Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Bình Nguyên Lộc – Tùy bút, thơ

 

Bình Nguyên Lộc mà tùy bút, thơ? Tưởng ông chỉ chuyên tìm hiểu nguồn gốc người Việt với “lột trần” tiếng Việt với viết truyện ngắn truyện dài thôi chứ?…

Thì gần đúng vậy. Bình Nguyên Lộc có viết tùy bút, nhưng rất ít. Ông lại càng ít khi thơ.

Chợt nghĩ, Bình Nguyên Lộc đã bỏ ra không biết bao nhiêu thì giờ để nghiên cứu những đề tài hóc búa và để hư cấu vô số truyện éo le, cùng lúc đã “hà tiện” quá đối với việc diễn thành lời những cảm giác cảm xúc tinh tế của mình mà qua số tùy bút, thơ hiếm hoi, ta có thể đoán chắc ông có được nhiều.

Sau đây là một số tác phẩm văn xuôi giàu chất tùy bút và một bài thơ của Bình Nguyên Lộc. Thiết tưởng lời văn lời thơ đây có giá trị gợi cảm và có cả một nét duyên riêng trên dáng chung Nam bộ. Hình như chính ông cũng lấy làm ưng ý và muốn sáng tác như thế nhiều hơn… Tiếc cho ông, cho cảnh này chuyện nọ vật kia, và cho người đọc chúng ta.

Quà đêm trên sông ông lãnh

“Nếu ban ngày con sông Ông Lãnh rộn rịp sanh hoạt với những ghe thương hồ (…) thì về đêm, một sự sống âm thầm nhưng không kém linh động (…) nổi lên trong khi người ta ngỡ sông đã ngủ yên (…) Một chiếc xuồng tam bản, chuồi êm rơ trên mặt nước, một mái chèo khua nhẹ trên dòng, một ngọn đèn dầu leo lét soi mờ bóng một cô chèo xuồng, rồi từ tất cả các thứ ấy, vẳng lên: “Ai… chè đậu… cháo cá… hông?”. Bất giác ta bị đẩy lùi về thế kỷ trước (…) “Bắp non mà nướng lửa lò / Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm” (…) Khách hàng dưới sông phần lớn là dân quê (…) Vì thế quà ở đây cũng nấu theo lối quê, thật thà nhưng đậm hương vị. Cháo cá ngọt cái chất ngọt của cá đen ở đồng chớ không phải ngọt ngay nhờ bột ngọt hóa học (…) Mùi thơm của chè đậu trắng gợi nhớ mùa chè cúng đưa ông Táo ngày hăm ba Tết ở làng xa (…) Ai đã ăn món xu xoa mật đường hạ trên kinh Tàu Hũ vào mùa nực chưa? Đường hạ đen sản xuất ở Biên Hòa tiết ra một mùi thơm đặc biệt mà đường cát trắng không có được (…) Ta cứ nghe như là phảng phất đâu đây mùi đồng áng, mùi lò đường tiểu công nghệ với những đêm dài nổi lửa đốt lò, với tiếng rít ghê rợn của các “ông che” (…) “Kẹo đậu phộng trà Huế hông?” (…) Ông già (…) đưa cao ấm nước trà đang sôi lên, rót trà xuống một tô nước lạnh (…) rót thế nào mà bọt dâng lên còn nhiều hơn là bọt bia, không khát nước, trông thấy cũng cứ thèm. Thích nhứt là xem ông già uống (mỗi khi có) khách quen thách (…) Một tô con rồng, thứ tô sứ giả sản xuất ở Lái Thiêu cách đây bốn mươi năm (…) to bằng năm tô thường (…) uống một hơi, không nghỉ để thở lần nào cả!”. Vậy là “gã Bình Nguyên Lộc” còn ưa “lang thang” dưới sông nữa, chớ đâu phải chỉ trên “hè phố”(1). Nhờ “gã” chịu khó đi rồi chịu khó ghi, mà nay ta mới được thấy chút ít hình ảnh của con sông Ông Lãnh, tức con kinh Tàu Hũ, tức con lạch Bến Nghé, một thời… Món bánh canh cá rô, “hay tệ lắm (…) cá lóc”, không biết có còn nhiều người thích ăn? “Con đò Thủ Thiêm”… Nè, khách chạy xe dưới đáy sông Sài Gòn bây giờ có biết chăng xưa kia, trên mặt nước ngay trên đầu mình, đêm đêm đã có một “cô bé (…) có tấm thân uốn éo như dòng sông uốn khúc” chèo qua chèo lại rao bán “bắp non”?…

So-629--Binh-Nguyen-Loc-Tuybut-tho---Anh-1

Những hàng me sài gòn

“Me! Cái tên mới thô lỗ làm sao chớ! (…) Nhưng nếu có những cô Thùy Dương, Yến Tuyết không đẹp bằng những chị Mén, chị Vầu, thì cũng có những cây anh đào, thanh tùng không đẹp bằng me, me Sài Gòn. Me vốn đã đẹp với thân cây đều đặn, không cao lỏng khỏng như dầu, không lùn tịt như sanh, đẹp với vỏ cây cằn cỗi gợi nhớ những cội tùng già bên chùa cổ trên một sườn non, với rêu xanh non mởn bám trên vỏ sậm đen, đẹp như non bộ dày sương dạn gió, với tàng không thưa, không xơ rơ như tàng sầu riêng, không dày mịt như măng cụt, vốn nó đã đẹp ở ngoài thiên nhiên rồi, mà trồng trên vỉa hè đá, bên cạnh những ngôi nhà xi-măng cốt sắt, khô, nóng và buồn, thì nó còn đẹp hơn biết bao! Ôi, những hàng me (…) giao nhành rợp bóng (…) bầu bạn của người đi bộ về trưa, những hàng me tò mò dòm vào các cửa sổ tư gia, gởi vào đó những lá nhỏ li ti trên tóc cô gái bé (…) Ôi, những hàng me chứa chấp cô Mùa, một cô gái quê ít dám léo hánh đến thành phố. Chính trên mớ tóc xanh biến màu theo thời tiết của ngươi mà những khách yêu thiên nhiên tìm dấu chân Mùa hằng năm len lén đến vài lần nơi thành phố. Lòng sầu xứ quê của những kẻ lạc loài (giữa) đô thị (…) được dịu đi vài phần khi nhìn những hàng me (…) ngả màu rồi lại thắm màu (…) Người mến thiên nhiên (…) hồi hộp lắng nghe bước chân Mùa trên xi-măng của thành phố. Ôi, những cây me ngủ chiều, gợi nhớ sự nghỉ ngơi của đồng áng, gợi nhớ những nỗi buồn tiền sử của loài người, khi chiều xuống họ hãi hùng nhìn cây ngủ, chim về, mặt trời chun xuống thiên nhai không biết ngày mai sẽ trở lại hay không… A… ha (…) những cây me rắn mắc (…) sau một trận mưa (…) đánh rơi xuống áo đẹp của ai những hột nước (…) Tôi thương Sài Gòn vì những hàng me” (1952). Bình Nguyên Lộc lang thang trên những vỉa hè Sài Gòn cách nay vậy mà cũng đã lâu lắm. Người đi rồi, nhưng vỉa hè còn ở lại, me cũng còn ở lại tuy phong độ so với trước chắc suy nhiều… Ông rất ưa ngó me, vừa vì mến me vừa do có ý muốn theo dõi “cô Mùa”. Tuồng như sợ nỗi nhớ mùa nọ mùa kia của mình chưa đủ dông dài, nhân thấy me ngủ chiều, ông bèn nhớ luôn tuốt về thời tiền sử! Những hàng me Sài Gòn bây giờ có bao nhiêu gốc đủ già để biết người xưa?

Âm thanh bí mật

“Sáng sáng (…) một giọng ngâm thơ trong trẻo nổi lên trong các xóm (…) “Đậu này nó nóng như Trương Phi / Giòn như pháo nổ, mua đi các bà!” (…) Đó là chị mù bán đậu rang (…) trước kia (…) đi hành khất (…) Chiều lại, một số hành khất chưa chịu “hoàn lương” hiến cho ta những phút (…) rưng rưng nước mắt (với) tiếng “kêu cơm” của họ (…) “Ớ… ơ bớ cơm, bớ gạo, làm doan, làm phước bố thí cho kẻ bần hàn…” (…) Đèn đường đã bừng cháy. Trời nóng bức (…) một thứ âm thanh huyền ảo (…) nổi lên (…) “Ai… bột khoai bún tàu… đậu xanh nước dừa đường cát hôn…”. Tiếng “cát” lên cao vút như đầu ngọn thông rồi hạ xuống tiếng “hôn” nó cứ mõn lần trong đêm tối như là giọng thỏ thẻ của một giai nhân” (1957). Ngâm sĩ khiếm thị có phải là một người Bắc? Ngoài bài đậu “Phi, pháo”, nếu thỉnh thoảng chịu khó hát xẩm cho bà con cô bác nghe chùa thì hay quá. Hơn sáu thập kỷ rồi, bây giờ đọc lại “Âm thanh bí mật”, người Sài Gòn có ai thấy bâng khuâng…

Lập đông ở miền đông

“Mặt trời mãi không thấy đâu hết từ sớm đến giờ. Mây trắng đục phủ cả vòm trời (…) Những hột mưa nhỏ xíu khi nhặt khi thưa cứ rơi mãi xuống (…) Thỉnh thoảng (…) bị gió (…) thổi tạt (…) giống như những sợi chỉ (…) đánh đòng đưa trước gió. Có khi (…) tréo lộn với nhau như tre đan. Có khi (…) bay như khói (…) Anh Chín cất cái chòi này giống như khoét một lỗ trong rừng. Chung quanh, thảo mộc xanh mịt đứng sững lên như thành giếng đóng rêu (…) ngước lên chỉ thấy một mảnh trời tròn, nhỏ. Gió bấc lướt trên ngọn cây, té vào giếng ấy như nước chảy vào chỗ trũng, và vì không có lối ra, gió quay cuồng, càng vặn thêm lòng người vốn đã lạnh. Cái buồn chiều hôm, cái buồn một ngày mưa, cái buồn đêm vắng cũng nghe không khó chịu bằng nỗi buồn nhìn cây lá xơ rơ trong gió. Nghe như là một cuộc tang thương đã qua đó, và cái gì cũng đã hết, đã chết, hoàn toàn trống rỗng từ ngoài vào đến bên trong (…) Lập đông đã dứt trong đêm rồi. Mưa bụi không rơi nữa. Mặt trời ban mai đã trở lại (…) Qua các lỗ trống trên tàng cây, ánh nắng lò (?) vào bóng râm, thành những tia ngay bót như cây cột đình (…) Cùng với tiếng ve rân (…) tiếng tố hộ, tố hộ của loài công vang dội từ gốc rừng này đến gốc rừng khác. Những man khê, suối dại rù rì đâu đó” (trích từ truyện ngắn “Thèm người”). Mắt “anh Chín” thấy ngộ ghê, mà lòng anh “nghe” cũng ngộ không kém. Đâu phải ai cũng cảm được cảnh vật “từ ngoài vào đến bên trong” như “anh”.

Câu dầm

“Tôi ưa đi câu, không phải để được cá bởi vì tôi nặng bóng vía lắm: “Cá không ăn câu, mồ cha con cá dại / Cần câu anh cầm, nghĩ lại con cá khôn” (…) Đi câu, đối với tôi là những giờ mà lòng được nhẹ bổng không buồn, không vui (…) mắt rình một tăm cá hay lơ đãng ngó theo bóng chim thằng chài xẹt mau như sao băng (…) ngắm “từng mây lơ lửng trời xanh ngắt”(…) hồi hộp nhìn cái phao chìm lần, chìm lần, nghe đầu cần câu nặng nặng. Rồi… roạch một cái, con cá gì đó đã sứt mép còn lưỡi câu thì góa mồi (…) Đi câu là ngắm những con sông, ngọn rạch (…) là vớt những trái tràm, những bụi cây rù rì trôi từ trên nguồn về để nghe nó kể lể chuyện rừng xanh. Tôi lại thích đi câu (…) ban đêm, những đêm mưa dầm (…) dầm mưa mà câu (…) hứng lấy những hột mưa nhọn hoắt, đón những ngọn gió lạnh quíu tay (…) bơ vơ trong bóng tối, thèm thuồng một ngọn đèn xa (…) lắng nghe (tiếng) côn trùng trong cỏ, trong lau… (…) tiếng vạc não nùng (…) tiếng gió vi vu… (…) Nhưng thích hơn hết, là (…) gặp ông Ba Sa (…) Ông Ba Sa là một người thuộc về âm. Ban ngày không ai thấy ông đâu hết (…) ông chỉ ra khỏi nhà lúc đỏ đèn (…) Thấy ngọn đèn leo lét đằng xa (…) khi nghe mình hiu quạnh cô đơn quá (…) tôi mò lần lại (…) Ông Ba cũng không tìm cách trốn tránh gì tôi, song cái miệng làm thinh của ông thì không ai cạy nổi. Nhưng tôi đã có chiếc đũa phép: một điếu thuốc mời, rồi hai điếu, rồi ba (…) Trong những lúc như vậy mới biết hút thuốc là sướng. Cái sức nóng nhỏ mọn (…) như thấm nhuần khắp châu thân, nghe như đỡ lạnh mình và lạnh lòng. Khói thuốc xui (…) cởi mở lòng (…) Ban đầu còn cụt ngủn, xẳng lè, lần lần thân mật, có bao nhiêu trút rót ra không tiếc. Một tiếng sét đằng xa vọng lại, tức thì ông Ba có chuyện để nói cho tôi nghe liền. Ông biết rất nhiều chuyện yêu ma và ở đây (…) rất thích hợp để gợi sự hãi hùng, rùng rợn”. “Người kỳ khôi” đi “câu dầm” không nhằm được cá, mà cốt được hứng mưa, đón gió, bơ vơ, thèm đèn, rợn người vì tiếng vạc, v.v… Nếu kế đến lại gặp được ông Ba Sa nữa, thì bữa câu đó đối với người đó là vui hết ý.

Hồn ma cũ

“Kỳ đẩy xe đạp qua các bờ đất, ra tới ngã ba Cầu Kinh, thì mặt nhựt mới tô lợt son tàu lên tấm nền trời dựng sau những ngọn dừa nước (…) Chợ Cũ còn dụi mắt, trừ các tiệm cà-phê (…) Kỳ ngồi trước chiếc bàn con đặt sát vách, không nhìn ai hết, cốt tránh thấy. Chàng muốn nghe nhiều và ngửi sâu. Ở đây có những tiếng, những mùi quen thuộc (…) Sau bếp, người thợ xíu mại bằm thịt bằng hai con dao Tàu (…) hạ lưỡi dao xuống thớt theo một nhịp điệu kỳ lạ, nghe như một khúc nhạc man rợ nhưng vẫn êm tai. Những anh phổ ky hô món ăn hoặc số tiền mà khách phải trả không phải bằng lời nói mà bằng lời hát (…) Mùi bánh bao hấp từ các xửng dưới lò bốc lên, mùi cà-phê rịn ra từ những chiếc vợt đầu tiên trong ngày (…) Tất cả những tiếng và mùi ấy tạo thành một không khí mà chàng rất thích (…) (Đặc biệt) những buổi sáng sớm mưa dầm (…) Ngoài trời mưa gió lạnh, mà ngồi được trước một tách cà-phê lên hơi, bên cạnh cái lò chụm trấu, thì thú tuyệt vời (…) Kỳ làm thinh, không kêu món uống. Thế mà anh phổ ky ấy đã hát lên (…) Đây là một tiệm cà-phê (…) có những khách lâu năm (…) Họ thuộc lòng từng ý muốn nhỏ của mỗi người (…) Ngày nào cũng thế, Kỳ ngồi đó như một vị tiên bất tử. Khách hàng, hết lớp nầy đến lớp kia ra vào, y như các thế hệ người kế tiếp nhau mà tàn mọc trên dương thế, còn chàng thì ở ngoại càn khôn mà nhìn những kiếp sống phù du”. Ngoài như vừa kể, còn có một điều nữa khiến Kỳ đặc biệt mến nơi đây. Đó là có lần “chàng” thấy một người khách “rót cà-phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”, y như đã thấy hồi còn nhỏ khi được cha dẫn theo vào quán. “Hồn ma cũ (…) giục chàng đến đó”… Thiết tưởng ngay cả những người không được “hồn ma” nào giục hết, đọc xong bài tùy bút này, chắc cũng có người muốn bước vô ngồi thử trong một “tiệm cà-phê các chú truyền thống”. Nhưng có còn cái nào đâu mà vô!

Mưa thu nhớ tằm

“Đi đường Trương Minh Giảng để ra ngoài đô thành, khi qua khỏi Cầu Mới, bên tay mặt khách, đâm ra một con đường phố mới, chưa có tên, tạm gọi là Lộ 18(2). Bên phía tay mặt phố là một xóm nhà lá (…) của đồng bào Quảng (…) Hôm tôi vào (…) trời giữa thu (…) Cuộc “phỏng vấn” đã chấm dứt, nhưng trời cứ mưa hoài, nên chúng tôi ngại ra về (…) Bỗng tôi (để ý) mắt bác Y luôn luôn nhìn ra góc trái sân nhà (…) Tôi nhìn theo (…) thấy (…) một cây dâu già (…) “Cây dâu nầy bác trồng à?”. “Dạ (…)”. “Để làm gì, rơ miệng cho các cháu?”. Ta có tục tẩy lưỡi trẻ con bằng lá dâu vì thứ lá nầy nhám. “Dạ không (…)”. “Vậy để đuổi tà ma?”. Bác Y mỉm cười: “Tôi không sợ ma quỉ cho lắm” (…) “Chớ bác trồng dâu làm gì?”. “Để cho nó giống làng tôi. Trong Nam nầy, ít khi tôi được thấy cây dâu (…)”. “Ngoài bác, người ta trồng dâu nuôi tằm hả?”. Nghe tiếng “tằm”, mắt bác Y bỗng sáng lên rồi ươn ướt. Tôi chợt hiểu (…) Bác quên tôi là người lạ, nắm lấy tay tôi (…) “Những ngày trời ủ dột như vầy, tôi nhớ nhà thì ít mà nhớ tằm sao mà như nhớ người tình nhơn đầu. Tôi nhớ “hén” lạnh, “hén” đói, vì (…) tìm ra dâu ráo cho “hén” ăn”. Bác Y nói đến con tằm mà y như người ta nói đến một người bạn (…) “Tôi trồng cây dâu nầy để sáng sáng, chiều chiều ra nhìn lá mà nhớ “hén”. Nhiều đêm (…) nghe văng vẳng tiếng rào rào, ngỡ “hén” đang ăn lên, tôi vụt ngồi dậy (…) thì không có gì hết. Buồn quá tôi thắp cây đèn dầu, chạy ra sân soi vào lá với hy vọng thấy một con tằm hoang (…) Tôi trồng cây dâu nầy đã mười năm, mỗi đêm mỗi trông đợi mà chưa lần nào thấy tằm hoang (…)” (…) Từ nhà ai ngoài sau, vọng đưa ra tiếng hát ru con: “Ù… Ơ… Em tôi buồn ngủ buồn nghê / Con tằm đỏ chín, con dê đỏ mùi” (1956). Trời, đọc Bình Nguyên Lộc mới biết cái khu dân cư đông đúc, cảnh rất khô khan, nơi mình lớn lên, trước đó không lâu nó đã là một “ngoại ô xa (…) khá nên thơ” có tre, có cả cây dâu tằm! Cầu Mới chắc là cây cầu thời VNCH gọi cầu Trương Minh Giảng, bắc qua con kênh Nhiêu Lộc nước đen như thuốc Bắc mà mùi thì… Không phải ngẫu nhiên Bình Nguyên Lộc vào xóm Quảng đâu. Ông gốc Quảng đó. Không biết năm xưa ấy, ông thắc mắc điều gì về quê cha đất tổ mà tìm đến bác Y?

Thơ ba mén

“Lạnh thấm lòng, mưa mai lác đác / Quán bên hè, uống tách cà-phê / Nhìn ghe bỗng chạnh tình quê / Rưng rưng nước mắt: tư bề người dưng / Bến Ông Lãnh màn mưa bao phủ / Ghe thương hồ ủ rũ dưới kia / Ghe ơi, vài bữa ghe về / Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không? / Mùi đất nước ruộng bùn phảng phất / Nhớ cố hương ngây ngất lòng sầu / Năm năm, bao cuộc bể dâu? / Phút giây in lại như hầu hôm qua / Bàn bên cạnh, một ông bới tóc / Liếc sang nhìn: đang khóc trộm thầm / Đoán mình là kẻ đồng tâm / Lân la nói chuyện. Mưa dầm cứ rơi. / Cà-phê nóng lên hơi nghi ngút / Lò than hồng lách tách nổ ran / Nghe người kể chuyện xóm làng / Cõi lòng ấm dịu, bàng hoàng, bâng khuâng / Viết lại đây mẩu đời luân lạc / Thương những người chìm nổi, đầy vơi / Thơ quê khôn tả hết lời / Để ghi dấu vết một thời chiến tranh”. Ghe thương hồ từ miền Tây lên, mà Bình Nguyên Lộc thì quê miền Đông, vậy cái người “nhìn ghe bỗng chạnh…” không phải là ông. Chắc do hay ngồi lâu ở “tiệm cà-phê các chú”, một hôm ông tình cờ thấy nghe được hai ông khách “đồng tâm” làm quen, nói chuyện với nhau… Tâm sự của “những người chìm nổi” làm ông “thương”… “Thơ quê” chơn chất đôi lời / Tình kia cảnh nọ rụng rời lòng ai!

Viết năm 2013
Sửa tháng 1-2021

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 629

———————
(1) Bình Nguyên Lộc có tác phẩm tên
Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc.
(2) Sau thành đường Trương Tấn Bửu, rồi Trần Quang Diệu.

Ý Kiến bạn đọc