Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Báo cáo của Võ Thị Tâm – Nữ Trinh sát Mặt trận Phân khu 2 trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968

Lược trích – Kỳ 2
(Tiếp theo số báo 486, ngày 25-1-2018)

Diệt xe tăng, bị thương

Vào khoảng 8 giờ sáng ngày 10-6-1968, tôi cùng 4 thương binh của Tiểu đoàn 308 đang ở trong một căn nhà gần ngã tư Phùng Hưng, Nguyễn Trãi thì bỗng nghe tiếng rít của xe tăng từ đường Hồng Bàng vừa chạy vừa bắn, còn tiếng trực thăng đang phành phạch trên nóc nhà. Lúc đó tôi chạy ra cửa quan sát thì thấy xe tăng bắt đầu đến đường Phùng Hưng cũng vừa chạy vừa bắn xối xả vào nhà dân hai bên đường. Pháo 105 ly bắn bừa bãi trên khu vực đóng chốt của ta. Lúc ấy tôi nói với các anh thương binh: “Chắc có lẽ tăng mở đường, còn trực thăng pháo binh yểm trợ cho bộ binh địch tấn công ta đó!”. Tôi vừa nói vừa dìu các anh thương binh vào nhà sau và nói: “Tôi sẽ đánh tăng để chặn đường tiến công của địch”. Lúc đó tôi nhanh nhẹn như con sóc chạy vào nhà trong lấy hai quả thủ pháo dù (chống tăng) vừa chạy vừa nói: “Các anh chuẩn bị, em đánh tăng đây”, rồi chạy ra phía trước, dựa lưng vào cửa để thủ thế, đầu thò ra ngoài xem tăng đã đến đúng tầm chưa và vừa thấy chiếc tăng đi đầu sắp đến, tay cầm thủ pháp, ngực hồi hộp, tay hơi run, nghe văng vẳng tiếng các anh kêu “Cẩn thận Tâm nhé”. Lúc ấy tinh thần tôi hơi căng thẳng, nhưng quyết định phải đánh toán tăng đi đầu này để buộc địch chùn lại cuộc tấn công, tạo thế chủ động cho bộ đội ta tấn công lại chúng. Tức thì tôi thấy chiếc tăng đã đến đúng tầm, liền ném một quả vào đầu xe nhưng thủ pháo không nổ. Chiếc tăng ấy vượt lên phía trước. Rồi tiếp tục chiếc thứ hai lù lù chạy đến và bắn dữ dội hơn. Trên trời thì trực thăng đảo lộn như hổ dữ thì thủ pháo nổ “bóc ầm” rất lớn, khói bay lên, chiếc tăng đứng lại và cùng lúc đó tôi nghe tiếng rít của phi tiễn trực thăng cắt “ầm ầm” rồi tôi không còn biết gì nữa. Đến lúc tỉnh lại, cái gì đè trên người nặng quá, không biết bao lâu mới tỉnh và cũng chưa biết mình đang làm gì, ngất và tỉnh nhiều lần… Tiếng lính chửi thề xa dần… Tiếng súng bộ binh thưa dần rồi tắt hẳn… Tôi lách người và ngoi lên từ từ khỏi đống gạch vụn… Thấy mắt trái đau quá, tôi lấy tay sờ lên mặt thì thấy mắt trái bị lòi ra ngoài, còn mắt phải thì sưng to, không thấy rõ… Lúc ấy chân tôi không đứng dậy được vì còn hai miếng mảnh trong đầu gối, tôi quyết định phải tự lấy sức dùng răng mình gắp lấy mảnh đạn ra. Đau lắm! Nhưng còn dễ chịu hơn để lại… Tôi bò qua đống gạch vụn nhà sập để tìm lỗ tường (mà bộ đội đục để di chuyển chiến đấu) thì nhất định sẽ gặp đồng đội của mình… Người đầu tiên tôi gặp là anh Hai Nhỏ (tức Nguyễn Văn Phú) Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6. Tôi mừng quá không còn sợ lẻ loi nữa…

Đến chiều hôm đó, Mặt trận được chuyển dần từ đường Phùng Hưng, Nguyễn Trãi đến vượt qua đường Khổng Tử, vào hãng xà bông Hội đồng Bền. Trên đường hành quân, anh Tư Vũ, chính trị viên Tiểu đoàn 6 và chú Ba Giáo, Trung đoàn phó Trung đoàn 31 vừa hy sinh. Còn chú Hai Hoàng, Trung đoàn trưởng 31 bị thương nặng. Cùng với một trung đội, trong đó có tôi và chú Hai Hoàng tiếp tục đường hành quân vừa di chuyển vừa chiến đấu; một số anh em lần lượt bị thương hy sinh. Lúc này không còn người khỏe để điều động thương binh theo, chú Hai Hoàng ra lệnh: “Tử sĩ thì chôn cất tại chỗ còn thương binh đành phải gửi nhà dân”, trong số đó có anh Bảy Thọ, quân y sĩ của Đội Phẫu thuật tiền phương Phân khu II được gửi lại, sau đó bị địch bắt làm tù binh ở Phú Quốc; hòa bình về, anh công tác ở Tỉnh đội Long An.

Thời khắc bi tráng

Đến 18 giờ ngày 16-6-1968, chú Hai Hoàng, tôi và 10 anh em đã đến căn nhà số 128 đường Ngô Nhân Tịnh bằng lỗ đục tường, căn nhà khá kiên cố; đó là xưởng in trên chiếc Wawa, căn nhà vắng chủ có nhiều vật liệu sản xuất bao bì… Các con đường xung quanh như Khổng Tử, Tân Thành, Ngô Nhân Tịnh địch đã bao vây và phong tỏa.

So-487--Mot-trung-doi-quan-chu-luc-cua-Quan-Giai-phong-mien-Nam-Viet-Nam-nam-1968
Một trung đội quân chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1968.

Trời sập tối, xung quanh im ắng lạ lùng, chú Hai Hoàng quyết định: “Chúng ta ở lại trong căn nhà này để cố thủ, tuy địch bao vây ta rất chặt với quân số khá đông, nhưng chúng chưa dám đánh ta trong đêm. Còn ngày mai chắc chắn trận địa sẽ rất ác liệt, vậy mỗi đồng chí hãy đi tìm cho mình một vị trí thích hợp để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu và… tranh thủ ngủ một giấc ngon lành để lấy sức lại ngày mai chiến đấu”. Vừa đau nhức, vừa đói mệt nên khi nằm xuống được thì đã ngủ ngon lành.

Đến 4 giờ sáng ngày 17-6-1968 đáng ghi nhớ, chú Hai Hoàng gọi tất cả anh em dậy để chuẩn bị tư thế. Trời hãy còn tối mịt nhưng có ánh sáng đèn đường chúng tôi thấy rõ trên đường Ngô Nhân Tịnh và trên cầu Balykao, xe tăng thiết giáp nối đuôi nhau nằm chờ…

Chú Hai Hoàng nói: “Anh em chúng ta còn lại 12 con người đều bị thương, sức khỏe cạn kiệt. Hiện thời địch đã bao vây chặt, không gì lọt qua được, chúng cũng thừa biết ta ở tại đây không có bao nhiêu người, vậy mà đêm nay chúng không đánh ta, chắc là nó nghĩ sáng nay sẽ vào đây kêu ta đầu hàng hoặc bắt sống ta cũng dễ dàng thôi, có lẽ chúng sẽ nghĩ như vậy”.

Ngoài trời đã sáng dần, trong nhà cũng sáng theo, đã nhìn thấy rõ mắt từng đồng chí, chú Hai nhìn chăm chăm vào ánh mắt của từng người, cặp mắt của người chỉ huy ấy sâu thẳm, dịu dàng và trìu mến. Chú Hai nói tiếp: “Chúng ta tham gia cách mạng, giải phóng dân tộc, cứu nước cứu dân, đi chiến đấu bị thương hy sinh là lẽ thường. Bây giờ, chỉ tiếc rằng… Trước khi chúng ta hy sinh bắt thằng địch trả giá đắt”.

Chú hỏi: “Đúng không các đồng chí?”.

Tất cả anh em đồng thanh: “Đúng”.

Chú tiếp: “Chúng ta quyết tử cho Tổ quốc trường tồn”.

Tất cả anh em chúng tôi reo lên: “Quyết tử!”.

Chú Hai: “Có đồng chí nào lo gì và nghĩ gì không?”.

Tất cả anh em trả lời: “Khô…ông”.

Đến 4 giờ 30 phút ngày 17-6-1968, chú Hai gọi tôi đến bên chú và nói: “Trong anh em chúng ta chỉ có Tâm là gái, có thể Tâm ra hợp pháp được. Đêm hôm nay, tôi nghĩ nếu Tâm ra thì có khả năng bị bắn, bị bắt, hoặc thoát. Địch xem thường đứa con gái này do nhà sập bị thương hoặc có sự giúp đỡ tình cờ nào đó thì Tâm thoát được, chú hy vọng khả năng cuối cùng”.

Chú hỏi: “Tâm có đồng ý ra hợp pháp không?”.

Tôi vừa nói vừa khóc: “Cháu muốn ở lại với chú, với anh em để chiến đấu trong giai đoạn quyết liệt này, cháu không thể rời xa chú và các anh trong lúc này, cháu van chú, xin chú cho cháu được ở lại đây cùng sống chiến đấu, nếu chết thì cùng chết với nhau”.

Tôi càng nài nỉ van xin thì chú Hai và các anh cứ động viên tôi phải ra… Dùng dằng một hồi, chú Hai Hoàng bật đứng thẳng người, nghiêm giọng nói: “Tôi thay mặt chỉ huy Trung đoàn 31 ra lệnh cho các đồng chí thi hành. Trung đoàn 31 giao nhiệm vụ cho đồng chí Tâm mang kỷ vật của Trung đoàn

(1 đồng hồ, 1 súng ngắn) vượt vòng vây của địch về đến Bộ Chỉ huy Phân khu II nộp và báo cáo Trung đoàn 31 của Phân khu II chiến đấu anh dũng và đã hoàn thành nhiệm vụ và báo cáo với Bộ Tư lệnh rằng hiện còn 11 đồng chí trong vòng vây của địch. Chúng tôi xin hứa với Đảng, với Tư lệnh Phân khu sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, thà hy sinh chớ không để quân địch bắt sống, đồng chí Tâm nghe rõ không?”.

Tôi trả lời: “Rõ”.

Lúc này, tôi không còn nài nỉ gì nữa mà đứng thẳng người lên: “Tôi xin chấp hành”.

Chú Hai kéo tôi đứng lại gần, vỗ vai: “Tâm giỏi lắm”. Các anh đứng xung quanh, lần lượt nắm tay tôi: “Vĩnh biệt Tâm nhé”. Tôi khóc, chú Hai khóc, các anh khóc. Quá xúc động, đôi chân tôi không còn đứng dậy được mà quị nằm xuống đất rồi đến ôm chiếc chân gãy của chú Hai mà khóc nức nở, không kiềm chế lại được. Tôi biết lần này xa các anh thì không thể nào gặp lại vì cái chết đã kề bên các anh trong giây lát nữa thôi, tinh thần tôi bối rối như tơ vò. Lúc này tôi đứng bần thần nhìn các anh chuẩn bị cho mình: Một anh cầm cây lược chải và bím tóc cho tôi, một anh đem lại cho tôi đôi guốc cũ, còn một anh đeo vào mắt tôi một đôi kiếng mát gọng to (như của đàn ông vậy), một anh nữa đem lại cho tôi một quần bà ba đen và một chiếc áo bà ba màu hoa cà. Các anh bảo: “Tâm thay bỏ bộ đồ đẫm máu này đi, mặc đại bộ đồ này vào kẻo kẻ địch phát hiện”. Tôi đứng đấy cho các anh sửa soạn (hình như những thứ này các anh tìm thấy và lấy đại của chủ nhà) mà trong lòng xốn xang…

Lúc này trời đã sáng rõ, địch đã tập trung lại đứng từng cụm trên cầu, nào là biệt động quân, nào là cảnh sát dã chiến, nào là thủy quân lục chiến, họ ngồi đứng ngổn ngang như trông chờ một cái gì sẽ đến với họ. Còn tôi đang đứng với chú Hai, với các anh, tôi lại òa lên khóc. “Thôi đi đi cháu, trời sáng rồi đó”.

- Hãy xứng đáng như Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Sáu nghen Tâm!

- Vĩnh biệt Tâm nhé! Em phải sống, không sợ chết, nghen Tâm!

Những lời nhắn nhủ của chú Hai, của các anh còn vẳng bên tai đến tận ngày nay, khi viết lại câu chuyện này.

… Tôi xách chiếc giỏ mà các anh đã chuẩn bị cho tôi, trong giỏ có chiếc đồng hồ của chú Hai Hoàng, kim còn chỉ giờ Hà Nội, một xấp vải màu, một bộ đồ cũ, một ít tiền không sắp lại để bên trên rồi có chiếc khăn mỏng đậy trên cùng. Tay cầm chiếc giỏ, tôi thất thểu bước vào nhà sau ra phía lỗ tường đục trống hôm qua, người tôi bàng hoàng như mơ như tỉnh, mắt tôi cứ nhìn về phía trước, không dám ngó lại các chú các anh. Tôi cứ lùi lũi đi theo con hẻm về phía cầu Balykao. Khi đến gốc me bên cầu, trước mắt tôi hàng mấy chục mũi súng chăm chĩa vào căn nhà nơi cố thủ của chú và các anh. Lúc này tôi mặc kệ, dửng dưng như không có gì phải chú ý, tôi rất tỉnh táo đường hoàng bước lên cầu chen giữa đám lính đang đứng ngồi, tay ghìm súng sẵn… Sức kiệt hơi cùng, nhưng tôi cố bước, bước đi khó khăn đành phải vịn vào xe tăng chiếc này chuyền qua chiếc khác để qua được bên kia cầu. Vậy mà không một tên nào hỏi han gì cả, chúng chỉ nhìn. Qua cầu, xuống dốc, theo dạ cầu thẳng ra Chợ Lớn mới. Tới ngay mặt đồng hồ cửa chánh, cảnh sát áo trắng, ngồi đứng ngổn ngang, xung quanh vắng vẻ không một người dân thấp thoáng, chì gai địch giăng chằng chịt tứ tung.

So-487--Quan-giai-phong-mien-Nam-tan-cong-san-bay-Tan-Son-Nhat-trong-cuoc-Tong-tien-cong-va-noi-day-Tet-Mau-Than-1968
Quân giải phóng miền Nam tấn công sân bay Tân Sơn Nhất trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Tết Mậu Thân 1968 (Ảnh tư liệu)

Một tên hỏi: “Đi đâu?”.

Tôi trả lời: “Đi nhà thương, nhà tôi bị sập, tôi đi nhà thương”.

Hắn tiếp: “Đưa giỏ coi!”.

Tôi định nó lục giỏ sẽ bất ngờ lấy súng bắn chết tên cảnh sát này trước khi nó bắn mình ngã xuống, lúc này tôi thấy tỉnh táo lạ thường… Khi nó gỡ chiếc khăn đậy trên, thấy nhiều tiền nó hỏi: “Làm gì để nhiều tiền vậy? Cất đi kẻo mất”. Thấy bộ quần áo cũ, nó đậy lại bảo: “Đi đi”. Tôi đứng dậy, miệng nói cảm ơn rồi lững thững bước đi… Một thằng cảnh sát khác gọi lại: “Đi đâu?”. “Tôi đi nhà thương”.

“Sao phải đi nhà thương?”. “Nhà tôi sập, tôi bị thương”. “Chớ không phải Việt Cộng bị thương hả?”. “Không”. Nó chỉ hỏi vậy rồi cho đi.

Về trong lòng dân… Về đất Thánh…

Băng qua Hùng Vương vắng hoe, thêm một đoạn nữa đến chợ gạo Trần Chánh Chiếu bỗng thấy một bà bán cháo ngồi lề đường.

- Dì bán cho một tô cháo.

Tôi cầm tô cháo tay run đánh rơi tô cháo bể văng tứ tung. Bà bán cháo hỏi:

- Cô mệt lắm hả? Để tôi kêu dùm xe cho cô.

Khi xe đến, bà dìu tôi lên xe và bảo: “Đi đi cô”. Bà hối tôi đi không đòi tiền cháo mà tôi cũng quên trả tiền và quên cả chào bà.

Anh tài xế xích lô từ đường Hùng Vương qua đường Trần Quốc Toản rồi vào hẻm đến số nhà 119/35, nhà của chị Ngô Thị Nhàn là cơ sở cách mạng do tôi tổ chức. Khi đến đây, xe dừng lại; chị Nhàn dìu tôi vào nhà. Tôi chưa kịp trả tiền xe và chào thì anh xích lô đã đi mất. Tôi suy nghĩ: Bà bán cháo và anh xích lô này, người của ta đến đón đồng đội hay là những người dân có cảm tình với cách mạng. Âu là sự “giúp đỡ tình cờ” cứu thoát tôi như chú Hai Hoàng đã tiên đoán. Đến nhà chị Nhàn, sức lực cùng kiệt nhưng nỗi lo về chú Hai và các anh, tôi không sao ngồi yên được. Tôi gượng dậy đi bộ trở lại bến xe Chợ Lớn, định vào khu vực cầu Balykao. Nhưng khi tới đó cảnh sát không cho vào. Khu vực ấy địch đang đánh bom dữ dội, nhà cháy khói lên đen kịt. Tôi bần thần: Chắc chú Hai và các anh bị thiêu rụi hết rồi… Tuyệt vọng, tôi thất thểu trở lại nhà chị Nhàn ở tạm. Khi ấy nhiều anh em cơ sở cách mạng do tôi tổ chức khuyên tôi nên ở lại Sài Gòn điều trị các vết thương, chờ tình hình chiến sự lắng dịu, địch bớt truy lùng hãy về căn cứ. Tôi nghĩ: Ở lại thì thuận lợi hơn nhưng còn việc báo cáo tình hình Trung đoàn sẽ bị chậm trễ. Do đó, tôi quyết định về gấp để báo cáo.

Sáng hôm sau, ngày 19-6-1968, ngụy trang chiếc đồng hồ và cây súng của chú Hai Hoàng, Trung đoàn trưởng giao, cố gắng lên xe đò về Chợ Đệm, vào vùng giải phóng để tìm đường về Bộ Tư lệnh Phân khu II. Về đến Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, đến đây sức khỏe tôi quá cạn kiệt, không còn đi bộ nổi. Các anh chị em dân công khiêng tôi bằng võng, chở tôi bằng xuồng, đi dưới mưa bom, đạn pháo, trực thăng soi nhưng cũng đã về đến đất Ba Thu (Thánh địa của Cách mạng miền Nam) an toàn và kịp báo cáo tình hình chiến đấu của Trung đoàn 31 và giao lại kỷ vật của Trung đoàn cho Bộ Tư lệnh Phân khu II.

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của Trung đoàn giao phó!

Công tác của Võ Thị Tâm còn kéo dài đến 8 năm sau Mậu Thân 68: vào lại vùng địch, bị chỉ điểm, bị bắt, bị tra tấn, bị ở tù, sớm trở về với đồng đội kịp thời với Chiến dịch Hồ Chí Minh. Giải phóng miền Nam, chị được “mãn nguyện” công tác tại Q.11, lần lượt với các cương vị Bí thư khóm, Bí thư phường và Thẩm phán Tòa án Q.11. Năm 1990 nghỉ hưu, thương binh 1/4.

Báo cáo của Võ Thị Tâm mang tính chất nội bộ, có thể là một tự thuật của đảng viên, không nhằm xuất bản trên sách vở, báo chí nhưng đến tay đồng chí Võ Trần Chí, bắt gặp lại người lính trinh sát tuyệt vời của mình một thời ở Phân khu II, đồng chí đã trân trọng đưa vào sách Tư liệu tham khảo bên cạnh những diễn văn của mình. Và duyên may cho người viết bài này tiếp cận được, lấy tư liệu làm một biên khảo nhỏ. Đồng chí Tâm đừng phiền lòng về việc không xin phép trước khi sử dụng tư liệu, hãy coi những dòng này như một lời xin lỗi về việc “làm trước thưa sau”.

Tôi tâm đắc báo cáo Võ Thị Tâm vì hai lẽ:

Thứ nhất: Đây là tư liệu bậc I trong sử học do chính người trong cuộc, người làm nên chiến công viết về đơn vị mình, đồng đội mình và chút ít về bản thân. Độ chân thực không thể tranh cãi.

Thứ hai: Những chiến công của các đơn vị đánh vào Nam và Bắc Sài Gòn đợt 2 ít được báo chí nhắc đến bị lu mờ trước những chiến công vang dội của đợt I vào dịp Tết. Những cánh đồng hoang, con sông Chợ Đệm, những tên đường, tên phố mà Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 81 đi qua trong máu lửa gây xúc động người đọc hôm nay. Thực ra Thông tấn xã Giải phóng có đưa tin nhưng gọn lỏn, không gây ấn tượng mạnh. Tên người chỉ huy, tên đơn vị, tên đường phố đơn vị đã đi qua, ngày giờ xảy ra sự kiện cùng những chi tiết trên chiến trường có sức thuyết phục mạnh mẽ người đọc hôm nay vì tính chân xác của nó.

Đối phương nói về ta…

Sau Mậu Thân 1968, Tổ Quân sử Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH có xuất bản tập sách về sự kiện này. Xin lược dẫn một vài chi tiết nhằm đối chiếu với báo cáo Võ Thị Tâm khẳng định thêm tính chân xác của báo cáo.

Các trận đánh trong đợt 2, từ 5-5 đến 18-6 (trang 119):

… Tại Q.5, khoảng 7 giờ sáng,bọn địch vẫn chiếm Tòa hành chính Quận 5.

… Ngày 8-5-68. Tình hình Chợ Lớn trở nên nghiêm trọng hơn. Địch xâm nhập vào cầu Bình Tiên. Một số khác xuất hiện ở ngã tư đường Hậu Giang, Minh Phụng và các khu kế cận như khu Bãi Sậy, hãng dệt Nam Á, Lò Gốm… Tình hình Q.8 cũng rất khẩn trương. Trong buổi chiều, khu trục ta oanh kích vào một vài địa điểm tại vùng này.

Trận đánh Bình Thới – Minh Phụng, từ 5 đến 12-5-1968:

Trang 139… Tình hình mặt trận này bước sang ngày thứ hai lại thêm phần nghiêm trọng. Ban đêm dù soi sáng và bắn trọng pháo cầm canh, địch vẫn lọt thêm vào. Trong ngày 6-5, suốt khu vực Phú Thọ và đường 46 thuộc phạm vi các Q.5 và 6 đô thành đều có địch lợi dụng lẩn trốn vào nhà dân cầm cự… Mũi dùi của địch quân chọc xuyên vào Q.6 mỗi lúc một nặng thêm. Sau 50 giờ nổ súng, quân số địch ở đây tăng vọt lên. Đường xâm nhập của chúng vẫn theo lối cũ như trong cuộc tấn công Tết, nghĩa là địch chọc thủng Q.6 để lọt vào Q.5 theo lối Chợ Thiếc rồi sang Ấn Quang rồi vọt về Q.3 cùng trung tâm thủ đô. Nhưng mọi cố gắng của chúng đều bị chặn tại đường 46.

Vào đêm 6-5, nhiều phần tử lẻ tẻ vượt sang đường Minh Phụng và đã bắn sẻ trúng Đại tá Đàm Văn Quý tử thương khi ông đi xe jeep ngang qua công trường Duy Linh, Việt cộng núp trên một cao ốc bắn hai quả B40 vào xe jeep. Xe Đại tá Quý trúng đạn B40 lật nhào, liền đó một băng đạn AK bắn vào Đại tá.

Ngày 8-5… trang 140… Tại đường Minh Phụng, hai ngôi nhà lầu 4 tầng nằm cách nhau lối 50 mét cạnh góc đường 46 đối diện với số 324 là đơn vị súng nặng của địch. Mỗi ngôi lầu đặt một ổ phòng không, một ổ đại liên Đông Đức và các súng B40 hỗ trợ. Việt cộng từ hai cao ốc này bắn riết dọc đường Minh Phụng để kìm chế tiến quân của ta. Trong lúc đó một khẩu đại bác không giật 75 ly nằm sát giữa phố để đợi chiến xa di chuyển đến thời bắn. Vào ngày hôm trước, khẩu 75 ly bắn làm các chiến sĩ không tiến vào gần được…

Trang 143… Một căn lầu 3 tầng màu xám đối diện với quân ta là nơi hỏa lực địch mạnh nhất. Ba lần tiến chiếm không được, ta đã phải yêu cầu phi cơ can thiệp…

Đợt 1, Tiểu đoàn 6 Bình Tân vào Sài Gòn với trên 400 quân. Tung hoành nội đô 12 ngày đêm, khi trở ra còn 27 cán bộ và chiến sĩ.

Đợt 2 (lần 2), Trung đoàn 31 thiếu 1 tiểu đoàn cùng Trung đoàn bộ ngót 1.000 quân dọc ngang Q.5, Q.6, 22 ngày đêm (Võ Thị Tâm ghi là 20 ngày đêm vì tháng 5 có 31 ngày, từ 26-5 đến 17-6-68) vượt vòng vây ra thế hợp pháp chỉ một mình Võ Thị Tâm. Ngày nay nhắc lại tổn thất này vẫn đau nhói nhưng vẫn cần phải nhắc cho hậu thế thấy cái giá phải trả để có độc lập tự do, không như ai đó đem tổn thất này làm cớ phiền trách chủ trương Mậu Thân của lãnh đạo là những cuộc “hành quân tự sát”, “đưa chiến tranh du kích vào đô thị”. Thực lòng chỉ mong mỏi có còn ai may mắn (ngoài Võ Thị Tâm) như quân y sĩ Bảy Thọ bị bắt làm tù binh được trao trả sau Hiệp định Paris. Các đơn vị đi chiến đấu bao giờ cũng còn lực lượng hậu cứ chăm lo cho đơn vị lúc xuất phát, lúc đang chiến dịch, và lúc hoàn thành nhiệm vụ trở về. Có còn ai là thương binh trở về lúc nửa chừng chiến dịch? Có còn ai như anh Bảy Thọ bị thương, hết đạn bị bắt nay được trao trả trở về? Nửa thế kỷ rồi, các anh trở về quê ngoài Bắc, tản mác làm ăn ở Long An. Trung đoàn Tân Lập (lập sau đợt I) 31 liệu có còn phiên hiệu sau Mậu Thân khi Ban chỉ huy không còn nữa? Hy vọng Tiểu đoàn 6 Bình Tân con cưng của Long An còn phiên hiệu. Mong thế hệ lãnh đạo Tiểu đoàn 6 sau này tìm hiểu lịch sử của Tiểu đoàn, cất công tìm lại người cũ của Tiểu đoàn, đề xuất thành lập Ban Liên lạc truyền thống. Có thể người ta bảo đó là việc của Hội CCB tỉnh Long An, nhưng xin thưa con cháu tìm cha ông trực hệ có nhiệt tình hơn, nói theo tâm linh phải là con cháu huyết thống thì “vong mới nhập”. Hãy tập hợp các anh lại, chăm lo đời sống, gia cảnh nhất là với các thương binh, quan tâm công tác khen thưởng với chiến công của các anh. Từ Mậu Thân cho đến ngày toàn thắng còn phải đi qua 7 năm máu lửa, “Long An Trung dũng Kiên cường Toàn dân Đánh giặc”, tám chữ vàng Bác Hồ khen tặng, đài Giải phóng tiếp nối chừng nào thì quân dân Long An gánh chịu bom pháo từng ấy. Trận càn Đông Dương 1970, Mỹ – Ngụy đánh vào “Thánh địa Ba Thu”; nhiều thế hệ tiếp nối lãnh đạo Long An, thế hệ sau không biết hết thế hệ trước nên lớp người đi trước, nhất là công tác mật đô thành chịu nhiều thiệt thòi.

Để nhìn nhận tầm vóc của đợt II Mậu Thân cánh Tây Nam Sài Gòn xin mượn lời đồng chí Lê Khả Phiêu:

40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau Chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyển biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là “ghê” lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo…

Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là “ghê” lắm rồi. Ai đã đến Cố đô Huế có thể hình dung được những khó khăn và thuận lợi mà Trung đoàn 9 – Tướng Lê Khả Phiêu thừa hưởng của tổ tiên: tường cao, hào sâu, tầm quan sát rộng tứ bề của tòa thành cổ chỉ cần trấn giữ tốt mấy cổng thành…

Trên đường phố Q.5, Q.6, lấy nhà làm công sự, đục tường làm giao thông hào, lấy cao ốc làm điểm cao, lấy đường phố làm chiến địa, hai đối thủ chỉ cách nhau trên dưới vài trăm mét, AK47, AR15, đôi bên đều nằm trong tầm sát thương của nhau. Các đường phố dẫn đến chiến địa địch có thể bịt kín bằng xe tăng, xe bọc thép, xa hơn một ít thì cảnh sát dã chiến bủa vây thế mà Tiểu đoàn 6 cùng với Trung đoàn 21 chịu trận đến 22 ngày đêm “cũng đã là ghê lắm” rồi đấy chứ!

Viết đến đây văng vẳng bên tai tôi khúc hát “Bài ca Người nữ tự vệ Sài Gòn” của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn.

Đảm đang cô gái Thị Nghè,
Phú Lâm mưa nắng cần lao khuya sớm…
ớh.. ơh.. hò ơ…
Em như con chim giữa mùa xuân,
lao trong mưa bom chẳng dừng chân.
Luồn trong khói mù,
dáng em sáng lòa,
súng em sẵn sàng.
Bắn…

Không rõ nhạc sĩ lấy nguyên mẫu nào để viết ca khúc này, riêng tôi khi nghe lại bài hát này thấy thấp thoáng đâu đây Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 31, Võ Thị Tâm và những người cùng thời đâu đó…

Nguyễn Quế
(Nguyên quay phim Xưởng phim QGP B2 Cánh Bắc Sài Gòn trong Mậu Thân 68)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 487

Ý Kiến bạn đọc