Thầy thuốc Văn nghệ

Bệnh Bạch hầu

 

Vừa qua, nhiều trẻ em ở các tỉnh cao nguyên như Kon Tum và Đắc Nông mắc bệnh bạch hầu, có em tử vong. Bệnh bạch hầu gây hại cho tim, thận và hệ thần kinh. Ngay trong khi điều trị, bệnh bạch hầu có thể gây chết người.

Các dấu hiệu thường bắt đầu từ 2 đến 5 ngày sau khi nhiễm bệnh bao gồm màng dày, xám bao phủ cổ họng và amidan. Người bệnh thấy đau họng và khàn giọng, hạch bạch huyết ở cổ sưng to, khó thở, sốt và ớn lạnh.

Một loại bạch hầu ảnh hưởng đến da, da đau, đỏ và sưng tương tự như các bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn khác.

Bạch hầu do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Vi khuẩn thường nảy nở trên bề mặt cổ họng. Bạch hầu lây lan qua những giọt nước trong không khí. Khi một người nhiễm bệnh hắt hơi và ho tiết ra giọt nước ô nhiễm, những người ở gần đó hít phải sẽ nhiễm bệnh.

So-602--Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Benh-bach-hau---Anh-1

Mọi người cũng mắc bệnh bạch hầu khi dùng chung những thứ của người nhiễm bệnh như khăn giấy hoặc khăn lau tay.

Vi khuẩn gây bệnh bạch hầu tiết ra độc tố. Độc tố gây tổn thương ở khu vực nhiễm trùng là mũi và cổ họng. Tại vị trí đó, nhiễm trùng tạo ra màng màu xám bao gồm các tế bào chết và vi khuẩn. Màng này gây cản trở hô hấp.

Độc tố bạch hầu lây lan qua dòng máu làm hỏng các mô trong cơ thể như cơ tim, gây ra viêm cơ tim dẫn đến suy tim sung huyết và đột tử.

Độc tố cũng gây tổn thương thần kinh vùng cổ họng gây khó nuốt, thần kinh vùng cánh tay và chân gây yếu cơ.

Nếu độc tố bạch hầu làm tổn thương dây thần kinh hô hấp, các cơ này bị tê liệt gây suy hô hấp.

Ngày nay, căn bệnh này chữa được và phòng ngừa bằng vaccin.

Vaccin bạch hầu thường kết hợp với vaccin uốn ván và ho gà. Tiêm vaccin cho trẻ em ở các độ tuổi 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng, 18 tháng và 5 năm sau.

Vaccin bạch hầu có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh bạch hầu nhưng có một số tác dụng phụ như sốt nhẹ, quấy khóc, buồn ngủ hoặc đau tại chỗ tiêm sau khi tiêm.

Thầy thuốc nghi ngờ bệnh bạch hầu khi trẻ em bị đau họng có màng màu xám bao phủ amidan và cổ họng. Thầy thuốc lấy đàm trong cổ họng cho vào môi trường nuôi cấy tìm vi trùng bạch hầu để xác nhận chẩn đoán. Thầy thuốc cũng lấy một mẫu mô từ vết thương bị nhiễm trùng đem xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để tìm bạch hầu ở da.

Khi nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu, thầy thuốc cần điều trị bắt đầu ngay lập tức, ngay cả trước khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn.

Bạch hầu là một bệnh nghiêm trọng. Phương pháp điều trị bao gồm kháng sinh. Thuốc kháng sinh như penicillin hoặc erythromycin giúp tiêu diệt vi khuẩn trong cơ thể.

Nếu nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu, thầy thuốc yêu cầu dùng một loại thuốc chống độc tố bạch hầu tiêm vào tĩnh mạch hoặc cơ.

Trước khi cho uống thuốc kháng độc tố, thầy thuốc cần thử phản ứng dị ứng da để đảm bảo rằng người nhiễm bệnh không bị dị ứng với thuốc kháng độc tố.

Nếu bị dị ứng, người đó cần được giải mẫn cảm với thuốc kháng độc tố bằng cách ban đầu cho liều nhỏ thuốc kháng độc tố và sau đó tăng dần liều.

Trẻ em và người lớn mắc bệnh bạch hầu thường cần phải vào bệnh viện để điều trị trong một đơn vị chăm sóc đặc biệt vì bệnh bạch hầu lây lan dễ dàng đến bất kỳ ai không được chủng ngừa bệnh.

Nếu ta đã tiếp xúc với người mắc bệnh bạch hầu, thầy thuốc cho ta một đơn thuốc kháng sinh giúp ngăn ngừa bệnh. Ta cũng cần tiêm nhắc lại một liều vaccin bạch hầu.

Bác sĩ Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 602

Ý Kiến bạn đọc