Thầy thuốc Văn nghệ

Bệnh lao phổi

Bệnh lao là một bệnh nhiễm trùng ảnh hưởng đến phổi. Vi khuẩn gây bệnh lao lan truyền từ người này sang người khác qua ho và hắt hơi. Bệnh lao tăng vọt vào năm 1985 do sự xuất hiện của siêu vi HIV gây bệnh AIDS. HIV làm suy yếu hệ thống miễn dịch nên người bệnh không thể chống lại vi trùng lao.

Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Benh-lao-phoi

Các dấu hiệu của lao bao gồm ho kéo dài nhiều tuần, ho ra máu, đau ngực khi thở hay ho. Người bệnh giảm cân, mệt mỏi, sốt kèm ớn lạnh vào buổi chiều và ăn mất ngon. Bệnh lao ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể bao gồm thận, cột sống hay não. Khi bệnh lao xảy ra bên ngoài phổi, các dấu hiệu khác nhau tùy theo cơ quan có tổn thương. Bộ Y tế khuyên nên sàng lọc những người có nguy cơ bệnh lao bao gồm người bệnh HIV/ AIDS, người sử dụng ma túy và nhân viên y tế chăm sóc người bệnh lao. Bệnh lao do vi khuẩn BK (bacille de Koch) lây lan từ người bệnh sang người lành khi ho, hắt hơi hay nhổ nước bọt. Khi điều trị thuốc thích hợp trong ít nhất hai tuần, người bệnh không còn lây nhiễm nữa. Một lý do khiến bệnh lao vẫn là kẻ giết người thầm lặng chính là sự gia tăng các dòng kháng thuốc. Kể từ khi kháng sinh đầu tiên được sử dụng để chống lại bệnh lao cách đây 60 năm, một số vi khuẩn lao tồn tại và trở thành dòng vi khuẩn kháng thuốc. Một số vi khuẩn lao phát triển sức đề kháng với các thuốc kháng sinh kinh điển như isoniazid và rifampin. Một số chủng lao cũng phát triển khả năng đề kháng với thuốc kháng sinh mới như fluoroquinolon và thuốc chích như amikacin và kanamycin. Nếu không điều trị, bệnh lao có thể gây tử vong do suy kiệt hay biến chứng viêm màng não.

Công cụ chẩn đoán phổ biến nhất cho bệnh lao là xét nghiệm da, mặc dù xét nghiệm máu đang trở nên phổ biến hơn. Một lượng nhỏ lao tố tuberculin được tiêm ngay dưới da bên trong cẳng tay. Trong vòng 48 đến 72 giờ, nhân viên y tế sẽ kiểm tra cánh tay ở chỗ chích. Một vết sẹo màu đỏ cứng gồ lên có nghĩa là nhiễm trùng lao. Xét nghiệm máu PCR giúp chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh lao phổi. Xét nghiệm GeneXpert là kỹ thuật chẩn đoán lao hiện đại nhất, chỉ trong hai giờ có kết quả, xét nghiệm này đã có ở Việt Nam. Thầy thuốc yêu cầu chụp X-quang ngực hay chụp CT thấy những đốm trắng thâm nhiễm trong phổi. Thầy thuốc cũng lấy mẫu đờm cấy vi khuẩn lao và làm kháng sinh đồ tìm kháng sinh thích hợp.

Thuốc là nền tảng để điều trị bệnh lao nhưng điều trị bệnh lao mất nhiều thời gian hơn so với các loại nhiễm khuẩn khác. Với bệnh lao, thầy thuốc phải dùng kháng sinh ít nhất 6 tháng. Các loại thuốc và thời gian điều trị phụ thuộc vào tuổi tác, sức khỏe, khả năng kháng thuốc và vị trí nhiễm trùng trong cơ thể. Thuốc phổ biến trị lao bao gồm Isoniazid, Rifampin, Ethambutol và Pyrazinamid. Nếu có bệnh lao kháng thuốc, thầy thuốc phối hợp thuốc fluoroquinolon và các thuốc chích như amikacin, kanamycin hay capreomycin trong 20 đến 30 tháng. Một số loại thuốc mới đang được xem xét bổ sung bao gồm Bedaquilin và Linezolid. Tất cả các loại thuốc lao có thể gây độc cho gan qua dấu hiệu buồn nôn, ói mửa, chán ăn hay vàng da. Nên uống thuốc đúng theo lời dặn của thầy thuốc. Ngừng điều trị quá sớm hay bỏ qua liều khiến các vi khuẩn sống sót trở nên đề kháng. Để giúp mọi người gắn bó với điều trị, Bộ Y tế đưa ra liệu pháp quan sát trực tiếp DOT, qua đó người bệnh uống thuốc tại chỗ dưới sự chứng kiến của y tá.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

Ý Kiến bạn đọc