Ngoài nước

Bí mật những mê cung cổ đại

Cách đây 5.000 năm, con người đã xây dựng những mê cung. Trong những nền văn hóa khác nhau trên thế giới, những công trình kỳ dị này tượng trưng cho con đường gian khổ, ngoằn ngoèo mà con người đã lần mò để đi tìm chân lý. Sức hấp dẫn của biểu tượng đó là ở chỗ nào? Tại sao cho đến nay nó vẫn lôi cuốn chúng ta?

Từ truyền thuyết trong thần thoại Hy Lạp…

Khái niệm mê cung (Labyrinthe) lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp và gắn liền với truyền thuyết về con quái vật nửa người nửa bò Minotor. Nói đến mê cung này, không thể không nhắc tới ý kiến của nhà văn Arhentina nổi tiếng J.L. Borges (1899 – 1986): “Ý tưởng xây dựng một tòa nhà để cho con người không thể tìm được lối ra khỏi nơi đó có lẽ còn kỳ quái hơn là con người mang đầu bò”.

Trong truyền thuyết này có 3 yếu tố quyện chặt với nhau: Tòa nhà không có lối ra, người đầu bò và lễ vật hiến tế.

Truyện kể rằng: Ngày xửa ngày xưa, vua Minôx (con trai của thần Dớt và nàng Ơrốp) lên ngôi trị vì trên đảo Crete. Một lần Minôx đã làm cho thần biển Podeiđông nổi giận vì không đem dâng ông ta một con bò tuyệt đẹp như đã hứa. Thần biển đã trả thù bằng cách làm dấy lên ở nàng Padiphai – vợ của Minôx những dục vọng vô độ trái tự nhiên: nàng đã ăn nằm với một con bò mộng và sinh ra đứa con đầu bò mình người, tên gọi là Minotor. Để giấu đứa con quái vật này, Minôx cho xây một mê cung – một cung điện dưới mặt đất thật lắt léo phức tạp để nhốt đứa con quái vật nọ. Đặc điểm của tòa nhà này là có đường vào nhưng không có đường ra.

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---Bi-mat-nhung-me-cung-co---Anh-1

Trong tòa mê cung bí hiểm ấy, Minotor ngày đêm lồng lộn để tìm lối thoát, nhưng vô vọng. Nó được nuôi dưỡng bằng thịt người, bởi vậy hàng năm mọi người phải đem nộp 7 chàng trai và 7 cô gái để cho Minotor ăn thịt. Tình trạng bi thảm này kéo dài gần 10 năm cho đến khi hoàng tử Têdê, người anh hùng của xứ Aten, trừ diệt được con quái vật. Chàng xin tự nguyện đi vào mê cung Labirantơ cùng với đoàn người cống vật để quyết một phen sống mái với Minotor. Để giúp Têdê tìm được đường ra khỏi mê cung, công chúa Arian, con gái vua Minôx, đã trao cho chàng một cuộn chỉ và dặn chàng cứ thả dần dần nó ra theo bước chân đi của mình. Chỉ có cách ấy mới có thể thoát chết. Nhờ vào cuộn chỉ của Arian, Têdê đã hoàn thành sứ mạng thiêng liêng cao quý của mình: chàng đã giết quái vật Minotor và lần theo sợi chỉ mà thoát ra khỏi cung điện Labirantơ.

Đấy là mê cung trong thần thoại Hy Lạp cách đây hơn 2.000 năm trước Công nguyên.

Đến mê cung trong hiện thực

Còn mê cung có thực mà chúng ta biết, được xây dựng mãi về sau này, khoảng chừng 1.600 năm trước Công nguyên. Công trình này nằm trong hoàng cung ở thủ đô Knoxơ trên đảo Crete. Các nhà khoa học không muốn tin vào truyền thuyết và cố hình dung xem mê cung có hình thù ra sao. Hiện nay họ ngả về ý kiến cho rằng ở đây nói đến một tòa nhà có những lối đi uốn lượn rất quanh co. Trong tòa nhà này người ta đã trình diễn những điệu múa nghi lễ và những vở diễn. Có thể nó được bảo vệ bởi những bức tường bằng đá.

Nhà sử học Đức German Kern, tác giả cuốn “Những mê cung” cho rằng thoạt kỳ thủy trong những tòa nhà đó người ta đã trình diễn “vũ điệu vòng tròn” – một điệu nhảy chậm rãi, đã từng được mô tả tỉ mỉ trong hai thiên trường ca của Hômer và trong những tác phẩm khác.

Các nhà khoa học cho rằng trong các mê cung thường tiến hành những nghi lễ thụ pháp. Ở đây ngay đến những bức tường cũng toát lên ma lực. Cuộc du ngoạn qua mê cung có thể mang lại cho đồng ruộng vụ mùa mong muốn, cho công việc được trù tính – sự thành công, còn cho cặp vợ chồng hiếm hoi – mụn con đầu lòng.

Để có thể hình dung được cảm giác của những người tham gia các nghi lễ cổ đại đó, ta hãy làm một chuyến du ngoạn trong mê cung được xây dựng trong cung điện ở Knoxơ bởi vì ta đã biết rõ bản vẽ của nó. Hành lang 8 lần đi vòng quanh phần trung tâm của mê cung, tạo nên những đường tròn có bán kính ngày càng nhỏ hẹp trước khi du khách đạt tới đích.

Nếu như bước vào bên trong mê cung, ta sẽ ngạc nhiên thấy rằng trung tâm của mê cung nằm không xa lối vào là bao. Đường dẫn tới trung tâm không có vật cản gì. Không một lối đi nào, không một hành lang biên nào lái sang phía khác. Du khách dứt khoát sẽ vào tận chính trung tâm của mê cung. Song điều kỳ lạ nhất là nếu chúng ta muốn rời khỏi “cái nhà không có lối ra” đó thì chúng ta dễ dàng tìm thấy con đường quay trở lại. Không cần phải rẽ về bên nào, chúng ta cũng đến chỗ lối ra. Lập tức lại nhớ tới câu chuyện về hoàng tử Têdê. Việc gì mà chàng lại cần đến cuộn chỉ của công chúa Arian nếu như tự chàng có thể dễ dàng tìm được đường trở ra? Có lẽ ý nghĩa đích thực của sợi chỉ đã bị lãng quên cùng với thời gian chăng?

Như vậy là, ngược lại với ý kiến được lưu hành, có thể dễ dàng tìm được lối thoát ra khỏi những mê cung cổ đại. Mãi đến thời cận đại, khi những nghi lễ xa xưa bị lãng quên, ý nghĩa tượng trưng của mê cung đã trở nên khác đi, bộ mặt của những công trình xây dựng đó đã thay đổi. Nhiều hành lang biên và lối đi ngang qua đã được tạo ra trong các mê cung ấy. Con người lạc vào loại “mê cung” như vậy bị nhầm lẫn trong những đường tròn và không thể thoát ra ngoài được.

Chúng ta hãy tiếp tục cuộc du ngoạn trong mê cung Knôxơ. Dường như chúng ta đang ở gần tâm điểm của nó, nhưng một chỗ rẽ ngoặt đột ngột đã phá vỡ sự đơn điệu của con đường. Nó dẫn ta sang một hướng khác thật xa. Lại một chỗ rẽ nữa và chúng ta càng xa rời mục tiêu. Chúng ta đang ở vòng ngoài cùng của mê cung. Một mối ngờ vực đã xâm chiếm người lạc vào đây: “Liệu ta có đến được đích không?”. Anh ta hoang mang, thất vọng rồi lại hi vọng và đi tiếp về phía trước. Mê cung hấp dẫn người xưa bởi lẽ cuộc du ngoạn trong đó đầy những tương phản. Con người lúc thì đang đi gần tới đích, lúc thì lại xa cách nó, lúc thì nghĩ đến sự thành công sắp tới, lúc thì vỡ mộng. Về phương diện này, mê cung của người Hy Lạp hoàn toàn có thể so với “bánh xe số mệnh” của châu Âu thời Trung cổ.

Ý nghĩa tượng trưng của mê cung

Dưới con mắt người xưa, cuộc đời là một mê cung thực thụ, trong đó chỉ có những con đường vòng mới dẫn đến sự thành công, còn tiếp theo sau bất cứ niềm hi vọng nào bao giờ cũng là sự thất bại. Chỉ có mỗi cách tiến lên phía trước, nén lại nỗi buồn nản thì lúc ấy cuộc đời mới mỉm cười với ta, còn mê cung sẽ dần dần dẫn ta tới đích… Và thế là chúng ta lại đi tiếp: thêm một chỗ rẽ nữa. Tất cả đã thay đổi. Chúng ta đang đến gần tâm của mê cung. Nhưng một nỗi sợ hãi lại bao trùm lên chúng ta. Cái gì đang chờ đợi chúng ta ở cạnh tâm, trong giữa “trái tim của bóng tối”? Khi mục tiêu đã đạt được, du khách ắt sẽ gặp quái vật Minotor, tức là gặp cái chết. Đó chính là sự bí mật ảm đạm của cuộc sống và là bí mật của mê cung.

Ở thời Cổ đại cái tên Minotor thể hiện cái ác.

… Những vòng tròn của mê cung ngày càng thu hẹp lại chung quanh chúng ta. Và đây là chỗ rẽ cuối cùng. Một cái bãi trống không. Quái vật Minotor đã ẩn náu ở đây. Nó đâu rồi? Những huyền thoại, truyền thuyết cổ xưa có phải là lố bịch và ngốc nghếch không? Nhưng liệu chúng ta có lý giải chúng đúng không? Huyền thoại đã nói lên điều gì nếu như nó hoàn toàn chính xác? Rằng ở giữa mê cung có một con quái vật mang tên Minotor, tượng trưng cho cái ác. Và chúng ta đã vào tới đích. Và chính vào giây phút đó chúng ta hiểu rằng tất cả cái ác vô tận đã tụ tập lại trong chính chúng ta. Chúng ta dần dần biến thành Minotor. Bóng tối dày đặc quây quanh chúng ta. Hãy thoát ra ngay chỗ có ánh sáng mới được! Trong cái điểm định mệnh đó, cuộc sống chưa kết thúc. Sự khắc phục mới chỉ bắt đầu. Đây là điểm thấp nhất của sự sa ngã của con người. Rồi đây sẽ ra sao? Chúng ta vĩnh viễn bị chôn vùi trong bóng tối hay thoát ra ngoài như Têdê? Có thể vũ điệu nghi lễ nhắc các khán giả của nó nhớ tới niềm hi vọng, tới sự lừa dối và tới sự hửng sáng: đó là những giai đoạn chủ yếu của đời người.

Còn “sợi chỉ của công chúa Arian” cũng có cách giải thích của nó. Có lẽ những vũ công Hy Lạp trong khi đi sâu vào mê cung đã được nối lại với nhau bằng sợi chỉ để không bị thất lạc giữa những lối đi ngoằn ngoèo và những chỗ rẽ. Vũ công đầu tiên dũng cảm đi ở phía trước. Những người khác, được hướng dẫn bởi sợi chỉ, đã lần lượt theo sau. Và mất hút dần trong “vương quốc tử thần” đó. Sau đó người dẫn đường quay ra và vội vã đi về phía ánh sáng. Nhờ có “sợi chỉ Arian” mà mọi người đã trở lại với cuộc sống.

Vào thế kỷ XII trước Công nguyên – thời kỳ cuộc chiến tranh thành Tơroa, nhiều bộ lạc từ phía Bancan kéo đến xâm chiếm Hy Lạp. Các thành phố và pháo đài bị phá hủy. Các truyền thống bị mai một. Song sự lãng quên truyền thống không làm giảm sự quan tâm chú ý tới các mê cung. Sự tượng trưng của nó trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên được phổ biến rộng rãi khắp trong Cựu thế giới. Từ vùng Địa Trung Hải nó thâm nhập vào Xiri rồi từ đó sang phương Đông – sang Apganixtan, Ấn Độ, Sri Lanca và Indonesia. Sau này, biểu tượng đó được truyền bá rộng rãi ở cả phương Tây: Tây Ban Nha, Anh, Xcăngđináp, Nga…

Ở Xcăngđináp, vùng Bantích và ở Nga có thể bắt gặp hơn 500 mê cung rất cổ được xây bằng đá. Những công trình này mang tên “Thành Tơroa của phương Bắc”. Đường kính của phần lớn mê cung này từ 7 đến 18 m. Nhiều cái trông giống với kiểu mê cung cổ điển ở thành Crete với một lối vào. Tất cả những mê cung này được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIII – XVII. Mục đích của chúng vẫn chưa được các nhà khoa học làm rõ.

Lê Sơn
(Tổng hợp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc