Tản văn

“Bầy cháu” của ngoại tôi…

Bà tôi có một “bầy cháu”. Đó là cách gọi thân thương của ngoại dành cho đám thú cưng bà nuôi trong nhà. Con chó Vàng cháu nội, con mèo Miu cháu ngoại. Bà móm mém nhai trầu cười hiền từ: bà của cháu đông con, đông cháu nhất cái làng này rồi còn gì nữa.

Người ta thường thương yêu con người, con vật gần gũi xung quanh mình, đó là điều dễ hiểu. Nhưng bà tôi còn dành cho “bầy cháu” của bà thứ tình thương đặc biệt. Dịu dàng, cần mẫn như người bà chăm nom cháu. Bà hiếm khi đi chợ vì rau quả sẵn trong vườn nhưng mỗi khi nhà có chút cá, chút thịt bà không quên để phần cho “bầy cháu”. Tới bữa bà trộn cơm với ít nước cá kho, thịt kho rồi sẻ ra bát cho chúng. Lòng bà rộng, nhìn cái cách bà chăm chúng mới hiểu tình thương là thứ mà con người ta có thể cho đi rất nhiều.

Bà tôi sống với cậu. Bà kể, thời gian bà mang bầu cậu, “thuốc khai hoang” rải đầy vườn. Cây cối chết trụi, nước giếng cũng sủi màu, nổi váng. Rồi cậu ra đời, bị di chứng của chất độc da cam quái ác không nói năng bình thường được. Cậu tôi nay đã hơn 40 tuổi nhưng bà vẫn chăm cậu như chăm một đứa trẻ. Cậu tôi thương yêu những con vật bà nuôi y như bà vậy. Tôi vẫn thấy cậu hay ngồi trước hiên nhà những buổi chiều, dưới chân cậu là con chó Vàng. Con chó lim dim mắt dưới đôi bàn tay vuốt ve của cậu. Thỉnh thoảng cậu bắt rận, mang con chó đi tắm và nói với chúng bằng thứ ngôn ngữ ú ớ chẳng ai hiểu. Vậy mà con Vàng hiểu, con Vàng hiểu hết. Con chó quyến luyến cậu, nó hay lè cái lưỡi thô ráp liếm lấy đôi tay cậu mỗi khi cậu vuốt ve. Mỗi khi cậu sang hàng xóm chơi, nó lẽo đẽo theo sau, đuổi mãi cũng chẳng chịu về.

Anh-minh-hoa---Bay-chau-cau-ngoai-toi

Tôi biết ngoại tôi hay buồn. Nhiều khi thèm người tâm sự mà chẳng biết nói với ai. Cậu tôi thì không hiểu. Bà đem thủ thỉ với “bầy cháu”. Bà gọi tên chúng một cách thân thương hệt như gọi tên tôi vậy. “Miu, trưa này bà cho con ăn cơm với nước cá kho nhé”, bà trò chuyện với con Miu khi nhóm lửa đặt nồi cơm trên bếp. Con chó Vàng nằm phơi nắng ngoài sân, thỉnh thoảng đưa chân trước cào sồn sột lên tai, ngoại nhìn thấy, bảo “để trưa rảnh, nắng to, bà tắm rồi bắt rận cho, tội nghiệp…”.

Bà tôi bảo, với con vật, không nuôi thì thôi, đã nuôi thì phải thương và chăm lo cho chúng. Lo cho chúng ăn, lo cho chúng chỗ ngủ ấm. Quê tôi là một vùng trung du miền Trung, khí hậu khắc nghiệt. Đến mùa mưa lạnh là thời tiết như cắt da cắt thịt. Khi cái lạnh vừa mới chớm về, bà lấy cái thúng cũ, bỏ vào đó ít quần áo cũ cho con Vàng. Làng tôi đa phần người ta vẫn nấu bếp củi. Khi tro bếp đầy, bà không hốt đổ đi mà gạt sang một bên dành cho Miu. Mỗi đợt gió lùa, mưa tạt ràn rạt vào mái hiên, bà lại loay hoay đội nón ra xem chuồng gà có bị ướt không, mặc dù bà mới che chắn lúc chiều, đã cắt mớ lá chuối khô rải trong chuồng ủ ấm.

Nhà tôi cách nhà bà độ hơn 3 cây số. Hồi nhỏ cứ chiều chiều sau khi học bài xong, tôi hay đạp xe sang nhà bà chơi. Cứ quanh quẩn theo bà hết ra vườn rồi vào nhà, chăm chuồng thỏ, cho con Miu ăn… vậy mà tôi học được biết bao nhiêu điều. Tôi cùng bà nhổ cỏ ngoài vườn, bà chừa lại mấy cây chó đẻ (sách gọi là Diệp hạ châu). Bà bảo chừa cho con Vàng, nó sắp đẻ rồi. Tập quán của loài chó cứ đẻ xong là ra vườn tìm ăn cây chó đẻ. Bà lại bảo, chuyện sinh nở của mấy con vật cũng khác nhau. Ví như thỏ, khi thỏ mẹ sinh nhất định phải nhốt riêng thỏ đực, nếu không nó sẽ cắn hết mấy con thỏ con mới sinh. Loài dê cũng vậy. Còn với mèo, khi đẻ con, trẻ con chớ có táy máy vào xem. Nó sợ mất con sẽ tha con đi chỗ khác. Lần ấy, tôi đã không nghe lời bà. Cứ chốc chốc lại chạy vào buồng xem hai con mèo mới đẻ. Và con Miu ngoạm cổ con mèo con lôi đi thật. Con mèo con nhỏ xíu trông thảm hại vô cùng khi bị mẹ lôi ra vườn chuối. Con chó nhà hàng xóm trông thấy, chạy lại ngoạm một phát. Con mèo con chỉ kịp kêu lên một tiếng yếu ớt. Cái chết tức tưởi của con mèo con làm tôi ám ảnh và day dứt mãi…

Bà hay nói tình mẫu tử của con vật rất sâu đậm. Điều này thì tôi rất thấu hiểu… qua trường hợp con trâu Bỉnh già nhà tôi: dễ chừng cả chục năm nó chưa bao giờ quên con nó! Con nghé đã bị ba mẹ tôi bán cho người xã bên. Cái ngày người ta đến bắt con nghé, con Bỉnh như phát điên. Dây thừng to như cán dao buộc nó vào gốc mít, mắt nó long lên, lồng lộn. Khi con nghé bị đẩy đi xa, nó bứt được dây thừng chạy theo, máu mũi chảy ròng ròng. Nó quấn lấy con nó. Nhưng rồi bằng rất nhiều cách, người ta cũng mang con nó đi mất. Cả đêm, cả ngày nó cứ nghểnh đầu tìm kiếm và không thôi “nghé ọ” gọi con. Hễ có bóng nghé con ở đâu là nó tìm mọi cách bứt dây thừng chạy đến. Cứ như thế đến cả chục năm. Và sau lần ấy, con Bỉnh không đẻ thêm con nghé con nào nữa. Ở quê tôi, trâu như thế coi như vứt, nhưng ba mẹ tôi thương tình, cứ để vậy nuôi. Già rồi, con trâu vẫn cứ nghểnh cổ tìm con, có điều đôi mắt nó càng ngày càng trông buồn thảm hại…

Khi con trâu Bỉnh già mang bệnh, tôi đã thấy ba mẹ tôi thở dài không biết bao nhiêu lần. Mẹ bảo ba kêu thương lái tới, bán được bao nhiêu thì bán. Khi ba ngồi lên chiếc xe đạp lọc cọc định chạy đi, mẹ lại bảo, “hay thôi, chữa bệnh cho nó đã, rồi tính”. Con Bỉnh bệnh vài tháng, người rộc đi. Thú y chích mấy bận mà không ăn thua. Họ bảo, nó già lắm rồi… Rồi con Bỉnh chết. Hàng xóm người thì bảo kêu thương lái tới, trâu chết họ cũng mua, bán đi vớt vát được ít đồng. Người thì bảo xẻ thịt, chia cho bà con, tới mùa họ mang tới cho ít lúa. Ba mẹ tôi lần khần cả ngày rồi quyết định chôn nó. Miền trung du Quảng Nam tôi thường truyền tai nhau rằng hễ con vật nào chết dù là chó hay mèo thì không nên chôn. Nếu chôn, sẽ không bao giờ nuôi được giống loài của nó nữa. Khi con vật chết nếu không ăn thịt thì thường được mang lên núi, bỏ thật xa nơi ở, hóa kiếp cho nó. Vậy mà ba tôi quyết định chôn con Bỉnh. Ba tôi giọng buồn buồn, “nó già lắm rồi, còm nhom vậy bán được nhiêu đồng, rồi có thịt đâu mà xẻ”. Rồi ba tôi tặc lưỡi, nhìn xa xăm “tội nghiệp nó. Mấy chục năm nuôi trâu, nuôi bò mà có thấy con vật nào nặng tình như con Bỉnh…”. Ba dành cho nó đám ruộng sát vườn nhà, đào đất chôn nó ở đó. Hàng xóm kéo đến coi đông lắm. Ba tôi vừa đào đất vừa kể chuyện con Bỉnh nhớ con cho mọi người nghe. Chuyện con trâu Bỉnh xảy ra đã lâu lắm rồi, nhưng thỉnh thoảng trong những cuộc chè chén, hội làng người ta vẫn nhắc.

*

Ngoại tôi bảo: “Dò sông, dò biển, dò nguồn

Mấy ai lấy thước mà đo lòng người…”

Ừ, lòng người khó đo nhưng nhìn cái cách người ta đối xử với cây cỏ, con vật xung quanh có thể đoán được một phần nào đó nông sâu trong lòng họ. Tình thương là thứ không có giới hạn, là thứ con người ta luôn luôn sẵn có để cho đi. Có bận ngồi xem tivi, thấy ai đó ăn não khỉ, con khỉ còn sống, chao ôi… Bà lẩm bẩm, có lẽ họ bị ma nhập. Ma nhập, chứ có lí do nào hợp lí hơn để người ta làm những việc kinh khủng như thế.

Rồi tôi lớn lên, đi học xa nhà. Trong những cuộc điện thoại, bà vẫn luôn nhắc đến con Vàng, con Miu. Giọng bà vui khi kể cho tôi nghe con Vàng vừa đẻ một lứa bốn chó con, dễ thương lắm. Con Miu dạo này ngày nào cũng bắt được chuột. Cứ như thế, những câu chuyện của bà cháu tôi luôn có mặt của “bầy cháu”…

Bẵng đi ít lâu, tôi gọi điện hỏi thăm bà. Giọng bà buồn buồn bảo con Vàng nó chết rồi. Tội nghiệp nó, còn con Miu già rồi, nó đi đâu mất. Giống mèo nó thế. Già rồi là nó đi, đi mất tăm mất biệt, đâu có ai thấy con mèo già chết bao giờ. Không biết giờ nó ở đâu, có đói không hay đã chết mất rồi. Tội nghiệp…! Đã rất lâu, tôi cứ vô tình quên mất “lũ cháu” ấy của bà. Chúng là niềm vui bé nhỏ trong cuộc sống nhiều cô đơn của tuổi già.

Bất chợt, trong kí ức mơ hồ của tôi lại hiện lên một khoảng sân ngập nắng. Bà lui cui hong lại mớ sắn cắt mỏng. Con Vàng nằm duỗi chân phơi nắng dưới chân cậu. Còn con Miu lười, ngủ vùi trong đống tro hãy còn ấm…

TP.HCM, 8/2016

 

Như Hiền
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 416

Ý Kiến bạn đọc