Ngoài nước

Báo chí cách mạng

 

Vào ngày 4/4/2019, tôi được mời tham dự các hoạt động tại Lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Trường Viết văn và Báo chí Huỳnh Thúc Kháng. Trường được thành lập theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 4/4/1949, ngôi trường được đặt trong một túp lều tre đơn sơ trên bờ hồ (nay là Hồ Núi Cốc) ở tỉnh Thái Nguyên, cách Hà Nội khoảng 80 km về phía bắc.

Năm 1949, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, được hậu thuẫn bởi đế quốc Mỹ, phải đối mặt với thời kỳ khó khăn. Từ ngày 4/4 đến 6/7/1949, có 42 sinh viên trẻ đã được đào tạo bởi 29 giảng viên trong ngành báo chí Cách mạng, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giúp họ có thể đưa tài năng và chuyên môn mới được đào tạo vào phục vụ Cách mạng, đem lại Độc lập và Tự do. Kết thúc khóa học, họ đã xuất bản ấn phẩm đầu tiên của tờ báo cách mạng của họ, mang tên Huỳnh Thúc Kháng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không thể đến thăm trường, nhưng là một nhà báo, biên tập viên và nhà xuất bản dày dạn kinh nghiệm, Người đã gửi thư trong đó đưa ra những lời khuyên của mình dành cho các nhà báo.

So-553--Bao-chi-cach-mang---Anh-1
Wilfred Graham Burchett – nhà báo phương Tây đầu tiên sống cùng bộ đội Việt Nam
tại chiến khu Việt Bắc và chiến trường miền Nam. (Nguồn: The Australian)

Khi chúng ta sống trong thời đại của tin tức giả mạo, trong đó có một số điển hình fake news mới được phát hiện gần đây, tôi nghĩ rằng sẽ là một ý tưởng tốt để xem lại các nguyên tắc báo chí cách mạng của Bác Hồ. Tóm tắt lại, các nguyên tắc đó là:

1. Phải biết được tại sao bạn viết và bạn viết cho ai?

2. Viết phải cô đọng.

3. Đảm bảo sự thật.

4. Không sử dụng ngôn ngữ phức tạp và những ý tưởng mờ nhạt.

5. Tự tin vào những gì bạn viết, đặc biệt nếu bạn đã cam kết trung thành với lý do chính đáng.

Trong trường hợp của Bác Hồ, lý do đó chính là Độc lập và Tự do cho đất nước và nhân dân của Người, chấm dứt sự thống trị của chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến.

Tôi muốn lấy một ví dụ về một bài học thực tế về phương pháp báo chí mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho cha tôi, nhà báo Wilfred Burchett, trong trụ sở của Người ở rừng rậm Thái Nguyên, vào tháng 3/1954, vào đêm trước trận Điện Biên Phủ.

——————-

Dưới đây là câu chuyện mà cha tôi, Wilfred Burchett kể lại:

“Tôi có thể nói gì về hành động lớn mà người Pháp đang nói đến ở Điện Biên Phủ ư?” – Chủ tịch Hồ lật ngược chiếc mũ che nắng của mình trên bàn. Chạy những ngón tay thon dài quanh vành ngoài, ông nói: “Tình huống là như thế này. Đây là những ngọn núi và là nơi lực lượng của chúng tôi giữ. Dưới đó là thung lũng Điện Biên Phủ – đó là nơi người Pháp tập trung lực lượng mạnh nhất mà họ có ở Đông Dương. Họ sẽ không bao giờ thoát ra được. Có thể sẽ mất một chút thời gian, nhưng họ sẽ không bao giờ thoát ra được”.

- Liệu đây có phải là một Stalingrad của Đông Dương không?

- Có những sự tương đồng ở đây, vâng, nói một cách khiêm tốn, nó là một thứ như thế.

Như tôi đã khám phá trong nhiều cuộc họp tiếp theo, đây là một minh họa về năng lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đơn giản hóa việc mô tả các vấn đề phức tạp thành một vài từ đơn giản và hình ảnh đồ họa. Ý tưởng về đội quân hỗn hợp như món kem của Pháp hoạt động dưới đáy chiếc mũ che nắng của Hồ Chí Minh vẫn ở bên tôi suốt chặng đường tới Geneva và ngay tại hội nghị khi trận chiến lịch sử nổ ra đến đỉnh điểm. (Wilfred Burchett, Hồi ức của một nhà báo nổi loạn).

Và vì vậy, Wilfred Burchett đã có thể báo cáo với thế giới, một trong sáu bài viết đầu tiên được gửi từ một nơi nào đó ở Bắc Việt Nam, vào ngày 31/3/1954 với tiêu đề “MỘT SỰ KINH NGẠC ĐỐI VỚI CÁC LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI PHÁP”.

Một tháng một tuần sau, vào ngày 7/5/1954, quân đội Pháp đã bị đánh bại tại trận Điện Biên Phủ lịch sử. Và đó chính là sự chấm dứt của chế độ thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương.

Chiến thắng lịch sử đó không phải là do ưu thế quân sự của Việt Minh so với quân đội Pháp, được hỗ trợ bởi tiền và vũ khí của Mỹ. Mà đó là nhờ sự cống hiến của hàng triệu đàn ông và phụ nữ Việt Nam, già và trẻ, cho sự nghiệp Độc lập và Tự do. Các nhà báo cách mạng, mà đầu tiên là Hồ Chí Minh, đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh lâu dài và anh hùng của Việt Nam chống lại chủ nghĩa thực dân và phong kiến, và sau đó là sự xâm lược của Mỹ.

Tôi rất vinh dự được ngồi giữa những nhà báo Cách mạng kỳ cựu của Việt Nam bên bờ Hồ Núi Cốc xinh đẹp ở Thái Nguyên, xem các ca sĩ, vũ công và diễn viên trẻ tái hiện trên sân khấu những hình ảnh của thời kỳ anh hùng đó. Tôi đã nghĩ về nhiều cuộc đời và tài năng, bao gồm cuộc đời của các nhà báo cách mạng, đã hy sinh cho sự nghiệp thiêng liêng của Độc lập, Tự do và Thống nhất.

Tôi cũng nghĩ rằng, báo chí chỉ có thể trở thành Cách mạng khi bạn đứng về phía sự thật. Sau đó, điều này sẽ trở nên mạnh hơn thanh kiếm. Khi lời nói phục vụ cho chính nghĩa, không quân đội nào có thể đánh bại được chúng!

George Burchett (Nghệ sỹ – Úc)
Ngô Mạnh Hùng (biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 553

Ý Kiến bạn đọc