Tản văn

Biên giới An Giang một thời phải nhớ

Dù đã nhiều năm trôi qua rồi lòng tôi vẫn không quên được những năm tháng quân ngũ ngắn ngủi của đời mình ở vùng biên giới An Giang…

Nỗi nhớ thương đầu tiên tôi xin được cúi đầu tưởng nhớ trước cái chết thương tâm của hơn 3.000 đồng bào xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang. Tại đây, trong một ngày tháng 4/1978, bọn đao phủ Pôn Pốt đã sát hại dã man gần 1/3 dân số của xã (*). Ngày ấy, khi đơn vị chúng tôi theo những chuyến xe GMC đến được tận nơi thì bọn đồ tể đã “hoàn thành” cái việc trời không dung đất không tha ấy đối với đồng bào ta. Và sau cơn say máu tàn sát người vô tội, cả trung đoàn “thiện chiến” Pôn Pốt đã rút lên núi Phú Cường lẩn trốn.

Ban-chi-huy-Dai-doi-5-BDBP-An-Giang
Ban chỉ huy Đại đội 5 BĐBP An Giang.

Một chiếc trực thăng của ta vè vè lượn trên đầu, giảm dần độ cao, tìm bãi đáp rồi từ từ hạ xuống. Cánh quạt máy bay tạo nên một cơn lốc nhỏ xô ngã những ngọn lau và tạo ra từng lớp sóng lăn tăn trên cánh đồng lúa xa xa. Đâu đó một đàn quạ hoảng hốt vỗ cánh loạn xạ bay lên. Tiếng “quà quạ” cất lên kéo dài trong chiều lặng nghe thật rùng rợn, bi ai. Một đoàn nhà báo quốc tế gồm các phóng viên Liên Xô (cũ), người Pháp, người Nhật, người Ba Lan, người Hunggari… từ trong máy bay bước ra. Họ lặng lẽ bỏ mũ cúi đầu đi chầm chậm đến sân vận động xã là nơi bọn sát nhân dồn gần 600 người tập trung lại để dễ giết gọn. Họ đứng từ xa hướng máy quay phim, máy ảnh về phía đó. Không hiếm người vừa thao tác công việc, vừa rút khăn đưa lên dụi mắt… Không chỉ ở sân vận động này, ở bờ kênh Vĩnh Tế xác người dân vô tội còn nhiều hơn, gần 700 người. Ở chùa Phi Lai trên 300 người. Trong các đường làng, ngõ xóm, sàn nhà, bờ ao, trường học… nơi nào cũng có xác người chết. Xác người ngổn ngang, chồng chất, chết đủ các tư thế… Một trăm phần trăm nhà cửa trong xã bị chúng đốt cháy, hàng trăm con trâu bò bị chúng bắn chết. Cây cối, vườn tược, hoa màu, chum đựng nước cũng bị chúng phá phách, đập vỡ. Ở các bãi xác tập thể, đồng bào ta chủ yếu chết do bị dồn lại, bị bắt xếp hàng và bọn lính đứng từ xa dùng đại liên, súng chống tăng B40, B41, M71, M72, súng phóng lựu M79… bắn xả vào. Hàng trăm người trong đó có những em bé chưa đầy tuổi bị chúng đập đầu bằng báng súng. Hàng chục thanh niên bị chúng cắt cổ, moi mắt, phanh thây, xé xác. Nhiều phụ nữ có thai, nhiều em bé khi chết miệng còn ngậm vú mẹ. Thảm thương nhất là phụ nữ, đa số các cô gái, sau khi bị hãm hiếp, bị bắn chết còn bị chúng lột hết quần áo dùng cọc tre vót nhọn cắm vào cửa mình. Một nhà báo nữ bỗng kêu rú lên, ôm mặt bỏ chạy về phía máy bay khi chị nhìn thấy một bé gái chừng 12, 13 tuổi không một mảnh vải che thân, nằm ngửa, với chiếc cọc tre đâm thẳng xuống người…

Anh Hoàng Đình Mác, đại đội trưởng; anh Phạm Thanh Đuyền, đại đội phó, mặt sắt lại, hai vành môi mím chặt, rướm máu. Chính trị viên phó Bùi Ngọc Giáp chỉ trong vài tiếng đồng hồ mà râu dài ra trông thấy. Mấy người bạn tôi dụi mắt vào vai áo nhau. Tôi quỳ xuống, tay cào trên đất, bàn tay tuổi 19 xé nát cả vầng cỏ. Trời bỗng như đen đặc lại. Gió ngừng thổi. Một không khí tang thương chụp lên cánh đồng. Tôi nhìn những chiếc cọc tre dựng chéo đều đều, cách quãng, những xác chết chồng chất lên nhau, bốc mùi tử khí nồng nặc, tự hỏi: má Sáu Nhơn, bác Hai Ngàn, chị Năm Vui, anh Ba Hòa, bé Ni, bé Nghĩa… nằm chỗ nào? Tôi nhớ vô cùng má Sáu Nhơn, bà má có chồng hy sinh hồi chống Pháp, có con hy sinh hồi chống Mỹ đã thương chúng tôi như con đẻ, ngày chúng tôi mới từ Bắc vào, đóng quân trong nhà má. Và cả bác Hai Ngàn, theo đạo Hiếu Nghĩa, tóc để dài, búi thành búi sau gáy, leo hái gần hết quả chục cây dừa nhà mình cho chúng tôi uống, sau mỗi đêm chúng tôi bám chốt trở về. “Tụi bây ngoài miền Trung vô đây, tuổi còn nhỏ quá! Đã có đứa nào lấy vợ hay lỡ hứa với người thương chưa? Chưa có thì ráng bám lại đây, mai kia hết mấy thằng giặc tụi tao gả con gái cho, hay làm mai con gái nhà khác cho rồi cắm nhà, ở rể đây luôn, được hôn?” – Má Sáu nói vậy. Còn bác Hai Ngàn thì: “Tụi bay cứ cầm cả đi mà hút. Thuốc rê tao trồng được chớ có mua bán gì mà lo. Mà dẫu có mua, tao cũng đủ sức cho tụi bay xài xả láng”. Cả các em nữa. Con gái Bảy Núi xinh đẹp, dịu hiền, dễ thương, làm rẫy suốt ngày, tối về giã bàng đan đệm thâu đêm. Bây giờ thì thế này đây. Chúng tôi xếp hàng, ngả mũ, cúi đầu. Bè lũ Pôn Pốt hãy nhớ lấy! Cô bác Ba Chúc ơi, chúng con nguyện trả mối thù này!

Chien-si-Dai-doi-5-BDBP-An-Giang-tai-diem-chot-Phu-Loi
Chiến sĩ Đại đội 5 BĐBP An Giang tại điểm chốt Phú Lợi.

Liên tục những tháng sau, các đơn vị vũ trang có mặt trên đất An Giang đã dấy lên phong trào “Thi đua giết giặc, bảo vệ biên giới, trả thù cho đồng bào Ba Chúc”. Nhiều trận đánh đã diễn ra. Địch bị đánh đuổi, tiêu hao phải tháo chạy về bên kia biên giới. Có lẽ tiêu biểu nhất là trận núi Phú Cường diễn ra sau vụ thảm sát Ba Chúc không lâu. Trận này, bộ đội ta đã phối hợp bao vây, đánh một trận tuyệt đẹp, diệt gọn trên 1.000 tên xâm lược, lại đánh trúng những kẻ đã trực tiếp gây ra vụ Ba Chúc. Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin ngay sau đó. Đại đội 2 (sau đổi là đại đội 5) của tôi ra đi từ đất lửa Bình-Trị-Thiên trở thành “quả đấm thép” của Công an vũ trang An Giang, có nhiệm vụ cơ động, chi viện chiến đấu cho tất cả các điểm chốt biên phòng trên tuyến biên giới An Giang, từ xã Vĩnh Gia giáp tỉnh Kiên Giang đến xã Vĩnh Xương giáp tỉnh Đồng Tháp. Thời điểm này bọn Pôn Pốt cũng phát động “tổng động viên” với quy mô toàn diện hơn. Con bạch tuộc khi chưa bị đập nát đầu thì cái vòi của nó còn ngọ nguậy, chui rúc, trở nên tàn bạo, hung hãn hơn lúc nào hết. Và đó đây, máu đồng bào, đồng chí của chúng ta vẫn ngày đêm còn thấm đỏ đất biên cương.

Nỗi nhớ trong tôi tuần tự trôi theo năm tháng. Tôi nhớ mãi trận chiến đấu phối hợp giữa đơn vị tôi với các đơn vị bạn để lấy lại hai xã Khánh An và Khánh Bình thuộc huyện Phú Châu, vừa rơi vào tay 6 tiểu đoàn chủ lực Khơme đỏ, mà trong đó có 4 tiểu đoàn vừa được Pôn Pốt phong tặng danh hiệu “anh hùng”… Tôi không sao quên được hình ảnh Hoàng Kim Long, người chiến sĩ 19 tuổi, quê Thái Bình đã dùng dao khắc vào khẩu DKZ hai chữ “căm thù” để rồi ngày hôm sau, trong một trận chiến đấu không cân sức, cả anh và khẩu súng mãi mãi đi vào huyền thoại, tô thắm trang sử vàng truyền thống của lực lượng Bộ đội Biên phòng Việt Nam và tiếng thơm ngàn năm cho tỉnh lúa Thái Bình. Hoàng Kim Long đã được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang sau đó. Tôi cũng không sao quên được một đồng hương, đồng đội của tôi: Lê Văn Hòa. Lê Văn Hòa khi bị đạn xăm nát mình vẫn còn kịp thời gian dùng hai tay bóp chết tên lính giữ súng máy chỉ vì nó ngoan cố, không chịu đầu hàng. Rồi Phan Trung Trẻ, quê ở Vĩnh Quang, Vĩnh Linh, có biệt hiệu “Anh hề” trong đại đội, trước khi bị đạn M79 cắt gọn một bàn tay, đã kịp dùng bàn tay còn lại ấn nút cho quả mìn định hướng DH10 nổ tung, làm gần chục tên lính “áo đen” tung lên trời. Rồi Võ Ngọc Kế “răng vàng” quê Quảng Bình, thằng bạn thân nhất của tôi, được mệnh danh là “Con hổ” của đại đội, chiến đấu cực kỳ dũng cảm, nhanh như sóc. Trong trận ấp Phú Lợi, xã Phú Hữu, một mình Kế với khẩu súng AK đã án ngữ tại một chân cầu, không cho địch tràn lên, diệt tại chỗ trên 10 tên. Rồi Hồ Trọng Bá cũng quê ở Quảng Bình, thường gọi là “Bá béo” vì nó có thân hình cao to nhất đại đội, giữ hỏa lực B41, chỉ một phát đạn làm rụi cả một tiểu đội địch. Rồi Phúc “ròm” vì quá gầy, Phúc “híp” vì hay ngủ, và Phúc “bãi tha ma” vì mặt nhiều mụn trứng cá. Tôi cũng nhớ Ca “khỉ đột” vì bị lửa đạn B40 thiêu sém cả mặt mũi, tóc tai; Đờn “Chéc-nơ-mo” nhỏ con nhất đại đội… Thế đấy, một thằng mỗi biệt hiệu khác nhau nhưng tất cả giống nhau là đều chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, được cấp trên khen thưởng.

Dai-doi-5-don-nhan-co-Tuoi-tre-anh-hung-bao-ve-To-quoc-do-Trung-uong-doan-tang
Đại đội 5 đón nhận cờ “Tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc” do Trung ương Đoàn tặng.
(Ảnh do tác giả cung cấp)

Kể lại chuyện này làm tôi nhớ đến một chuyện khác và đây chính là kỷ niệm sâu lắng nhất trong đời tôi. Khi lành vết thương ở lần bị thương thứ nhất trở về đơn vị, tôi được bổ sung vào tiểu đội “mũi nhọn” do Hồ Văn Ưu quê ở tỉnh Thừa Thiên (tôi không nhớ huyện, xã nào) làm tiểu đội trưởng. Trước đây tôi và Ưu không thân nhau lắm và nói chung chỉ biết nhau một cách hờ hững, mờ nhạt do cùng sống trong một đại đội. Nhưng từ khi được ở gần anh, chiến đấu bên anh, tinh thần hết sức mưu trí, dũng cảm toát lên từ con người anh đã làm tôi rất đỗi quý mến, cảm phục. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ dáng người anh: thấp, nhỏ, nước da đen cháy, nên cũng có biệt hiệu là “Ưu đen” và nhanh nhẹn, tháo vát đến lạ kỳ. Có lẽ do đặc điểm này mà ban chỉ huy đại đội chọn anh đảm nhận cái tiểu đội chủ công. Ưu có đôi mắt to, đen và cái nhìn sắc lạnh, hơi có vẻ tàn nhẫn. Đôi mắt ấy thật khó xiêu lòng người đẹp nhưng lại rất cần thiết cho một người lính lúc giáp trận. Nhìn vào mắt Ưu – dù trong hoàn cảnh nào: gian khổ, ác liệt, có lúc sự sống như treo đầu sợi tóc – tôi vẫn thấy rất vững tâm. Có một lần trước khi vào trận đánh, tôi và Ưu ngả lưng bên nhau, cạnh một cây xoài lớn. Chân Ưu gác nhẹ lên chân tôi và Ưu thổ lộ:

- Tao có người yêu ở Huế chuyên bán bún giò. Cô ấy không đẹp nhưng hiền và hay khóc. Hôm chia tay ra đi, cô ấy khóc ướt cả áo tao, khiến tao không nhịn được cũng khóc theo. Mai mốt yên giặc, trở lại Huế, tao sẽ cưới cô ấy và chúng tao sẽ mở quán bán bún giò. Bún giò người yêu tao làm ngon lắm! Sau này trở lại Bình-Trị-Thiên, mày vô Huế, chúng tao sẽ đãi mày…

Trận đánh xảy ra ngay sau đó, cắt ngang câu chuyện của chúng tôi. Gần một ngày quần nhau với địch, đến khoảng gần 4 giờ chiều thì Ưu trúng đạn địch hy sinh. Ưu chết trong tư thế quỳ hai chân bên bờ kênh, cạnh cây xoài lớn. Dáng lưng Ưu vẫn thẳng, chỉ có cái mũ cối trên đầu là hơi cụp về một bên. Khẩu AK báng gập trong tay Ưu vẫn gác trên bờ công sự, nòng chĩa về phía trước. Trung đội trưởng Phạm Văn Tiến và tôi chạy đến, luống cuống ôm lấy Ưu lay gọi một cách tuyệt vọng. Cả vạt áo sau lưng và hai bờ vai Ưu thấm đỏ máu. Lật chiếc mũ cối trên đầu Ưu ra, hai chúng tôi giật thót người, đưa mắt nhìn nhau. Anh Phạm Văn Tiến miệng méo xệch lại như mếu, còn tôi hai tay đưa vội lên bưng lấy mặt. Trời ơi, hai con mắt của Ưu, do bị sức ép cực mạnh của một quả DKZ nổ trên cây, đẩy hẳn ra ngoài dài khoảng hai đốt ngón tay đeo lủng lẳng hai bên gò má. Thêm hai mảnh nhỏ xuyên qua mũ cối vào đầu. Chúng tôi nhẹ nhàng đỡ Ưu nằm xuống, thận trọng ấn hai con mắt vào vị trí cũ. Xung quanh tiếng bọn lính Pôn Pốt vẫn la hét om sòm. Tiếng đạn nổ chát chúa không một giây ngừng nghỉ. Không thể để xác đồng đội mình rơi vào tay lũ giặc, nếu chẳng may mất chốt. Anh Phạm Văn Tiến ra lệnh cho tôi phải đưa ngay Ưu ra khỏi trận địa. Tôi chấp hành. Nhưng đưa Ưu ra bằng cách nào đây là việc chúng tôi phải lúng túng mất một hồi. Bế ư? Cõng ư? Bế thì không thể mà cõng thì không dễ. Cõng một người còn sống cho dù nặng cỡ nào cũng là việc dễ dàng. Đằng này một người đã chết thì quả là điều nan giải. Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm được cách khắc phục. Tôi cúi xuống, dạng hai chân, gập hẳn người xuống. Anh trung đội trưởng và một người nữa nâng bổng Ưu, đặt lên lưng tôi, cho hai tay quàng qua vai tôi, thõng xuống ngực. Mặt Ưu áp lên đầu tôi. Tay phải tôi bắt chéo lên, túm chặt cổ áo Ưu. Tay trái quàng ra phía sau nắm lấy thắt lưng Ưu. Rồi cứ trong tư thế lom khom như vậy, tôi vừa đi vừa chạy một mạch gần 500 mét ra đến chỗ quy định. Tưởng đã hoàn thành nhiệm vụ, nào ngờ khi đặt Ưu xuống, nhìn vào đôi mắt bị sức ép thì con mắt bên trái không còn nữa, nó đã rơi ở đâu đó dọc đường. Trên đường quay lại, tôi tìm kiếm một hồi lâu nhưng không thấy. Trung đội trưởng nghe tôi báo cáo, mặt anh nghiêm lại và tiếng anh dõng dạc, tôi có cảm tưởng như át cả tiếng đạn gầm:

- Đồng chí phải quay ngay lại, bằng mọi giá tìm cho được con mắt của đồng chí Hồ Văn Ưu.

- Rõ! – Lần đầu tiên trong đời bộ đội, tôi đáp lệnh chỉ huy sao mà mạnh mẽ, trang nghiêm. Tiếng “Rõ” hôm ấy như có sức mạnh gấp đôi, rung lên, dồn nén trong ngực tôi. Và thế là sau nửa giờ quay lui quay tới tìm kiếm, tôi đã tìm lại được con mắt của Hồ Văn Ưu. Tôi ghé miệng thổi đi những con kiến, hạt bụi, rồi đặt con mắt của đồng đội lên lòng bàn tay mình và đứng lặng một hồi lâu ngắm nhìn. Thật kỳ lạ, chẳng khác khi còn sống là bao, con mắt của Ưu vẫn to, đen, sắc lạnh. Chỉ có khác là bây giờ nó không nằm trên một khuôn mặt, cho dẫu chỉ là khuôn mặt của một người đã chết. Mà rời hẳn ra, to và dài bằng hai ngón tay cái gộp lại và bầm đen những máu. Tôi bỗng nhớ tới lời Ưu nói với tôi lúc nãy: “… Bún giò người yêu tao làm ngon lắm! Sau này trở lại Bình-Trị-Thiên, mày vô Huế, chúng tao sẽ đãi mày…”.

Hồ Văn Ưu ơi! Khát vọng của anh thế là mãi hoài dang dở. Tôi vẫn nhớ anh. Nhớ lời hẹn của anh chỉ một ngày trước khi anh chết. Tôi đã trở lại quê hương, đã một đôi lần lang thang trên các vỉa hè phố Huế. Gặp ai bán bún giò là tôi ghé vô ăn, rồi lân la hỏi chuyện. Tôi không biết người yêu của anh tên gì và ở nơi nào giữa Huế mộng mơ. Nhưng tôi vẫn hằng tin trong số những người tôi ăn bún giò có một người con gái hay khóc là người yêu của anh…

Sau trận ấy, đơn vị tôi còn tham gia nhiều trận khác. Và ở trận chốt Bắc Đai, tôi bị thương lần thứ hai. Được nửa năm sau, chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc. Đại đội 5 tiếp tục hành quân qua biên giới Campuchia – Thái Lan làm nghĩa vụ quốc tế. Tôi do không đủ sức khỏe, phải ở lại công tác ở một đồn Biên phòng rồi sau đó vài năm, ra quân.

Thời gian như ngọn gió, chẳng thể đợi chờ ai. Thấm thoát thế mà đã mấy mươi mùa xuân đi qua. Tôi đã ứa nước mắt khi ngồi ghi lại những dòng này. Tôi thả hồn tôi ngược dòng thời gian, trôi về với dĩ vãng, nhớ lại một thời đã qua, nhớ về một miền biên cương, nơi ấy có những đồng bào, đồng chí đã một thời cùng tôi gắn bó thân thương, gần gũi. Gần 100 cán bộ, chiến sĩ chủ yếu là con em ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ra đi từ thị trấn Hồ Xá (Vĩnh Linh) ngày 17/5/1977, đến hôm nay ai còn ai mất? Các anh Trương Quang Hiệt, Phạm Thanh Đuyền, Nguyễn Thanh Khâm, Bùi Đức Xinh, Võ Ngọc Kế, Phạm Anh Hùng, Hoàng Trọng Thanh, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Lường, Hồ Trọng Bá, Nguyễn Tường Nguyên… bây giờ ở đâu và làm gì? Các anh ơi! Tôi vẫn hằng nhớ đến các anh. Có những đêm không ngủ, tôi thầm gọi tên các anh. Các anh hãy cùng tôi sống lại những năm tháng ấy. Những năm tháng đã tôi luyện trong ta không phải chỉ bằng lòng quả cảm trong chiến đấu mà còn cả thắt ruột thắt gan vì thương yêu đồng chí, đồng bào. Các anh hãy cùng tôi nhớ về miền biên cương ấy. Một thời để nhớ và một thời để thương!

Nguyễn Ngọc Chiến
(Hội VHNT Quảng Trị)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 395

______

(*) Hiện nay, tại xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang, chính quyền và nhân dân địa phương đã xây dựng một khu nhà tưởng niệm gọi là “Nhà mồ Ba Chúc” tập trung hơn 3.000 bộ hài cốt cùng nhiều tang vật liên quan đến vụ thảm sát do binh lính Pôn Pốt gây ra đối với nhân dân trong xã vào năm 1978.

Ý Kiến bạn đọc