Thầy thuốc Văn nghệ

Bệnh vẩy nến

Bệnh vẩy nến là tình trạng thay đổi chu kỳ sống của tế bào da làm cho tế bào tăng rất nhanh tạo nên các vẩy dày, bạc và ngứa. Đây là bệnh dai dẳng ngày càng tồi tệ hơn. Các biện pháp dùng kem cortison và phơi da ra ánh sáng mặt trời giúp cải thiện bệnh.

Dấu hiệu bệnh vẩy nến thay đổi từ người này sang người khác, nhưng loại thường gặp nhất là dạng vẩy nến mảng bao gồm nhiều mảng da đỏ bao phủ bởi nhiều lớp vẩy bạc, da khô, ngứa ngáy dữ dội. Bệnh vẩy nến móng ảnh hưởng đến móng tay và móng chân, mọc móng bất thường, móng trở nên lỏng lẻo. Bệnh vẩy nến da đầu xuất hiện ở vùng da đầu có màu đỏ, ngứa, màu bạc trắng. Trong bệnh viêm da vẩy nến, toàn bộ cơ thể phát ban da đỏ, ngứa và bỏng rát. Trong bệnh viêm khớp vẩy nến, các khớp bị sưng lên đau đớn. Viêm khớp vẩy nến ảnh hưởng đến bất kỳ khớp nào, gây ra tổn thương khớp nghiêm trọng và biến dạng khớp vĩnh viễn.

Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Benh-vay-nen

Nguyên nhân của bệnh vẩy nến không rõ ràng, có liên quan đến hệ thống miễn dịch qua một loại tế bào bạch cầu gọi là tế bào T. Thông thường, tế bào T di chuyển khắp cơ thể để phát hiện và chống lại các chất lạ như siêu vi hay vi khuẩn. Trong bệnh vẩy nến, tế bào T tấn công các tế bào da khỏe mạnh do nhầm lẫn. Những thay đổi này làm tăng sản xuất tế bào da khỏe mạnh khiến cho tế bào da mới di chuyển đến lớp da ngoài cùng quá nhanh tạo nên nhiều lớp vẩy. 

Trong hầu hết các trường hợp, chẩn đoán bệnh vẩy nến khá đơn giản. Thầy thuốc hỏi tiền sử bệnh và kiểm tra thân mình, da đầu và móng tay. Hiếm khi, thầy thuốc lấy mẫu da nhỏ (gọi là sinh thiết) nhìn dưới kính hiển vi để xác định loại vẩy nến. Thầy thuốc cũng kiểm tra chức năng gan và thận để loại trừ các bệnh khác.

Phương pháp điều trị bệnh vẩy nến chia ra ba loại: điều trị tại chỗ, liệu pháp ánh sáng và thuốc uống. Kem và thuốc mỡ có hiệu quả điều trị bệnh vẩy nến nhẹ đến trung bình. Khi bệnh nặng hơn, kem kết hợp với thuốc uống hay liệu pháp ánh sáng. Thuốc corticoid tại chỗ là loại thuốc được kê toa thường xuyên nhất để điều trị bệnh vẩy nến nhẹ đến trung bình bằng cách ức chế hệ miễn dịch, làm giảm viêm và giảm ngứa. Các dạng tổng hợp của sinh tố D làm chậm phát triển tế bào da. Một dạng sinh tố D thường dùng là calcitriol tuy đắt tiền nhưng rất có hiệu quả và không gây kích ứng như calcipotrien. Thuốc anthralin giúp bình thường hóa hoạt động của DNA trong tế bào da nhưng gây kích ứng da và vấy bẩn da và quần áo. Hiện nay, các chất ức chế calcineurin như tacrolimus cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh vẩy nến. Chất ức chế calcineurin làm ngưng hoạt hóa tế bào T nên giảm viêm và ngưng tích tụ mảng bám. Phương pháp quang trị liệu đơn giản nhất là phơi bày làn da dưới ánh sáng mặt trời hàng ngày. Các hình thức trị liệu bằng ánh sáng khác bao gồm tia cực tím A hay tia cực tím B. Phương pháp trị liệu bằng tia cực tím B băng thông rộng dùng điều trị bệnh vẩy nến trên diện rộng. Tia cực tím B băng thông hẹp có hiệu quả hơn băng thông rộng nhưng có thể gây ra bỏng nghiêm trọng và kéo dài. Quang trị liệu PUVA bao gồm sử dụng thuốc cảm quang nhẹ psoralen trước khi tiếp xúc với tia cực tím A giúp thấm sâu vào da hơn tia cực tím B và chất psoralen làm cho da nhạy cảm hơn. Các tác dụng phụ ngắn hạn bao gồm buồn nôn, nhức đầu và ngứa ngáy.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 450