Thầy thuốc Văn nghệ

Bệnh tim bẩm sinh

Bệnh tim bẩm sinh là nhiều bất thường trong cấu trúc tim từ khi mới sinh ra làm thay đổi cách máu chảy qua tim. Khiếm khuyết này có thể từ đơn giản đến phức tạp gây ra các biến chứng đe dọa tính mạng.

Các dấu hiệu bệnh tim bẩm sinh bao gồm loạn nhịp tim, da xanh, môi và móng tay tím tái. Người bệnh khó thở, mệt mỏi nhanh chóng khi gắng sức và phù nề toàn thân.

So-511--Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Benh-tim-bam-sinh---Anh-1

Trái tim chia thành hai buồng bên phải và hai buồng bên trái. Buồng bên phải bơm máu đến phổi thông qua một số mạch máu. Trong phổi, máu lấy oxy và sau đó trở về buồng bên trái thông qua tĩnh mạch phổi. Buồng bên trái sau đó bơm máu qua động mạch chủ ra ngoài phần còn lại của cơ thể. Bệnh tim bẩm sinh ảnh hưởng đến bất kỳ cấu trúc nào của tim bao gồm cả van tim, buồng tim, vách ngăn và động mạch.

Biến chứng bệnh tim bẩm sinh bao gồm loạn nhịp tim khi các xung điện phối hợp nhịp tim không hoạt động đúng cách khiến tim đập nhanh quá, chậm quá hay bất thường. Ở một số người, loạn nhịp tim nặng gây đột tử.

Viêm nội tâm mạc là bệnh nhiễm trùng lớp lót bên trong tim khi vi khuẩn xâm nhập vào dòng máu. Nếu không điều trị, viêm nội tâm mạc phá hủy các van tim gây đột qụy.

Đột qụy xảy ra khi việc cung cấp máu cho não bị gián đoạn hay suy giảm nghiêm trọng. Khuyết tật tim bẩm sinh cho phép cục máu đông đi qua tim và di chuyển đến não.

Suy tim có nghĩa là tim không thể bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Một số loại bệnh tim bẩm sinh dẫn đến suy tim.

Để xác định bệnh tim bẩm sinh, thầy thuốc khám bệnh tổng quát bao gồm nghe tim bằng một ống nghe. Thầy thuốc yêu cầu đo điện tâm đồ để kiểm tra hoạt động điện của tim. X quang lồng ngực giúp tiếp tục đánh giá tim và phổi. Siêu âm tim tạo ra những hình ảnh di động của tim. Siêu âm tim qua thực quản cung cấp nhiều thông tin chính xác hơn so với siêu âm tim chuẩn. Đo phân áp oxy bằng một cảm biến nhỏ gắn vào ngón tay để ước lượng oxy trong máu. Để chụp cắt lớp CT tim, bệnh nhân nằm trên một chiếc bàn bên trong chiếc máy hình bánh rán. Một tia X quang quay xung quanh cơ thể và thu thập hình ảnh của tim và lồng ngực. Để chụp cộng hưởng từ MRI tim, thầy thuốc sử dụng từ trường và sóng vô tuyến tạo ra hình ảnh trái tim rất rõ ràng. Bệnh nhân nằm trên chiếc bàn bên trong một máy hình ống.

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh tim bẩm sinh, việc điều trị nhằm điều chỉnh khuyết tật tim bẩm sinh hay đối phó với các biến chứng do khiếm khuyết gây ra. Nếu khuyết tật tim tương đối nhỏ, thầy thuốc chỉ yêu cầu kiểm tra định kỳ. Một số khuyết tật tim bẩm sinh nhẹ được điều trị bằng thuốc giúp tim hoạt động hiệu quả hơn. Dùng thuốc để ngăn ngừa cục máu đông và kiểm soát nhịp tim bất thường. Thiết bị cấy ghép như máy tạo nhịp tim giúp kiểm soát nhịp tim và điều chỉnh nhịp tim bất thường đe dọa đến tính mạng. Một số dị tật tim bẩm sinh được sửa chữa bằng cách sử dụng kỹ thuật đặt ống thông mà không cần phẫu thuật mở lồng ngực. Trong thủ thuật này, thầy thuốc chèn một ống thông vào tĩnh mạch chân và đưa đến tim. Khi ống thông vào vị trí, thầy thuốc đưa các dụng cụ nhỏ qua ống thông để sửa chữa khuyết tật. Nếu thủ thuật ống thông không thể khắc phục khuyết tật tim, thầy thuốc đề nghị phẫu thuật tim hở. Nếu khuyết tật tim quá nghiêm trọng, cấy ghép tim có thể là lựa chọn cuối cùng.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 511

Ý Kiến bạn đọc