẽ. Xe máy, xe con chạy qua chạy lại. Nhà cửa ken nhau. Anh bước qua mấy cái quán cà phê, những mái đầu cắm cúi quẹt điện thoại, không ai buồn ngó lên. Vậy là may, không ai nhận ra anh lúc này. Rẽ vào khúc ngoặt, chỗ cái miễu có cây gừa già rễ lòng thòng với lời đồn có con ma cứ chạng vạng lại hiện ra chơi đánh đu khiến ai đi qua cũng thấy rờn rợn, giờ ngó kỹ mới thấy, cái miễu bị o ép bởi ba bên nhà cửa. Dần vô xóm trong, nhà cửa vẫn còn vài cái còn giữ được vườn tược. Và cũng còn đó vài đám ruộng rau muống xanh xanh… Tim anh bỗng thắt lại khi trông thấy hình ảnh căn nhà mái ngói âm dương rêu mốc thấp thoáng dưới hàng cau già tót đọt trong ánh chiều bắt đầu vàng ệch. Không cần phải định hình nữa, chân cứ vậy mà bước, bước quýnh quáng cho đến lúc thấy mình đứng trên cái sân lát gạch tàu cũ kỹ, lăn lóc bay bay vài chiếc lá mận khô cong queo. Một con chó lông trắng vá đen xồ ra sủa ầm ĩ. Vì bộ dạng hơi kỳ cục của anh hay vì nhà chẳng mấy lúc có người vào ra! Mẹ già mặc chiếc áo túi trắng (thói quen từ xưa mẹ vẫn hay mặc lót bên trong áo bà ba), níu một đầu võng ngồi lên nhìn anh trân trối.

- Tư Việt, Tư Việt nó dìa rồi bây ơi!

Tư Việt, tên người đàn ông, bước mau tới ôm lấy đôi vai mẹ, cố nén để không bật lên tiếng khóc. “Má ơi!”, anh kêu lên và bỗng giật mình nhận ra đôi vai mẹ sao mà mỏng mảnh, bé nhỏ!

Người chị gái xấp xỉ 50, tóc bới cao, gương mặt hiền lành, chạy ra vườn quơ mớ lá xông nấu nước cho Tư Việt tắm. Cái ấm thoắt chút sôi phập phồng, tỏa mùi thơm dễ chịu. Đúng là cái mùi thương nhớ ấy, mỗi khi trái gió trở trời người quê anh vẫn nấu lên để xông hơi, và đôi lúc cũng để tắm gội gột rửa xui rủi. Giá mà nó gột rửa được cả những điều vướng víu trong lòng người!

Bữa cơm chiều dọn ra, lặng lẽ mà ấm áp vô cùng. Trên bàn thờ, khói nhang vấn vít quanh di ảnh cha. Tư Việt nhớ cha, thương cha quay quắt. Cha sinh thời vẫn ước ao xây dựng một nếp nhà dù cha chẳng được học hành gì, chỉ biết sự đời qua cái nhân nghĩa trung hiếu trong các tuồng tích rồi đem dạy con. Vậy sao cha có thể chấp nhận được chuyện năm ấy. Cha chắc đã trải qua những ngày dằn vặt khủng khiếp! Anh quay ra nhìn chiếc cub 50 cũ kỹ bám đầy bùn đất, lủ khủ túi lớn túi nhỏ treo lủng lẳng dựng trên sân, hình dung ra cảnh chị Hai chừng đó năm đã chạy như con thoi giữa nhà chồng và nhà mẹ. Chị Ba thì theo chồng, lâu lắm rồi không về thăm vì những mặc cảm với xóm làng. Ôi, mười mấy năm trước, đã từng có một gia đình thật đầm ấm, hạnh phúc ở đây.

*
Bờ cây trâm chạy dài giữa hai dãy đất ngang độ 2 thước, mọc đầy dây mây, bình bát, chùm bao, rau choại, cây ráng… Đặc biệt có hai cây trâm tàng rộng lớn kết nối nhau tạo thành cái mái vòm tự nhiên mát rượi, kín đáo. Bên dưới cái vòm đó mặt đất lại bằng phẳng, sạch sẽ, có thể lót lá nằm đánh một giấc ngon ơ. Một nơi lý tưởng để tụi con nít chui ra vô đùa chơi, cất giấu những điều bí mật của chúng mà không sợ bị người lớn kiểm soát rầy la. Cây cỏ rậm rì xung quanh, bầy rắn lục màu xanh đeo lẫn trong đó hút gió lảnh lót, nhưng tụi nhỏ không hề sợ…

Cu Việt cao ráo, nước da nâu, khuôn mặt thanh tú với đôi mắt to, cái nhìn điềm đạm. Cu Lỳ mặt tròn, hai con mắt nhỏ lúc nào cũng như nhướn lên nhìn, cái bụng nhái bầu, đôi tay khuỳnh khuỳnh như bộ dạng một con cua, thích là làm, muốn là nói không cần nghĩ ngợi gì, học hành đội sổ trong lớp. Út Quý con chú Năm Đại, nhà có hai cha con, được cha cưng như trứng, đi đâu cũng chở tò tò theo. Người nó mảnh khảnh, khuôn mặt xinh xắn, môi ướt đỏ như thoa son.

Đủ thứ trò chơi ở đó. Ống thụt bằng trúc lấy trái mây làm đạn chia phe ra bắn, miệng nổ liên thanh. Chơi nhà chòi thì Việt và Út Quý làm cha mẹ, đẻ ra thằng Lỳ. Út Quý chửi “con” sa sả. Lỳ không phục, phản đối hoài, đòi làm chồng Út Quý nó mới chịu. Mùa trâm, cả đám trèo bẻ một đống nhánh có nhiều trái chín đen nhất, rồi lót lá nằm ăn, răng lưỡi đen thui lè ra nhát ma nhau… Nhiều mùa trâm đi qua, tóc Quý dài ra, đen hơn, dưới lần áo bà ba, ngực nó đã nhu nhú. Việt lên cấp 3 đổi trường học xa tuốt dưới chợ, tiếng bể như con vịt đực, không thiết tha mấy với trò chơi con nít. Cu Lỳ phải nghỉ sớm vì học dở, với lại má nó cũng muốn thằng con đi làm phụ giúp, người thuê cũng thích vì nó mạnh như trâu, làm không thua ai mà ăn thù lao con nít. Thỉnh thoảng, Cu Việt với Út Quý hay ra bờ trâm ngồi nói chuyện riêng. Tay chúng bứt bứt lá, miệng chúng tủm tỉm cười rồi lắm lúc cúi gằm im lặng như những cặp tình nhân thực thụ. Hay chúng đã là một đôi? Cu Lỳ nghĩ, nó bực bội lấy đất ném sàn sạt quanh chỗ hai đứa kia ngồi. Nó tuyên bố, lớn lên nó sẽ cưới Quý. Đi coi hát ở sân khấu xã, thấy hai đứa kia đi chung, nó kéo tụi thằng Đen, thằng Tý tới ngồi sát bên, hút thuốc phà khói mù mịt, làm bộ chen lấn, nói chuyện ồn ào phá đám. Nó nói “Tư Việt cướp bồ tao!”.

So-653--Anh-minh-hoa---Bo-co-hai-cay-tram---Anh-1

Dạo sau đó, người ta bắt đầu chú ý đến đất. Vài người lạ đi xe hơi, lội vào ngõ xóm chỉ trỏ. Nổi lên vài “tấm gương” làm giàu nhờ bán đất, những ngôi nhà nóc Thái chĩa mấy cái chóp tam giác vênh váo lên trời là minh chứng. Đất là vàng. Cái bờ cây trâm bỗng trở thành điểm tranh chấp. Trụ đá làm ranh giới xưa đã bị trâu bò giẫm rồi dần mất dấu. Cha Tư Việt nghĩ đơn giản, bờ ở giữa hai bên thì là bờ chung, xẻ đôi là xong. Tía Út Quý lại dẫn ra một câu chuyện truyền miệng từ thời ông nội ông, rằng ông cụ đã bứng hai cây trâm trồng sóng đôi ở đây để tạo bóng mát nghỉ trưa vì bốn bên đều là ruộng, nắng chan chát. Mà ai lại đi trồng cây trên đất người khác? Rạn nứt từ đó.

Hôm tía Quý kéo rào có kêu bọn Cu Lỳ, Tý, Đen khiêng phụ trụ sạn. Cha con Tư Việt phác cỏ bên này. Trụ cặm sát mí đất nhà Việt. Cãi vã nổ ra. Cu Lỳ bênh tía Út Quý, ăn nói hỗn xược với cha Tư Việt. Ông như ngọn lửa được châm thêm dầu, quăng phảng, cầm cù nèo đánh nó. Tư Việt liền chạy xuống. Cu Lỳ càng điên tiết khi nhìn thấy Tư Việt. Tiếng la hét, những cú xô đẩy làm thành một mớ hỗn loạn. Cánh tay Tư Việt vung mạnh cố hất người đang ghìm đầu nó xuống. Thân người ấy loạng choạng rồi ngã huỵch. Một tiếng “hực”. Lưỡi phảng nằm nghiêng bén như nước. Máu phụt lên, hòa cùng bùn, nước, mồ hôi. Những bộ mặt đơ cứng vì kinh sợ… Tiếng Cu Lỳ xé toạc khoảnh khắc im lặng. “Là mày, thằng Việt. Tư Việt giết người bà con ơi!”. Những bước chân băng đồng lội phòm phọp dưới ruộng. Tiếng la thét vang trời. Rồi tiếng gào khóc của Út Quý “Tía ơi, trời ơi, sao anh giết tía tui…!”. Đám đông ráp vô quật ngã, đè nghiến Tư Việt xuống ruộng.

Những ngày sau đó thực sự là địa ngục. Tư Việt chỉ muốn kết thúc thật nhanh mọi thứ. Cái gì là “ngộ sát”, cái gì là “cố ý giết người”, rồi lời khai nhân chứng… Là gì thì mọi thứ với Việt coi như đã đổ sụp. Và kết thúc cho sớm cũng là cách để phủ nhận lời khai của cha Việt khi ông một mực khẳng định mình chính là người hại chết láng giềng.

*
Giờ thì thỉnh thoảng Tư Việt lại nhìn về phía bờ cây trâm ấy. Không còn cái màu xanh rậm rì, không còn hai cây trâm mọc sóng đôi chụm đầu vào nhau nữa mà là những bức tường. Những ngôi nhà ken dày quay những tấm lưng xám xỉn, rêu mốc, cao thấp lô nhô… Vài cái lỗ thông gió trên những bức vách tường như những con mắt he hé nhìn, vừa tò mò, vừa lạnh lùng. Có còn gì của ngày xưa nữa đâu, vậy cũng tốt. Thế nhưng trong những giấc mơ, anh lại không thể xua đuổi được nó. Nó, cái bờ hai cây trâm ấy vẫn thế, xào xạc những cành lá xanh rì chậm rãi kể câu chuyện của mình suốt mười mấy năm qua trong những đêm dài trên sàn xi măng lạnh băng của trại giam. Tư Việt thức dậy, thấy mình đang nằm trên bộ ván xưa cha vẫn nằm, mồ hôi mướt mặt. Cái bờ hai cây trâm ấy hóa ra vẫn tồn tại, một đường xanh rì xẻ ngang qua hồn anh.

Khi những bạn tù chờ mong từng ngày trở về thì Tư Việt lại thấy lo sợ. Ngày về càng gần nỗi lo càng lớn. Rồi anh sẽ phải đối mặt thế nào với cuộc sống mới, với xóm giềng, dư luận? Và với Út Quý? Một cuộc trở về không vui vẻ gì. Mấy hôm liền Tư Việt chỉ quanh quẩn trong nhà. Bất đắc dĩ có chuyện phải bước ra ngoài thì đầu cúi gằm lùi lũi. Anh dọn nhà cửa, gia cố lại hàng cọc rào xiêu vẹo ở sát đường đi. Một người đàn bà quen mặt ở xóm dưới dắt một đứa nhỏ đi ngang qua. Tư Việt ngẩng lên: “Thím Năm đi đâu về? Thím khỏe không?”. “Ờ”, câu đáp gọn lỏn rồi bà đẩy đứa nhỏ lên phía trước, bước nhanh để bứt khỏi sợi dây kết nối được tung ra từ một kẻ đã từng tù tội. Đứng đâu, đi đâu, làm gì, Tư Việt lúc nào cũng có cảm giác bao nhiêu con mắt chong vào mình. Thói đời, lắm người vẫn có cái thú lật giở những trang đen trong quá khứ người khác. Huống hồ chuyện về cái bờ cây trâm từng được báo chí khai thác ồn ào một dạo, có bài báo còn mô tả thật ly kỳ như chính tay phóng viên đã từng dự vào cuộc hỗn loạn đó vậy. Tít bài giật ghê gớm. Và Tư Việt hiểu tại sao chị Hai có lần nói: Nếu không có mồ mả ông cha và đủ thứ ràng buộc bên chồng thì chị đã bán nhà cửa đưa mẹ bỏ xứ rồi!

Tư Việt lò dò xin việc khắp nơi. Người ta hẹn, nhưng đã không có cuộc gọi nào. Có lần, anh đứng tần ngần trước vườn kiểng nhà chú Sáu Hoàng. Hồi đó, anh đã từng đến đây và mê thích cái nghề tỉ mỉ, làm mà cứ tưởng như chơi này. Vườn chú giờ mở rộng. Từ bên ngoài nhìn vô có thể trông thấy những cây kiểng lá không biết tên là gì cao tới ba bốn mét. Những gốc cây, có cái bằng mấy vòng ôm đã bị cắt trụi cành lá, bứng cả gốc rễ chở trên xe cẩu đưa về. Người ta nói những cổ thụ này sẽ dành cung cấp cho các dinh thự, cơ quan muốn có ngay một mảng thiên nhiên chỉ sau một cái búng tay, không cần phải mất “mười năm trồng cây”. Hôm đó, chú Sáu vỗ độp vai Tư Việt: “Vô phụ tao! Mày coi mấy cái cây kia đi, nó bị chặt trụi lủi không còn nhận dạng được, bị hốt khỏi cái nơi nó đã từng nứt vỏ nảy mầm, ra đi, rồi cũng cố mà sống, cố đâm chồi trổ bông trổ trái, làm một cuộc đời khác. Huống hồ là mày!”. Tư Việt nhìn lên, nhận ra trước mắt anh là một cây khế cụt ngọn lơ thơ mấy chòm lá, treo tòn ten mấy chùm trái xanh non. Lòng anh rưng rưng biết ơn ông già lắm lắm…

Nhưng vợ chú Sáu không ưa Tư Việt. Hôm xảy ra vụ mất cặp thiên tuế thì bà thím níu lấy cớ, nói xa nói gần để Tư Việt tự ái mà biến. Đúng vào những hôm chú Sáu vắng nhà. Xin lỗi chú. Giờ thì Tư Việt đi phụ hồ. May, chỗ làm lạ không ai hơi đâu đi hỏi thằng cha kia từ đâu tới. Thứ bảy lãnh tiền, chủ đãi, uống vài lon bia cười ha hả với nhau. Công trình này công trình nọ, công việc cứ rày đây mai đó với Tư Việt cũng là cách để cuộc sống “rộn ràng” hơn.

*
Người ta nói nhiều về chuyện của Cu Lỳ. Mà chuyện Cu Lỳ cũng là chuyện của Út Quý. Bởi sau sự cố buồn ấy một dạo thì Cu Lỳ trở thành chồng Út Quý. Người ta đồn hắn thương vợ như cuồng.

Cu Lỳ lớn lên như cây cỏ dại. Từ hồi má nó đi bước nữa, đẻ với cha dượng một bầy em thì bà chỉ biết bù đầu lo chuyện kiếm cơm, còn đâu ngày giờ ngó gì tới nó. Nó nghĩ gì làm nấy, chưa từng có ai nói cho nó biết cái lẽ phải quấy. Giữa thời thôn xóm rùng rùng chuyển động, Cu Lỳ ban đầu ngơ ngác rồi mau chóng thả mình cho sóng cuốn. Nó ngồi vẽ tương lai trên giấy, tưởng tượng mình là ông chủ giàu có, tự thưởng bia cho mình trong quán, mồm oang oang như cái pô xe bể, càng nốc say càng thích nói. Vậy mà nó cũng qui tụ được mớ đàn em chầu rìa. Bọn chúng suốt ngày đóng đô trong quán thêm thắt, vẽ vời rồng phượng cho các “dự án” của thằng Lỳ.

Làm ăn lớn thì phải có vốn lớn mới mau giàu. Cu Lỳ lấy sổ đỏ của ông già vợ thế chấp vay vốn để làm “đại gia bất động sản”. Có lẽ lúc đầu nó được Thần tài thương, cho trúng mấy đám đất, lời to, thế là xênh xang xe cộ, vàng đeo oằn cổ, chiều chiều bia bóc. Nhưng sau một đoạn, nó hốt trúng mấy miếng quy hoạch, găm vốn, rồi mang nợ. Nợ thì bán đất gỡ. Kinh nghiệm làm bất động sản của nó là zero, đám kia vẽ gì cũng ừ theo. Vốn đổ ra như suối, kệ, chỉ thấy cái đám con gái mặc bà ba đồng phục cổ khoét sâu eo chít cao, lượn qua lượn lại giữa mấy cái chòi lá, một anh chủ, hai anh chủ, là khoái rồi. Sổ sách chi chít con số trình ra, nó không cần đọc, bởi có đọc cũng chẳng hiểu gì, vả lại nó cũng tin tưởng em Duyên. Em Duyên thích chuốc say mỗi lần anh chủ tới. Mồm mép dẻo quẹo. Đám nhân viên thậm thọt, và cuối cùng là chuyện thật. Cu Lỳ với cô Duyên giờ là một cặp công khai, tổ uyên ương xây ngay trong quán mà nó có phần hùn, nó quên đứt cô vợ lúc này gầy gò như con khô hố, mặt mũi ủ rũ, từ dạo bỏ đứa con đầu giờ tịt luôn không thấy bầu bì gì nữa. Rồi đùng một cái, quán bể nợ, sập tiệm đúng nghĩa. Nhà cửa bị xiết. Nó gom chút đỉnh mau lẹ dắt con vợ nhỏ đang mang thai trốn biệt.

Tư Việt thấy xót xa quá. Út Quý đã sống những ngày như thế nào cạnh một gã chồng như Cu Lỳ? Hệ lụy của cái ngày ấy, nơi bờ hai cây trâm, nếu đừng xảy ra thì anh với cô hẳn đã là một đôi. Câu hỏi Út Quý giờ ra sao ngày tháng cứ đeo đẳng anh. Vài lần Tư Việt cảm giác đã nhìn thấy dáng cô vừa bước lên xe buýt, có lúc thì thấp thoáng trong đám đông đi vô chợ.

Thầu mới nhận công trình dài ngày. Đám thợ bữa trưa kéo nhau ra quán cơm đầu ngõ. Không ngờ Tư Việt đã nhìn thấy Quý. Đúng là cô chớ không ai khác, đang lúi húi trong cái bếp nóng hầm hập. Nhìn cô bây giờ lòng anh thắt lại. Gầy, hai vai nhô cao, nước da xanh tái, hai quầng mắt thâm khiến đôi mắt như thờ thẫn. Tư Việt mừng rỡ muốn lao ngay lại, nhưng rồi… một câu chào, một lời thăm hỏi cũng không làm sao thốt lên được. Mình là kẻ bị coi đã hại chết người cha của em, để rồi dìm chết cả tương lai em. So với Cu Lỳ thì mình hơn gì đâu?!

Mấy hôm không thấy bóng dáng Út Quý. Hỏi thằng nhỏ bưng bê mới hay cô đột nhiên bị ngất xỉu ngay trong bếp, chủ quán đã đưa cô vào bệnh viện quận. Tư Việt xin nghỉ một buổi chạy vô bệnh viện. “Mình là gì của cổ” không quan trọng, chỉ muốn biết cổ bị làm sao, và rồi lại biết cổ vô đây chỉ có một mình. Tư Việt ngập ngừng thò đầu vô cửa phòng. Út Quý nằm, người dán xuống nệm, dây truyền dịch lòng thòng… Người ta nói cơ thể cô bị suy nhược nặng.

Tư Việt lặng lẽ dọn cái tủ nhỏ cạnh giường bệnh, mua cháo, pha sữa, cầm toa lấy thuốc; tự nhủ, cô có đuổi anh cũng không đi.

Đêm, khuôn viên bệnh viện vắng lặng. Thỉnh thoảng có chiếc xe cấp cứu ra vô hụ còi. Tư Việt ngồi co ro trên cái ghế đá khuất trong góc tối. Một người bước qua rồi ngồi xuống, thật nhẹ bên đầu ghế kia. Tư Việt giật mình: Út Quý. Thì ra cô đã nhận ra anh từ ngày đầu đến quán cơm… Giờ đây, hai con người cùng lặng yên. Có lẽ họ đã khóc. Mười mấy năm rồi, dù có thể chẳng thay đổi được gì, dù rất khó khăn… Tư Việt cũng muốn một lần trải lòng với Út. “Tôi khổ tâm lắm! Tội tôi lớn quá! Cho tới bây giờ tôi cũng không biết tại sao mình lại …”. Yên lặng một lúc lâu. “Dù gì tía tui cũng mất rồi. Anh Tư đừng nhắc nữa”. Giọng Út Quý nhỏ, xa xôi. Rồi cô kể chuyện mình. Đó là những đêm mất ngủ dằng dặc, cùng với chứng đau đầu mà thuốc men nào uống cũng không tác dụng. Hình ảnh cái ngày đó bên bờ trâm cứ đeo bám, in dấu rất rõ ràng lên khuôn mặt ngày càng gầy gò xanh xao của cô. Cô luôn nhìn thấy trong những đêm chập chờn mộng mị hình ảnh tía cô đứng ngoài cửa nhìn vào nhà, tay ôm vết thương ở cổ, máu đỏ lòm. Cô thấy Tư Việt mình đầy sình đất, hai tay bị còng ngược bước lùi lũi trên bờ ruộng. Thấy mình chạy hụt hơi trên cánh đồng lạ, rất lạ chạy hoài mà không tìm được đường về. Ban ngày cô chỉ quanh quẩn trong nhà, nghe tiếng động là hốt hoảng. Cu Lỳ mỗi lần nhậu vô hất hất mặt: “Nhớ nó à, đáng đời, chính nó giết ông già cô”. Gặp chuyện trục trặc gì ngoài đường, hắn về: “Cái mặt cô chằm vằm, tui mần ăn gì nổi”. Rồi hắn rống lên như bị ai cắt cổ: “Đàn bà gì mà không biết ghen, cũng hổng biết đẻ”.

Phải mà được ôm lấy đôi vai gầy ấy để an ủi, sẻ chia. Bàn tay Tư Việt run run tìm trong bóng tối bàn tay nhỏ bé của Út Quý…

Mỗi ngày, Tư Việt ghé vào bệnh viện lo cơm nước, hỏi han. Út Quý lặng lẽ nghe… Cho đến một hôm cô tự dưng biến mất. Người ta nói cô đã xuất viện. Không một lời nhắn. Tư Việt lại theo công trình đi qua nhiều nơi, không thấy tăm hơi Út Quý đâu.

Mẹ anh một hôm nói: “Má biết bây vẫn cố công tìm kiếm con Út. Nhưng nó bây giờ là đàn bà có chồng. Với lại chuyện đó con ơi, có muốn quên cũng không quên được đâu!”.

Dạo sau, có vài người nói nhìn thấy Cu Lỳ và Út Quý buôn bán quần áo trên một chiếc xe tải nhỏ, thường đậu trước các xí nghiệp giờ tan tầm. Có một đứa con gái nhỏ độ bốn, năm tuổi nhảy lóc thóc trong thùng xe. Người ta nói đó là đứa con riêng của Cu Lỳ.

Tư Việt vẫn đi về một mình. Một hôm chú Sáu Hoàng gọi anh vô quán uống cà phê. Chú nói chuyện cặp thiên tuế hồi nào bị mất chú đã biết, rồi chú cười vỗ vai Tư Việt: “Cứ ghé chú đi, tao chỉ đường cho mần ăn, đừng nản đời con ạ!”.

HOA CAU
(Quận 12 – TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 653

Ý Kiến bạn đọc