Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Bình yên cho sử học!

(Tiếp theo số báo 476, ngày 16-11-2017)

Kỳ 4
Hiệp ước Patenotre Và thỏa ước Thiên Tân

Chúng tôi giới thiệu thêm các văn bản Hiệp ước Patenotre, Thỏa ước Thiên Tân và Chỉ dụ thành lập các khu nhượng địa để bạn đọc thấy “toàn diện, toàn bộ” quá trình cướp nước của thực dân Pháp và quá trình đầu hàng của vương triều Nguyễn.

Các văn bản này dẫn theo “Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam 1858 – 1897” của TS. Nguyễn Xuân Thọ (Paris) do NXB Hồng Đức ấn hành. H.2016. Phần phụ lục.

Hiệp ước Patenotre(*) ngày 6 tháng 6 năm 1884

Chánh phủ nước Cộng hòa Pháp và chánh phủ của Đức vua An Nam, muốn giữ cho không còn bao giờ tái diễn những chuyện phức tạp khó khăn như vừa mới xảy ra, và với nguyện vọng của mình, đã quyết định ký một bản hiệp ước hướng về mục đích nói trên và đã cử những đại diện toàn quyền của mình như sau:

Chủ tịch nước Cộng hòa Pháp: Ông Jules Patenôtre, đặc phái viên và đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa Pháp tại Bắc Kinh.

Và Đức vua An Nam: Ông Nguyễn Văn Tường, đệ nhất phụ chánh đại thần, Lại bộ Thượng thư; Phạm Thận Duật, Hộ bộ Thượng thư và Tôn Thất Phán, phụ trách ngoại giao, quyền Công bộ thượng thư.

Những vị này sau khi đã trao đổi ủy nhiệm thư, đúng phép tắc lễ nghi, đã thỏa thuận với nhau về những điều khoản sau đây:

Điều 1: Nước An Nam thừa nhận và chấp thuận nền bảo hộ của nước Pháp.

Nước Pháp sẽ đại diện cho nước An Nam trên mọi quan hệ ngoại giao.

Những người dân An Nam nằm ở nước ngoài đều đặt dưới quyền bảo hộ của nước Pháp.

Điều 2: Một lực lượng quân sự Pháp sẽ chiếm đóng Thuận An một cách thường xuyên. Mọi đồn lũy của nó và mọi công trình quân sự của con sông Huế (sông Hương) sẽ bị triệt bỏ.

Điều 3: Các quan chức An Nam từ biên giới xứ Nam kỳ cho đến biên giới tỉnh Ninh Bình tiếp tục nắm quyền cai trị các tỉnh nằm giữa hai đường giới hạn đó, trừ các vấn đề hải quan, công chánh và nói chung những công sở đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất hoặc phải sử dụng các kỹ sư hoặc nhân viên người Âu châu.

Điều 4: Trong những giới hạn đã chỉ rõ trên đây, chánh phủ An Nam sẽ tuyên bố mở cửa cho việc buôn bán của mọi nước, ngoài cảng Quy Nhơn ra, là các cảng Đà Nẵng và Xuân Đài.

Những cảng khác có thể được mở cửa thêm trong tương lai, sau khi đã có một sự thỏa thuận trước giữa hai bên. Chánh phủ Pháp sẽ đặt tại đó những nhân viên dưới quyền của viên công sứ Pháp tại Huế.

Toan-quyen-Patenotre---Anh-1
Toàn quyền Patenotre

Điều 5: Một công sứ toàn quyền (khác với viên công sứ Huế), đại diện cho chánh phủ Pháp, sẽ chủ trì những quan hệ ngoại giao của nước An Nam và phụ trách điều hành công việc thường ngày của bộ máy bảo hộ mà không nhúng tay vào công việc hành chánh địa phương của các tỉnh nằm trong những giới hạn quy định trong điều 3. Viên công sứ toàn quyền sẽ ở trong nội thành Huế với một đội quân tùy tùng. Viên công sứ toàn quyền sẽ có quyền lợi kiến cá nhân và không chính thức với Đức vua An Nam (sau này gọi là Khâm sứ Trung kỳ).

Điều 6: Tại Bắc kỳ, những công sứ hoặc phó sứ sẽ được chánh phủ Cộng hòa đặt tại những tỉnh lỵ nào mà xét thấy sự có mặt của họ sẽ bổ ích. Họ sẽ được đặt dưới quyền của viên công sứ toàn quyền. Họ sẽ đóng trong một thành và trong mọi trường hợp, ngay trong phạm vi dành cho các quan; nếu cần, họ sẽ được cấp một đội quân tùy tùng Pháp hoặc An Nam.

Điều 7: Các công sứ sẽ tránh không tham dự vào các công việc hành chánh nội bộ các tỉnh. Các quan chức An Nam mọi ngạch sẽ tiếp tục cai trị và điều hành công việc dưới sự kiểm soát của các viên công sứ; nhưng khi có yêu cầu của các nhà chức trách Pháp thì họ sẽ bị cách chức.

Điều 8: Các công chức và nhân viên người Pháp ở mọi ngạch chỉ được liên hệ với các quan chức An Nam qua trung gian các công sứ.

Điều 9: Một đường dây điện tín sẽ được bắc từ Sài Gòn ra Hà Nội và khai thác bởi những nhân viên người Pháp. Một phần các lệ phí thu được sẽ chuyển cho chánh phủ An Nam; đáp lại, chánh phủ An Nam sẽ cấp cho những đất đai cần thiết để xây dựng các nhà ga.

Điều 10: Tại Trung kỳ (An Nam) cũng như Bắc kỳ, tất cả những người nước ngoài thuộc bất cứ quốc tịch nào cũng đều đặt dưới quyền tài phán của người Pháp.

Các nhà chức trách Pháp sẽ quyết định, căn cứ trên những tranh chấp bất cứ là loại nào, sẽ xảy ra giữa người An Nam và người nước ngoài cũng như giữa nước ngoài với nhau.

Điều 11: Tại Trung kỳ, các quan bố chánh sẽ thu thuế cũ dưới sự kiểm soát của các quan chức Pháp, cho triều đình Huế.

Tại Bắc kỳ, các công sứ với sự cộng tác của các quan bố chánh, sẽ tập trung cũng một công việc thuế ấy, và họ sẽ kiểm soát cả hai mặt thu và chi. Một tiểu ban gồm công chức Pháp và Nam sẽ ấn định những số tiền dành cho các ngành hành chánh sự nghiệp khác nhau và cho các công trình công cộng. Phần còn lại sẽ nộp vào ngân khố của triều đình Huế.

Điều 12: Trên toàn cõi đất nước, công tác thuế quan được tổ chức lại sẽ hoàn toàn giao phó cho các nhà cai trị Pháp. Chỉ có thuế quan cửa biển và cửa khẩu biên giới đặt bất cứ nơi nào cảm thấy cần. Sẽ không chấp nhận bất cứ một khiếu nại nào liên quan đến những biện pháp mà các nhà chức trách quân sự đã thi hành về mặt thuế quan.

Các luật lệ và quy chế liên quan đến những thuế gián tiếp, đến chế độ bảng giá thuế quan và chế độ y tế của Nam kỳ sẽ được áp dụng cho cả lãnh thổ Trung kỳ và Bắc kỳ.

Điều 13: Các công dân hay dân bảo hộ của nước Pháp đều có thể đi lại tự do, buôn bán, tạo sự mua bán và sử dụng tùy ý những động sản và bất động sản… trên toàn cõi Bắc kỳ và trong các cảng mở cửa của Trung kỳ. Đức vua An Nam xác nhận bằng văn bản những cam kết đã được quy định bởi Hiệp ước 15/3/1874 vì quyền lợi của các giáo sĩ và giáo dân.

Điều 14: Những người muốn đi du lịch đó đây trong nội địa nước An Nam chỉ có thể được cấp giấy phép qua sự trung gian của khâm sứ tại Huế hoặc của chánh phủ Nam kỳ. Các nhà đương cục đó sẽ cấp giấy phép thông hành cho họ, giấy thông hành phải được trình với chánh phủ Việt Nam để được đóng dấu thị thực.

Điều 15: Nước Pháp cam kết từ đây sẽ bảo đảm sự nguyên vẹn lãnh thổ của Đức vua An Nam, bảo vệ

Đức vua chống lại những cuộc tấn công từ bên ngoài và những vụ nổi loạn bên trong.

Hướng vào mục đích đó, các nhà chức trách Pháp có thể chiếm đóng quân sự trên lãnh thổ Trung kỳ và Bắc kỳ những địa điểm xét thấy cần thiết cho sự thực thi chế độ bảo hộ.

Điều 16: Đức vua An Nam sẽ tiếp tục lãnh đạo công cuộc nội trị của đất nước như cũ, trừ những hạn chế quy định trong bản hiệp ước này.

Điều 17: Những món nợ hiện nay An Nam còn nợ Pháp sẽ được giải quyết bằng những đợt thanh toán theo hình thức cụ thể sẽ được quy định sau. Đức vua An Nam sẽ không được ký kết một sự vay mượn nào của nước ngoài nếu không có phép của chánh phủ Pháp.

Điều 18: Những cuộc hội nghị sau này sẽ ấn định giới hạn của các cảng mở cửa và những khu đất nhượng cho nước Pháp trong những cảng này; việc xây dựng các hải đăng trên bờ biển Trung kỳ và Bắc kỳ; chế độ và việc khai thác mỏ; chế độ tiền tệ; phần tỷ lệ dành cho chánh phủ An Nam trên tổng số thu nhập về quan thuế, về các ty; về các phí điện tín và về những khoản thu nhập khác không nói đến trong điều 2 của hiệp ước này.

Hiệp ước này sẽ đệ trình lên Chủ tịch nước Cộng hòa Pháp và Quốc vương An Nam phê chuẩn, và việc trao đổi phê chuẩn sẽ được tiến hành càng sớm càng hay.

Điều 19: Hiệp ước này sẽ thay thế cho các Hiệp ước ngày 15/3, 31/8 và 23/11/1864.

Trường hợp có tranh chấp thì chỉ văn bản bằng tiếng Pháp là có giá trị thực tế.

Để làm tin, các đại diện toàn quyền hai bên đã ký và đóng dấu của mình vào bản hiệp ước này.

Làm tại Huế thành hai bản, ngày 6/6/1884.

Patenôtre
Nguyễn Văn Tường
Phạm Thận Duật
Tôn Thất Phán

(*) Theo nguyên bản cất giữ tại “Phòng Hiệp ước” của Bộ Ngoại giao Pháp, Paris.

—————–

Thỏa ước Thiên Tân (*) ngày 11 tháng 5 năm 1884

Chánh phủ nước Cộng hòa Pháp và Hoàng đế nước Trung Hoa muốn bằng một thỏa ước sơ bộ mà các điều khoản sẽ dùng làm cơ sở cho một hiệp ước vĩnh viễn, chấm dứt tình trạng khủng hoảng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền an ninh chung và tiến trình chung của công việc, khôi phục không chậm trễ những mối bang giao láng giềng và hữu nghị cần phải tồn tại giữa hai dân tộc, đã chỉ định các đại diện toàn quyền của mình như sau:

Hoàng đế Trung Hoa: Lý Hồng Chương, đại giám hộ của Hoàng Thái tử, đệ nhất Quốc vụ Khanh, phó vương Tchili, quý tộc thế truyền hạng nhất, hạng thứ ba…

Chánh phủ nước Cộng hòa Pháp: Ông Ernest Francois Fournier, thiếu tá hải quân.

Các đại diện toàn quyền, sau khi đã trao đổi ủy nhiệm thư được xác nhận là hợp lệ, đã thỏa thuận với nhau những điều khoản dưới đây:

Điều 1: Nước Pháp cam kết tôn trọng và bảo vệ chống lại một cuộc tấn công của bất cứ một nước nào và trong mọi trường hợp, những biên giới phía Nam của Trung Hoa giáp với Bắc kỳ.

Điều 2: Thiên Triều, yên lòng trước những điều bảo đảm thành văn và nặng tình láng giềng mà nước Pháp đã phát triển liên quan Trung Hoa phía Nam, cam kết:

Rút ngay tức khắc về biên giới tất cả các đội quân Trung Quốc đồn trú tại Bắc kỳ. Trong hiện tại cũng như trong tương lai, tôn trọng các hiệp ước được ký kết hoặc sẽ ký kết giữa nước Pháp và triều đình Huế.

Điều 3: Đền ơn lại thái độ hòa hiếu của chánh phủ Thiên Triều và để chúc mừng sự khôn ngoan chính trị của ngày mà Lý Hồng Chương, người đàm phán hiệp ước này, nước Pháp từ bỏ ý định đòi hỏi ở Trung Quốc một khoản chiến phí.

Đáp lại, Trung Quốc cam kết chấp nhận, trên toàn bộ biên giới phía Nam của mình, việc buôn bán trao đổi hàng hóa giữa nước Pháp và nước An Nam một bên và Trung Quốc một bên, theo thể lệ sẽ được quy định trong một hiệp ước thương mại và theo những biểu giá sẽ thỏa thuận sau, với tinh thần hòa hiếu nhất về phía những người đàm phán Trung Quốc và trong những điều kiện thuận lợi nhất cho việc buôn bán của nước Pháp.

Điều 4: Chánh phủ Pháp cam kết sẽ không dùng một lời lẽ nào có tính chất xúc phạm đến uy tín của Thiên Triều trong dự thảo hiệp ước vĩnh viễn mà nước Pháp sắp sửa ký kết với An Nam, hiệp ước này sẽ bãi bỏ những hiệp ước đã ký kết trước đây liên quan đến Bắc kỳ.

Điều 5: Ngay từ khi bản thỏa ước này được ký, hai chánh phủ sẽ cử các đại diện toàn quyền của mình, họp với nhau trong thời gian ba tháng để dự thảo một hiệp ước chính thức vĩnh viễn trên cơ sở những điều khoản trên đây.

Phù hợp với tập quán ngoại giao, văn bản bằng tiếng Pháp sẽ có giá trị.

Làm tại Thiên Tân, ngày 11 tháng 5 năm 1884, tức ngày 17 tháng 4 Âm lịch.

Quang Thiệu năm thứ 10, thành bốn bản… trên đó các đại sứ toàn quyền mỗi bên đã ký và đóng dấu vũ khí của mình vào…

(*) “Vấn đề Bắc kỳ”: trang 416-417.

—————–

Chỉ dụ về việc thiết lập những khu nhượng địa của Pháp trên lãnh thổ Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng(*)

Ngày 26 tháng 8, Đồng Khánh năm thứ ba (1/10/1888).

Chiếu theo Điều 18 Hiệp ước 6/6/1884, quyết định rằng biên giới các cảng mở cửa và những đất nhượng địa của Pháp tại An Nam và Bắc kỳ sẽ được quy định trong những cuộc họp về sau.

Theo đề nghị của Viện Cơ mật và sau khi thỏa thuận với quan toàn quyền Đông Dương.

Trẫm ra sắc lệnh:

Điều 1: Lãnh thổ các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng sẽ được thiết lập thành nhượng địa của Pháp và sang tay cho chánh phủ Pháp với quyền sở hữu trọn vẹn. Chánh phủ An Nam từ bỏ mọi quyền hành của mình đối với những lãnh thổ nói trên.

Điều 2: Những quyền đã giành được trước đây tuyệt đối được giữ nguyên. Những quyền đó sẽ được giải quyết do toàn quyền Đông Pháp căn cứ trên những quyền hạn mà Trẫm đã ủy nhiệm đặc biệt, vì mục đích này trong một chỉ dụ của Trẫm cùng ký trong một ngày; chỉ dụ đó quy định vĩnh viễn quyền sở hữu của người Pháp trên đất Bắc kỳ và An Nam.

Điều 3: Các lãnh thổ đó sẽ được giới hạn đúng như những bản vẽ kèm theo; việc cắm mốc đường chu vi của những nhượng địa ấy sẽ do các phái viên của quan toàn quyền Đông Pháp và quan Kinh lược (Bắc kỳ), những biên bản lập nên sau công việc cắm mốc và chứa đựng bản miêu tả chính xác những mảnh đất nhượng này cùng với các giới hạn của chúng sẽ được cất giữ trong kho lưu trữ của vương quốc Trẫm và của phủ toàn quyền.

Đồng Khánh
Chỉ dụ này đã được thông qua và có hiệu lực
Huế, ngày 3/10/1888
Toàn quyền Đông Dương
Richaud

(*) “Hồi ký và tư liệu châu Á”: quyển 73, trang 343-344.

—————–

Bình luận

Bản thân các sự kiện trên nói lên thực chất quá trình Pháp xâm lược Việt Nam. Từng phần, từng bước, từng hình thức thỏa thuận… đi đến thôn tính toàn bộ Việt Nam. Các Hiệp ước trên chỉ là sự lừa bịp, hợp pháp hóa, ràng buộc cuối cùng đi đến áp đặt nền đô hộ, gọi là bảo hộ trên toàn cõi Việt Nam. Ba lĩnh vực cơ bản của một quốc gia: kinh tế, quân sự và ngoại giao, đều nằm trong tay người Pháp. Nam Triều không có nguồn thu nào nên nó tồn tại do kinh phí của Phủ Toàn quyền cấp. Bảo Đại mua một cuốn album phải qua người Pháp duyệt, đến ba chữ ký (Daniel Grand Clément. Bảo Đại hay là những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam). Nói Pháp tôn trọng chủ quyền của Việt Nam dù là ở Hiệp ước 1862 và 1874 là không có cơ sở.

Thiên chức của sử học nếu chỉ tạo dựng những trang sử trên các cứ liệu lịch sử dù khách quan chân thật mà thiếu một quan điểm chủ đạo thì sẽ sa vào tình trạng như đã nêu trên, không phản ánh được bản chất của lịch sử. Sử liệu mới chỉ là bột. Nó nên hồ như thế nào là do bàn tay của người làm sử. Chỉ có quan điểm dân tộc – khoa học mới xuyên qua cái toàn bộ toàn diện, xuyên qua những cứ liệu sử liệu, nhìn thấy những quan hệ bản chất nhất đã tạo nên lịch sử dân tộc trong những không gian và thời gian nhất định. Điều khác nhau của chúng tôi với GS. Phan Huy Lê và Ban lãnh đạo Hội Sử học chính là ở đấy.

Ông Phạm Hùng cho biết: Chúng tôi đang dốc tâm, dồn sức hoàn thành cho kỳ được bộ Lịch sử Việt Nam 30 tập. Thời gian còn quá ít, mà công việc lại quá nhiều, hơn lúc nào hết chúng tôi đang cần, rất cần một sự bình yên để làm việc.

Sao lại phải như thế? Không có con đường bằng phẳng trong khoa học (Mác). Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: Nghệ thuật là lâu dài, thời gian là ngắn ngủi, có thể vận dụng cho nghiên cứu lịch sử. Thà chậm mà chắc chẳng hơn là hì hục cho nhanh. Chúng tôi hiểu làm sử là rất khó, khó nhất trong các bộ môn khoa học xã hội. Trung Quốc có truyền thống sử học như thế mà họ tự nhận số nhà sử học so với số nhà văn là rất ít. Chỉ độc đáo Việt Nam có 5.000 hội viên Hội KHLS trong khi Hội Nhà văn chỉ có 1.000 hội viên. Nếu cứ làm sử như ông Phạm Hùng e rằng bạn đọc sẽ bội thực sách sử học. Năm 2016 vừa cho ra bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập (NXB Khoa học xã hội) đến mấy vạn trang do TS. Trần Đức Cường làm tổng chủ biên. Nay lại làm cho kỳ được bộ Lịch sử Việt Nam 30 tập sẽ là nhiều vạn trang nữa thì chắc hẳn là bội thực. Trong khoa học nói chung và sử học nói riêng, không nên làm lấy được như thế. Và có khỏi chồng chéo không? Vì TS. Trần Đức Cường tổng chủ biên bộ trước có phải là đương kim Chủ tịch Hội KHLSVN không? Lần này ông có đứng ngoài Ban biên soạn không?

Về sự bình yên cho sử học, tôi mong ông Phạm Hùng không bị nhầm lẫn. Không gian làm việc của ông có bình yên hay không là chuyện cá nhân ông. Còn khoa học lịch sử mà mong bình yên thì sẽ ra cái gì, thành sử xanh hay sử bạch!

Chúng tôi không bao giờ ngây ngô đi chống lại việc biên soạn bộ quốc sử. Mà còn mong nó sớm ra đời với chất lượng khoa học cao. Vì vậy mà trao đổi, góp ý trong phạm vi nhận thức của mình. Thiết nghĩ, chúng tôi dù đúng hay sai đều có lợi cho ông, cho GS. Phan Huy Lê, cho TS. Trần Đức Cường và Ban biên soạn bộ quốc sử. Chúng tôi đúng thì các ông biết mà sửa sai. Chúng tôi sai thì các ông được khích lệ, tự tin. Vì còn có công chúng, có dư luận học thuật. Ta không nên nôn nóng, hằn học quá ông ạ.

Lấy tâm sự của một công dân khao khát quan tâm đến lịch sử nước nhà mà trao đổi, góp ý nếu có điều gì bất cập mong được thẳng thắn.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10-2017

Nguyễn Ngọc Quang (sưu tầm)
(Tiếp theo số báo 476, ngày 16-11-2017)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 477

 

Ý Kiến bạn đọc