Thầy thuốc Văn nghệ

Bệnh ái huyết

 

Bệnh ái huyết hay bệnh máu khó đông là một rối loạn hiếm gặp, trong đó máu không đông bình thường vì thiếu yếu tố đông máu. Nếu mắc bệnh máu khó đông, ta bị chảy máu trong thời gian dài hơn sau khi chấn thương. Mối nguy hiểm lớn là chảy máu sâu bên trong cơ thể, đặc biệt là ở đầu gối, mắt cá chân và khuỷu tay đe dọa tính mạng. Đây là một rối loạn di truyền mà phương pháp điều trị là cần thay thế các yếu tố đông máu.

Các dấu hiệu của bệnh máu khó đông tùy thuộc vào mức độ thiếu các yếu tố đông máu. Nếu mức độ giảm nhẹ, ta chỉ bị chảy máu sau phẫu thuật hay chấn thương. Nếu thiếu hụt nghiêm trọng, ta bị chảy máu tự phát. Người bệnh chảy máu nhiều do vết cắt hay chấn thương hoặc sau khi phẫu thuật, có nhiều vết bầm, chảy máu bất thường sau tiêm chủng, sưng đau ở khớp, có máu trong nước tiểu, chảy máu cam và chảy máu não. Các dấu hiệu chảy máu não bao gồm đau đầu kéo dài, nôn ói nhiều, buồn ngủ và co giật.

So-541--Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Benh-ai-huyet---Anh-1

Bệnh ái huyết xảy ra khi thiếu một trong những yếu tố đông máu, đặc biệt là yếu tố VIII.

Có một số loại bệnh ái huyết và hầu hết là di truyền. Tuy nhiên, khoảng 30% không có tiền sử gia đình mắc chứng rối loạn này. Bệnh ái huyết mắc phải là một tình trạng hiếm gặp xảy ra khi hệ thống miễn dịch tấn công các yếu tố đông máu trong máu. Bệnh hầu như luôn xảy ra ở bé trai và truyền từ mẹ sang con qua gen của mẹ.

Các biến chứng của bệnh máu khó đông bao gồm chảy máu bên trong khiến chân tay sưng lên, gây áp lực lên khớp làm viêm khớp hay phá hủy khớp. Chảy máu trong não đưa đến hôn mê, co giật và tử vong.

Ở một số người mắc bệnh máu khó đông, hệ thống miễn dịch phản ứng tiêu cực với các yếu tố đông máu. Hệ thống miễn dịch phát triển các chất ức chế làm bất hoạt các yếu tố đông máu khiến việc điều trị kém hiệu quả.

Để chẩn đoán, thầy thuốc khám bệnh tổng quát, hỏi han tiền sử người bệnh, chú ý tìm các vết bầm hay sưng đầu gối. Thầy thuốc kết hợp siêu âm và chụp X quang hay chụp cắt lớp CT. Ở trẻ em và người lớn, xét nghiệm máu cho thấy thiếu hụt yếu tố đông máu. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, các triệu chứng bệnh phát sinh ở các độ tuổi khác nhau.

Các trường hợp nghiêm trọng thường được chẩn đoán trong năm đầu tiên của cuộc đời. Các dạng nhẹ không rõ ràng cho đến khi trưởng thành qua chảy máu quá nhiều trong quá trình phẫu thuật.

Phương pháp điều trị chính cho bệnh máu khó đông bao gồm thay thế yếu tố đông máu thông qua ống đặt trong tĩnh mạch. Một số người nhận được liệu pháp thay thế liên tục.

Trường hợp nặng thường truyền máu liên tục. Yếu tố đông máu có thể lấy từ máu hiến. Các sản phẩm tương tự gọi là yếu tố đông máu tái tổ hợp không được tạo ra từ máu người.

Các liệu pháp khác bao gồm thuốc Desmopressin kích thích cơ thể giải phóng nhiều yếu tố đông máu. Thuốc được tiêm từ từ vào tĩnh mạch hay cung cấp dưới dạng xịt mũi.

Thuốc chống tiêu sợi huyết giúp ngăn ngừa cục máu đông bị phá vỡ.

Chất bịt kín fibrin trám trực tiếp vào vết thương để thúc đẩy quá trình đông máu và chữa lành. Chất này đặc biệt hữu ích trong trị liệu nha khoa.

Vật lý trị liệu làm giảm các dấu hiệu nếu chảy máu bên trong làm hỏng khớp. Nếu chảy máu bên trong gây ra thiệt hại nghiêm trọng, đôi khi thầy thuốc cần đến phẫu thuật.

Nếu mắc bệnh máu khó đông, hãy cân nhắc việc chủng ngừa viêm gan A và B.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 541

Ý Kiến bạn đọc