Ngoài nước

Bí mật trong căn hầm ngầm của Hítle

Vécvonphơ (Vervolf) Là Căn Hầm Ngầm Hết Sức Kiên Cố Được Xây Dựng Trên Lãnh Thổ Ucraina Dành Riêng Cho Hítle. Công Trình Này Có Nhiệm Vụ Bảo Vệ Quốc Trưởng Khỏi Mọi Nguy Hiểm Có Thể Xảy Ra. Song Theo Sự Khẳng Định Của Các Nhà Khoa Học Hiện Nay, Căn Hầm Ngầm Bí Mật Này Lại Chính Là Cái Bẫy Phóng Xạ Rất Quỷ Quyệt Có Thể Gây Nên Cái Chết Kín Đáo, Dường Như Do Ghécman Gơrinh, Một Chiến Hữu Thân Cận Nhất Của Hítle, Đã Thiết Kế Cho Vị Thủ Lĩnh Của Đệ Tam Đế Chế.

Từ hình tượng con sói

Vécvonphơ, nếu dịch đúng từng chữ, có nghĩa là “con sói được vũ trang”. Cái tên này của đại bản doanh Đức quốc xã dưới mặt đất nằm ở vùng Vinixa (thuộc nước Cộng hòa Ucraina hiện nay) được đặt không phải là ngẫu nhiên. Hítle rất thích thú với những cái tên tượng trưng gắn liền với hình ảnh con sói. Hồi trẻ, hắn mang bí danh “Ngài sói”. Cái tên Ađônphơ được dịch từ tiếng cổ Hi Lạp có nghĩa là “con sói già hùng mạnh”.

Về căn hầm boong-ke Vécvônphơ, chưa mấy người được biết. Bọn quốc xã tìm mọi cách giữ kín chuyện này. Những tù binh xây dựng “hang sói” đều bị bắn chết rồi bị chôn trong một hố chung gần đấy. Các kỹ sư từng thiết kế và thực hiện công việc xây dựng công trình đó cũng chung một số phận. Họ được khen ngợi, được thưởng huân chương rồi được đưa lên máy bay dường như để trở về Đức. Nhưng trên đường đi, một trái mìn hẹn giờ cực mạnh đã làm nổ tung phi cơ và xóa sạch mọi dấu vết của các nhân chứng không cần thiết.

Vécvônphơ hoạt động từ mùa xuân năm 1942 đến tháng 3/1944, sau đó bị phá hủy và thiêu trụi khi quân Đức rút lui. Tất cả các phòng làm việc trong đại bản doanh Vécvônphơ là những ngôi nhà nhỏ kiểu lắp ghép. Chỉ riêng kiến trúc của bản dinh Hítle là khác với tất cả các tòa nhà khác. Nó liên kết thành một khu nhà trên mặt đất và một hầm cố thủ dưới mặt đất với những bức tường bê tông và những tấm che có chiều dày từ 2,5m đến 4m. Hiện nay người ta được biết rằng – như việc khoan thăm dò cho thấy – ở phía dưới boong-ke là một vỉa granít rất lớn. Bởi thế căn hầm của quốc trưởng, xét về thực chất được đặt vào trong đá.

Cái bẫy quỷ quyệt?

Vậy thì nguy cơ phóng xạ là ở đâu? Vấn đề là ở chỗ loại đá dùng để xây hầm ngầm của Hítle là một loại đá quỷ quyệt. Sự phân tích quang phổ đã cho thấy ở trong đá có chất phóng xạ rất mạnh. Điều đó có nghĩa là ở ngoài trời những tảng đá này không làm hại ai cả. Đi dạo trên những phiến đá ấy hay nằm phơi nắng trên chúng là vô cùng thoải mái. Song nếu dùng thứ đá đó trong căn phòng không thông thoáng hoặc tồi tệ hơn nữa – trong căn hầm dưới tầng nhà thì hãy coi chừng. Nguy cơ là do chất khí phóng xạ nặng nề, radon – 222 tiết ra từ đá. Không mầu sắc và không mùi vị, nặng hơn không khí 7,5 lần, nó được tích tụ trong những căn phòng kín và là mối đe dọa đáng kể cho sức khỏe của những ai sống tại đây.

So-495--Ghecman-Gorinh---Anh-1
Ghécman Gơrinh “nhân vật số 2” của Đức quốc xã.

Liệu có bằng chứng về việc chất radon có thể ảnh hưởng đến Hítle vốn từng sống trong Vécvônphơ không ít thời gian. Những bằng chứng trực tiếp tất nhiên là không có. Song một số tài liệu còn lưu giữ được có thể cho nhà chuyên môn biết nhiều điều. Sau đây là một số dẫn chứng.

“Mùa thu năm 1942, ở Vinixa rất oi bức. Hítle rất mệt vì nóng nực”. Câu này được rút ra từ lời khai của viên sĩ quan bảo vệ Vécvônphơ tên là Genar Bécner. Mà lúc nóng nực, như mọi người đều biết, xạ khí radon tăng gấp 3 lần so với những điều kiện bình thường. Ngoài ra, liều lượng khuếch tán của radon trong phòng kín không thông thoáng cao hơn nhiều. Sau khi tăng nhiệt độ mà có thể có trong boong-ke và biết rõ hoạt tính của vật liệu xây dựng, các chuyên gia có thể tính toán rằng nồng độ cho phép tối đa của các chất phóng xạ trong hầm ngầm của Hítle đã vượt quá mức cho phép tới 500 (!) lần.

Lần đầu tiên Hítle cảm thấy rất khó chịu vào tháng 7/1942: nhức đầu, áp huyết tăng vọt, tay bắt đầu run rẩy. Sau đó ít lâu, Hítle buột miệng nói một câu mà những người thính tai không thể bỏ qua: “Từ đầu chiến tranh đến nay quốc trưởng đã già đi tới 15 tuổi”. Từ đó những lời này đã làm cho các thầy thuốc và các nhà sử học muốn hiểu rõ nguyên nhân căn bệnh của vị thủ lĩnh Đức quốc xã, rất đỗi băn khoăn.

Các bác sĩ tranh nhau chẩn đoán: liệt năng, bệnh hoang tưởng… Nhưng năm 1996, nhà sử học Anh quốc Đêvít Iếcvingơ đã nghiên cứu những tài liệu lưu trữ riêng của bác sĩ Moren là người từng điều trị cho Hítle từ năm 1937 đến 1945 và đã đi tới kết luận rằng bệnh nhân A (bí danh của Hítle trong y bạ) không bị liệt năng, không mắc các bệnh lệch lạc tình dục, không mắc bệnh páckinxơn (bệnh liệt rung), không mắc bệnh tinh thần phân lập hoặc bệnh hoang tưởng bộ phận.

Vậy thì căn bệnh nào ám ảnh quốc trưởng? Bởi lẽ mùa đông năm 1943 Hítle mỗi ngày uống khoảng 120 đến 150 viên thuốc và… tiếp tục già đi một cách đột biến. Những người chứng kiến đã nhận xét rằng ở Hítle, “giọng càng ngày càng khàn, cảm giác thăng bằng bị mất đi (trong các cuộc dạo chơi, quốc trưởng đi lệch về một bên), chân tay run rẩy, thị lực kém dần, cẳng chân sưng to”.

“Ađônphơ bị những cơn đau đầu khủng khiếp hành hạ, ông còn bị đau răng. Trong tháng 9, ông bị một cơn đau tim, còn trong tháng 10 phải mổ dây thanh âm – ông nằm hàng giờ với vẻ dửng dưng lãnh đạm, chỉ nghĩ đến một thứ – sôcôla và bánh ngọt. Sự ưa thích của ngọt ở ông mang tính chất bệnh hoạn: mỗi ngày ông ăn hết 3 đĩa bánh ngọt”.

Kết quả là Hítle không hiểu vì lẽ gì đã già đi trước tuổi rất nhiều. Nhưng khi các chuyên gia về y học phóng xạ được xem “bệnh án” này, họ liền nói ngay rằng đó là bệnh phóng xạ.

Ở Hítle người ta còn quan sát thấy triệu chứng của sự khuếch tán – đó là sảng khoái bệnh lý (euphoria). Sự đánh giá tình hình một cách không tương ứng thường xuất hiện theo định kỳ ở những người mắc chứng khuếch tán và được biểu hiện bằng câu “biển cả sâu đến đầu gối”.

Nếu trong tháng 5, Hítle hấp thụ một liều lượng phóng xạ rất nguy hiểm thì trạng thái đầu tiên của sảng khoái bệnh lý đã có thể xuất hiện ngay trong tháng 7. Chính vào thời gian đó Hítle đã thay đổi kế hoạch tác chiến. Theo ý đồ ban đầu thì quân Đức trước tiên phải lần lượt tiến công Cápcadơ rồi mới đến Xtalingrát. Sau khi chiếm Cápcadơ và Xtalingrát, Hítle muốn qua Cápcadơ đưa những binh đoàn cơ động thiện chiến sang đánh Ấn Độ. Trong kho lưu trữ ở Béclin đến nay vẫn còn lưu giữ được kế hoạch đó – “Chỉ thị 41”.

Song tại Vécvonphơ, Hítle viết “Chỉ thị 45”, trong đó việc chiếm Cápcadơ và chiếm Xtalingrát được xem xét cùng một lúc. Tình hình diễn biến tiếp theo ra sao thì mọi người đã biết rõ: Xtalingrát đã trở thành điểm ngoặt của chiến tranh và của lịch sử thế kỷ XX.

Ai là thủ phạm?

Ai đã giáng cho Hítle cú đòn thâm hiểm đó?

Số phận hay thiên nhiên? Song có điều khiến chúng ta chú ý là cái bẫy Vécvonphơ dường như chỉ dành riêng cho một người – cho quốc trưởng mà thôi. Trong số 3 boong-ke của Vécvonphơ xây nổi trên mặt đất, một cái hoàn toàn trong sạch về mặt sinh thái. Chiếc boong-ke này dành cho binh lính. Trong khối bê tông của nó không có chất radon tỏa ra từ đá granít. Còn có một chiếc boong-ke nữa nằm ở đường biên của khu trung tâm, dành cho sĩ quan cao cấp. Nó không có liên quan đến chỗ ở của ai cả, bởi vậy tuy có đá granít nhưng không gây nguy hiểm cho ai. Chỉ có một boong-ke duy nhất – boong-ke căn hộ của Hítle là hết sức nguy hiểm.

Ngoài ra, chất radon tích tụ được chính là có ảnh hưởng mạnh nhất đối với Hítle. Bởi lẽ như mọi người đều biết trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, y lọt vào một cuộc tấn công bằng hơi ngạt. Đường hô hấp, niêm mạc của y bị bỏng nặng, do đó chúng rất nhạy cảm đối với sự tác động.

Vậy thì đó là sự ngẫu nhiên hay là cái bẫy thiên tài được bố trí cho quốc trưởng, một cái bẫy được suy tính rất tinh vi đến mức chỉ sau nhiều năm mới tạo lý do cho sự ngờ vực?

Vécvonphơ được thiết kế bởi các chuyên gia giỏi nhất của Đức, Ý và nhiều nước châu Âu khác. Trong số đó, tất nhiên, có những người rất am hiểu về khoáng sản, biết rõ mối nguy cơ phóng xạ có khả năng tiềm ẩn trong đá granít. Hơn nữa, cho dù ngành phóng xạ học có non trẻ đến mấy đi nữa thì nó cũng cho phép tính được nồng độ của chất rađium trong đá. Có thể các nhà thiết kế cũng đã nghĩ ra cách phán xử nham hiểm này đối với Hítle chăng? Nhưng tự họ hay theo lệnh của ai?

Một chi tiết đáng chú ý đã mách bảo đôi điều. Lúc đầu công trình ngầm này được xây dựng tại một địa điểm hoàn toàn khác và mãi về sau này mới được chuyển đến vùng Vinixa. Như tài liệu đã xác định, vị trí hiện nay của nó được gợi ý bởi Ghécman Gơrinh chứ không phải ai khác. Tiện thể cũng nói thêm rằng bản doanh của chính Gơrinh nằm cách đó 20 km. Nhưng ở đấy, cũng như đa số căn nhà của Vécvonphơ, thay vì loại đá granít quỷ quyệt của địa phương, người ta dùng đá cuội biển an toàn được chở hàng trăm tấn từ xa đến.

Gơrinh liệu có thể là tác giả của cái kế hoạch tinh xảo đó được không? Điều này không nên loại trừ. Gơrinh là “nhân vật quốc xã số 2” trong đệ tam đế chế. Về tính cách của y, có thể xét đoán qua lời của người em họ y là Ghécbéc Gơrinh. Ông ta cho biết Gơrinh có thói háo danh, sự sợ trách nhiệm và máu liều lĩnh. “Nếu cần, Ghécman này sẽ xéo lên những cái xác chết mà đi” – y huênh hoang tuyên bố. Như mọi người đều biết Gơrinh đã nhiều lần thực hiện chớp nhoáng những công việc của mình sau lưng Hítle. Chẳng hạn y đã bí mật thương luợng với đối phương mà không cho quốc trưởng biết. Mãi vào những ngày cuối cùng trước khi sụp đổ, Hítle mới biết chuyện này. Hắn liền ra lệnh bắt Gơrinh, tước hết mọi danh hiệu và huân chương… Vả lại, trước đó rất lâu, mối quan hệ giữa hai tên phát xít đầu sỏ này đã bị đổ vỡ. Có lẽ chính Gơrinh do muốn chiếm cái ghế quốc trưởng nên đã nghĩ ra cái bẫy nguy hiểm Vécvonphơ chăng?

Tất nhiên điều này chỉ là một giả thuyết. Bí mật của căn hầm ngầm này vẫn còn đó. Và vị tất chúng sẽ được khám phá hoàn toàn ngay cả khi người ta có thể khai quật những đống bê tông nằm ở phía trên bản doanh ngầm của Hítle ở Vinixa.

(Theo Trud – 7)

Lê Sơn (giới thiệu)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 495

Ý Kiến bạn đọc