Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Biểu tượng “Không gian nguồn cội” trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

 

Việt Bắc là bài thơ quan trọng trong đời thơ Tố Hữu. Bài thơ kết tinh những đặc trưng phong cách nghệ thuật của thơ. Bài thơ được tác giả sáng tác nhằm ghi dấu một sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10-1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Với Tố Hữu, Việt Bắc là nơi ông đã sống và gắn bó suốt thời kỳ kháng chiến, nay phải từ giã để cùng cơ quan Trung ương Đảng về thủ đô. Trong không khí lịch sử ấy và tâm trạng khi chia tay với Việt Bắc, Tố Hữu sáng tác bài Việt Bắc. Bài thơ gồm hai phần. Phần thứ nhất, tái hiện một giai đoạn gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỷ niệm sâu nặng trong lòng người. Phần hai, nói lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất nước và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đối với dân tộc. Để tri ân mảnh đất với bao nghĩa tình sâu đậm, Tố Hữu đã tạo tác nên biểu tượng “nguồn cuội” xuyên suốt bài thơ như một mã nghệ thuật đặc sắc.

So-569--Bieu-tuong-Khong-gian-nguon-coi-trong-bai-tho-Viet-bac-cua-To-Huu---Anh-3

Việt Bắc là bài thơ nồng nàn hơi thở của văn chương dân gian minh chứng rõ nét phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu. Thế nên để tri ân mảnh đất đã cưu mang chở che cho người cách mạng, là nguồn cội sâu nặng nghĩa tình, Tố Hữu để nhiều lần lặp đi lặp lại biểu tượng “nguồn” quen thuộc gần gũi trong ca dao:

- Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

- Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

- Nước trôi nước có về nguồn.

Những câu thơ trên gợi liên tưởng để những hình ảnh biểu trưng cho nguồn cội của mỗi con người vẫn thường thấy trong gia tài văn học dân gian.

- Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

(Ca dao)

- Cây có cội, nước có nguồn (Tục ngữ)

- Uống nước nhớ nguồn (Tục ngữ)

- Con người có tổ có tông

- Như cây có cội, như sông có nguồn

(Tục ngữ)

Và để cụ thể hóa biểu tượng nguồn cội, trong bài Việt Bắc,Tố Hữu lặp đi lặp lại nhiều lần những hình ảnh: Rừng, núi và nước tạo thành ba biểu tượng không gian nguồn cội xuyên suốt cả thi phẩm.

Trước tiên có thể nói Rừng – núi là biểu tượng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhất. Có đến 13 lần chữ “rừng” và 11 lần chữ “núi” được nhắc đi nhắc lại trong bài thơ. Rừng – núi đã được nhà thơ đề cập đến trong nhiều cảnh huống trong bài thơ. 

Có khi núi rừng là không gian đong đầy những kỷ niệm đẹp với tiếng mõ rừng chiều của bầy trâu lững thững đi về bản làng khi hoàng hôn dần buông:

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

Núi rừng Việt Bắc còn là nơi mà vẻ đẹp của con người hòa quyện vào cảnh sắc của thiên nhiên bốn mùa trong bức tranh “tứ bình” đặc sắc của bài thơ:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Có thể nói vẻ đẹp của rừng Việt Bắc qua đoạn thơ được tái dựng bằng hệ thống “màu” đặc trưng. Đó là “rừng xanh”, “rừng trắng”, “rừng vàng” ứng với từng mùa trong năm, qua đó tái hiện không gian đầy màu sắc, đầy sức sống rất đặc trưng của chiến khu Việt Bắc.

Bên cạnh đó núi rừng Việt Bắc lại được điểm xuyết bởi ánh trăng luôn là một hình ảnh đẹp trong ký ức của nhà thơ:

- Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

- Rừng thu trăng rọi hòa bình

- Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

Không gian núi rừng Việt Bắc và ánh trăng luôn trở đi trở lại không những trong thơ Tố Hữu mà còn là thi ảnh của nhiều bài thơ khác viết trong thời kỳ này. Hồ Chí Minh có những câu thơ hay về cảnh sắc núi rừng Việt Bắc đong đầy ánh trăng:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
(Cảnh khuya)

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạt cũ với xuân này.
(Cảnh rừng Việt Bắc)

So-569--Bieu-tuong-Khong-gian-nguon-coi-trong-bai-tho-Viet-bac-cua-To-Huu---Anh-4

Thế mới thấy đây chẳng những là không gian nguồn cội chở che người cách mạng qua những cuộc chiến cam go với kẻ thù mà đây còn là không gian cội nguồn của thi hứng, thi cảm.

Ngoài vẻ đẹp thi vị thì núi rừng Việt Bắc còn đóng vai trò quan trọng trong việc kề vai sát cánh với con người chiến đấu chống kẻ thù xâm lược:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù.

Hai câu thơ cuối cùng Núi giăng thành lũy sắt dày – Rừng che bộ đội rừng vây quân thù trong đoạn thơ nêu trên đã hoàn chỉnh ý nghĩa biểu tượng nguồn cội của hình ảnh rừng: Núi rừng vừa là tường thành vững chãi chở che cưu mang đồng thời cũng góp sức mình giúp người cách mạng chiến đấu với kẻ thù xâm lược.

Hơn thế nữa, núi rừng còn dâng tặng cho người cách mạng những gì quý giá nhất:

Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Bằng biện pháp nhân hóa rừng núi nhớ ai, Tố Hữu đã khắc họa sâu sắc nghĩa tình của núi rừng đối với người cách mạng. Đó là nghĩa tình tri kỷ tri âm. Trám để cho chín quá, măng mai để đến già đi vì người cách mạng đã về xuôi.

Tuy nhiên, người dân Việt Bắc cũng kín đáo nhắn nhủ người cách mạng:

Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng
Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?

Mặc dù có chút băn khoăn (dù thoáng qua) nhưng không gian nguồn cội núi rừng Việt Bắc luôn luôn dang tay chào đón người cách mạng mai này sẽ trở lại chốn cũ, ôn lại những kỷ niệm khó phai nhòa sau bao năm gắn bó:

Đường về, đây đó gần thôi!
Hôm nay rời bản về nơi thị thành
Nhà cao chẳng khuất non xanh
Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường.
Ngày mai về lại thôn hương
Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về.

Đặc biệt, núi rừng Việt Bắc đã dành nhiều tình cảm mến yêu đối với Bác Hồ, lãnh tụ của Cách mạng Việt Nam:

Mình về với Bác đường xuôi
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người…

Bên cạnh hình ảnh núi rừng thì nước cũng là một biểu tượng của không gian nguồn cội. Hình ảnh nước gắn với những thực thể như: sông, suối, ngòi, cũng trở đi trở lại nhiều lần trong thi phẩm. 

Có khi hình nước là một hình ảnh chung chung đơn thuần là biểu tượng của nguồn cội được gợi hứng từ văn chương dân gian:

- Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

- Nước trôi nước có về nguồn.

Có khi nước gắn với những địa danh cụ thể ở Việt Bắc:

- Nhớ từng rừng nứa bờ tre

- Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

- Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng.

Những kỷ niệm về Việt Bắc đâu chỉ có thiên nhiên tươi đẹp mà còn có biết bao khó khăn, gian khổ gắn với hình ảnh “nước”:

Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù.

Suối lũ là hệ quả của những cơn mưa nguồn, người cách mạng đã có những năm tháng phải sống trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt và địa hình không thuận lợi. Tuy nhiên, chính những điều đó lại trở thành những ấn tượng khó phai trong tâm tư của người cách mạng.

Những con suối ở Việt Bắc, trong điều kiện thời tiết bình thường lại rất thi vị, lãng mạn trữ tình:

- Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

- Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo.

Những câu thơ này trong bài Việt Bắc lại khiến cho người đọc nhớ nhiều đến câu thơ nổi tiếng của Bác Hồ trong bài “Cảnh khuya”, câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.

Những biểu tượng “không gian nguồn cội” nghĩa tình trong bài thơ Việt Bắc đã được nhà thơ tạo dựng thành công trong việc thể hiện nỗi nhớ, sự tri ân của người cách mạng đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc một lòng son sắt thủy chung với cách mạng. Đấy chính là những mã khóa nghệ thuật giúp người đọc có thể cảm nhận một cách sâu sắc hơn thi phẩm đặc sắc Việt Bắc.

Trầm Thanh Tuấn
(GV Trường THPT Long Hiệp – tỉnh Trà Vinh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 569

Ý Kiến bạn đọc