Truyện ngắn

Bản đồ xanh

Trọng rẽ vào làng Trạch. Gió bấc, trời mưa phùn, đường gạch lồi sóng trâu, xe đạp chật chưỡng trèo lên lộn xuống.

Không còn ai trên đường. Trời đã sẩm tối. Trên những ngọn tre đầu làng, vài sợi khói bếp bị mưa tán ra luẩn quẩn.

Tiếng xoong nồi va nhau loảng xoảng trong gian bếp nhà ai ngay đầu làng. Trẻ con trêu nhau khóc ré lên. Cả tiếng lợn đòi ăn eng éc.

Các cổng tre đã khép hờ. Trời mưa, ngày tháng 10, tối nhanh.

Lúc trước khi đi giao hàng, sếp bảo, gần thôi, cứ rẽ vào ngã ba Quý, đi chừng mấy gập dây thừng, rẽ phải theo đường tàu chạy, lại rẽ trái, qua hai cánh đồng, hỏi làng Trạch, nhà ông Bắc.

Lúc nhận lệnh cũng đã 5 giờ chiều. Lại chiều thứ bảy. Sếp có phải làm đâu, sếp phóng xe đi chơi, nhả khói vào mặt Trọng.

Mới vào làm, Trọng không dám cãi nửa câu. Mấy anh già đã về từ trước.

Trọng lầm lũi dắt xe ra.

Hàng chỉ có một gói giấy báo cũ, cầm nặng nặng. Xe thì thủng bô, nổ phành phạch, gặp bùn lầy cứ khục khặc mấy lần định chết máy, lắm lúc muốn vứt cái thứ gì gói trong giấy báo đi quay về nhà. Nghề ngỗng quái gì thế này? Muốn gặp ngay ông anh rể mà ném câu ấy vào mặt. Chầu chực ở bưu cục từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối, có khi vượt cả 20 cây số tới một làng rõ hẻo lánh chỉ để đi đưa một lá thư, một tờ báo. Giờ một cái đang nằm trong túi của anh, sợ đường lầy lội trơn ngã còn phải quàng qua vai, đeo trước ngực. Thở cũng khó.

Thằng Thông, từng rửa cà rốt thuê với nhau ở xưởng nhà Du Gù đã rủ Trọng ra quán bia Cây Khế ven đường Năm. Đãi ba ca. Cho tới lúc hoa khế tím lịm trong mắt, quả khế nhảy tưng tưng trên cành, thì Thông vỗ vai rủ Trọng đi xuất khẩu lao động.

- Tháng bét cũng kiếm 15, 20 triệu.

- Tiền đâu mà chạy.

- Vay mượn. Có tướng làm quan có gan làm giàu.

Cuối cùng thì cà rốt đã hết mùa, Thông đã bỏ đi làm ở đâu đó, không biết gan nó to thế nào rồi, Trọng vẫn chưa thấy có gì để làm giàu. Lang thang thời gian, anh rể tiếc rẻ, biết thế đầu năm cứ để cho cậu đi khám nghĩa vụ, lêu lổng là hỏng người. Sau nhờ vả người ta xin việc cho. Tưởng việc gì. Là việc chuyển hàng cho khách từ bưu cục này.

Chien-si-giu-chu-quyen-bien-dao
Chiến sĩ giữ chủ quyền biển đảo – Ảnh: dantri.com.vn

Ngày đầu tiên chui tận một làng cách 20 cây số, vào nhà người ta gặp con chó đẻ xồ ra, cắn cho rách tan đôi giầy mới mua 300 để đi nhận việc mới, còn may là chưa chảy máu nên không phải tiêm phòng chó dại.

Anh rể vứt cho đôi giầy cao su bảo đi tạm. Xấu mà đi vào đường này lại hợp, mỗi khi xe định đổ, Trọng chống chân xuống đường, dính như phanh.

Gốc tre phía trước có người con gái đang buộc trâu. Đời vẫn còn may chán. Gặp được người mà hỏi thăm. Trọng nhấn ga, bánh xe vượt qua ổ gà đầy nước, đầu xe lắc mạnh.

- Cô cho hỏi nhà ông Bắc!

- Làng này có ông Bắc phía nam, lại có một ông Bắc phía tây.

- Ông Nguyễn Văn Bắc ạ.

- Ông Bắc nam, anh quay lại đi.

- Quay lại, còn xa không ạ?

- Không, cái cổng gỗ sơn màu gụ gần gốc nhãn ấy.

Người ấy lại cúi xuống buộc trâu. Con trâu nằm xuống vẻ uể oải sau một ngày mưa dài không gặm được nhiều cỏ.

Bánh trước đã lép xẹp. Thật đen như trâu. Trọng cúi xuống tìm, móc ra một mẩu sắt nhỏ đã đâm vào lốp. Hết hơi, đành dắt xe vào cái cổng được chỉ dẫn.

Cổng cũng khép. Làng giàu có gì mà khép cổng sớm thế. Nhà Trọng ngói cấp 4, sân có 3 cây hồng là tài sản quý giá của mẹ, hoa hồng ta sum suê từng chùm, trăng lên hương ngan ngát lan ra cổng, vươn ra ao, thơm khắp không gian, bao giờ cổng cũng mở tới khi đi ngủ mới thôi.

Chưa gọi đến câu thứ hai, ông Bắc khoác áo mưa ra mở cổng. Từng giọt nước mưa rơi từ trên vành mũ xuống má ông lão, long lanh.

- Cháu mang bưu phẩm tới cho ông.

Mắt ông Bắc bừng sáng, tay vội đỡ cánh cổng để mở được to hơn.

- Tôi chờ đã lâu. Mời anh vào nhà làm chén trà nóng đã. Mưa gió quá nhỉ?

Không vào cũng chẳng biết đi đâu khi trời mưa, đường trơn lầy lội, xe lại thủng lốp, kiếm đâu ra một quán sửa xe bây giờ. Trà pha xong, khay chén tỏa khói. Nhấp ngụm thấy nóng người. Ông Bắc cũng khà một tiếng sảng khoái. Gói giấy báo được chậm rãi cởi ra. Một chiếc kéo làm thủ công nhưng trông rất chắc chắn, sắc ngọt.

- Kéo tỉa răm đấy. Phải đặt một xưởng thủ công tận trong Nam đưa ra anh ạ.

- Tỉa răm?

- Cho vườn cây của tôi.

Lúc này, Trọng mới quan sát kỹ mảnh vườn trước sân nhỏ. Tới vài chục chậu cây cảnh bày quanh sân. Cũng từng nghe nói, nhiều người chơi cây cảnh mê hơn mê gái, giàu nhanh mà nghèo cũng nhanh, tùy vào trình độ nhận thức và tay nghề sửa cây.

Nhà ông Bắc 4 gian ngói cũ, có thể cây cảnh vẫn chưa tác động mạnh tới túi cơm của ông.

Chén trà nữa, ông Bắc kể cho Trọng nghe, tất cả những chậu cây trong vườn đều một tay ông ươm trồng, cắt tỉa, đã bán một cây được 5 triệu cho thằng con cả đi xin việc, giờ nó lại đòi bán mấy cây nữa, ông dứt khoát không. Cây kéo này đã về đến đây thì chỉ trong nay mai, tác phẩm của ông sẽ hoàn thành, tâm sức bao năm ông dồn vào hết đây.

Nghe chuyện, niềm say mê cây cảnh của ông như truyền phần nào sang cho Trọng. Trọng há mồm nghe, gật gù, vẻ hiểu chuyện lắm.

Khoác áo mưa, ông Bắc đưa Trọng đi qua nhà ngang, ra ngắm một cây cảnh mà ông bảo là tác phẩm nghệ thuật độc đáo nhất vì ông đã dồn bao công lao, sức lực, tình yêu, nhiệt huyết để làm và chỉ nhận ra người nào có tình yêu cây thực sự ông mới dẫn ra giới thiệu.

Mưa vẫn giăng giăng trong màn đêm dần buông, ánh đèn pin loang loáng, Trọng giật mình khi nhìn thấy tấm bản đồ Việt Nam được tạo tác từ một cây sanh quê cứ xanh biếc, sừng sững.

Hình chữ S tựa một chú rồng bay lên mềm mại, uyển chuyển, tràn trề sức sống, mà đầy uy nghiêm, trầm mặc. Gốc, thân, cành, lá đã vào khuôn đâu đấy, có chỗ lồi, chỗ lõm như bờ biển, lại có vài tán la, tán bổng vươn ra khỏi khuôn khổ.

- Bác định tạo hình gì ở mấy cành vươn ra này?

- Cứ như trên bản đồ, cậu đoán xem!

Trọng nheo mày. Nhớ ra, thốt lên:

- Bố già giỏi thật. Có phải mấy cành này bố định làm quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, đúng không bố?

- Thế mới phải đặt hàng cây kìm này chuyển ra. Tỉ mỉ, kỳ công lắm.

- Bố làm nó từ khi nào?

- Tôi bắt tay thực hiện tấm Bản đồ Xanh này từ 28 năm nay.

- Hai mươi tám năm để cắt tỉa một cây cảnh dáng bản đồ? Bố phải đam mê lắm, cây này phải có ý nghĩa với bố lắm?

Ông Bắc gật gù, vỗ vai Trọng:

- Đúng là hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Tối nay anh ở lại đây uống rượu, tôi sẽ kể chuyện về cây Bản đồ Xanh này cho anh nghe, rồi đam mê tự khắc tìm đến với anh.

Ông Bắc quàng vai Trọng như bố con ruột thịt.

Lên nhà, chiếu đã trải, mâm cơm đã dọn, rau luộc, cá kho, đậu luộc, cảm giác quen thuộc xâm chiếm lấy Trọng. Cô gái chỉ đường lúc nãy đi tìm chén rượu. Bà vợ đang bê nồi cơm ra.

- Cô đây là…

- Con gái út tôi đấy. Nhà hiếm hoi chỉ được hai mụn con. Nó vừa đi ra đồng về.

Cô gái chào khách rồi đi xuống bếp. Chảo lạc đang dậy mùi bay lên thơm phức. Hai ông con ngồi uống rượu. Câu chuyện về người lính ra đảo Cô Lin làm nhiệm vụ bảo vệ đảo đã khiến Trọng lặng người, chén rượu cầm lên lại đặt xuống. Ông Bắc là lính công binh, đã cùng đồng đội ra đảo Cô Lin cắm mốc chủ quyền và xây dựng đảo.

Trọng đã đọc câu chuyện kể về thuyền trưởng tàu HQ 505 là Vũ Huy Lễ đã dũng cảm, sáng suốt như thế nào. Khi tàu HQ 505 đang di chuyển vào đảo thì tàu Trung Quốc khiêu khích, nhưng tàu ta vẫn lên đảo cắm mốc chủ quyền trên đảo Cô Lin sáng 14-3-1988. Hôm sau thì tàu Trung Quốc tấn công bộ đội Việt Nam đang bảo vệ cờ trên các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao và nã súng vào các thuyền HQ 505, 604, 605. HQ 505 bốc cháy ngùn ngụt. Vị thuyền trưởng này đã có một quyết định lịch sử, bằng mọi cách phải đưa tàu lên bãi cạn vì cứ để tàu dưới biển thì tàu chìm mà vẫn mất đảo, anh em cũng hy sinh hết. Họ đã dùng một máy tiến, một máy lùi để tàu quay mũi hướng về phía đảo. Tiếng san hô cọ rào rào vào thân tàu.

Bộ đội trên tàu dập lửa, ông Bắc cùng đồng đội được lệnh dùng thuyền cao su sang Gạc Ma cứu vớt công binh, bộ đội trên tàu HQ 604 bị Trung Quốc bắn chìm và đưa được 44 chiến sĩ trong đó có thương binh, tử sĩ về an toàn.

Trước biển, cờ Tổ quốc đã tung bay, dù nguy nan còn kéo dài hàng tháng trời. Chủ quyền đảo Cô Lin được giữ vững.

Nhưng chuyện đưa cây sanh trên tàu 604 về làm bản đồ Việt Nam thì phải đợi đến ông Bắc kể, Trọng mới được biết.

Khi thuyền cao su chạm mạn tàu HQ 604, cùng đồng đội lên tàu cứu bộ đội, chiến sĩ Bắc tìm thấy một người lính bị thương nặng ở đùi, máu chảy như suối, vội xé áo băng bó vết thương, rồi tìm cách đưa đồng đội sang thuyền. Vừa khom lưng cõng người bị thương thì chân Bắc đá phải một cây sanh đã bể bầu đất nằm ngã lăn trên sàn, cành lá rã rượi. Người bị thương thều thào: “Quà của mẹ, Xanh mang theo cùng ra đảo. Mẹ bảo cho Xanh đỡ nhớ nhà, nhớ mẹ!”. Rạng sáng, Xanh hy sinh! Bắc một tay ôm lưng đồng đội, một tay cầm cây sanh đút vào túi quần, rồi xốc nách, cõng anh xuống xuồng cao su. Hôm đó là ngày 14-3-1988.

Cô con gái bần thần ngồi tựa vào góc tường, khẽ lấy tay áo lau những giọt nước mắt. Người mẹ im lặng đi vào buồng trong.

Trọng và ông Bắc nhìn mắt nhau. Muốn ôm chặt lấy ông Bắc một cái mà không hiểu sao anh không thể nhúc nhích được.

Đêm. Trời ngớt mưa. Gần sáng thì trăng lên. Cửa sổ bị gió đập nên Trọng tỉnh giấc. Không thấy ông Bắc nằm bên cạnh, Trọng lần ra sân, qua nhà ngang. Dưới trăng, ông Bắc đang đứng như tượng bên cây Bản đồ. Trăng sáng, ánh sáng kỳ lạ đang tràn xuống cây sanh, tràn xuống vai ông như suối nguồn. Tâm hồn Trọng bừng sáng theo.

Chủ nhật.

Trọng đến chơi. Ông Bắc đã có ý đón khách bằng bài học tỉa răm. Kéo bấm ngọt thỉu. Nắng đứng bóng thì quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa đã hiện ra, như những nắm bông, xanh mướt, bồng bềnh, lá sanh khum vào nhau tạo hình đảo nổi đảo chìm, cành sanh nâu sậm vươn ra nối đảo về với đất liền.

Hai tháng sau thì sân vườn nhà Trọng cũng đã ươm đầy bầu cây: sanh, đa, lộc vừng, tùng, hoa sứ, hoa giấy… Mỗi khi nghỉ việc, Trọng đến học uốn tỉa cây, không chỉ có ông Bắc, mà người con gái ông cũng đã tự tay pha trà mời bố, mời khách, sau thì quanh quẩn ở vườn nhặt cỏ. Thế rồi càng ngày Trọng càng thích đưa bưu phẩm đến những làng xóm xa xôi, vì đến nơi đó anh đã tìm mua được mấy gốc nhài, gốc giấy đem về cắt tỉa lên chậu khá đẹp. Trọng mơ ước có một ngày sẽ tạo tác ra một tác phẩm nghệ thuật nào đó như ông Bắc đã làm ra Bản đồ Xanh.
Vừa mua được một cây dành dành, Trọng lại ngay đến nhà thầy nghề ra mắt. Ông Bắc khen, đã có con mắt biết nhìn ra cây đẹp, cây lạ. Ông lại khoe:

- Một người đi ô tô đến, trả cây Bản đồ Xanh 400 triệu.

Tai Trọng ù đi:

- Bố không bán?

- Bốn trăm triệu là quá to nhưng chưa là gì so với cây kỷ vật này.

Bản đồ Xanh phơn phớt quả vàng sau kẽ lá, như đồng như biển quấn lấy nhau. Trọng ngắm mê đi.

Nhưng không ngờ, không ai ngờ, một hôm, vợ chồng ông Bắc và con gái về quê ăn cỗ, ở nhà, cậu con trai lớn đã gọi thợ bán ngay cây đi. Vừa về tới sân, thấy mất cây, ông Bắc ú ớ rồi ngã vật xuống, giờ thì nằm bày bạy trên giường. Cậu con trai đang quỳ dưới chân giường hối lỗi.

Trọng nhận ra Thông, bạn cùng làm thuê trong xưởng cà rốt. Cậu ta đã đem đi đặt cọc 50 triệu cho môi giới xuất khẩu lao động.

- Ai mua?

- Ông Bính nghệ nhân bên huyện Cẩm Giàng.

Trọng rồ ga, chiếc xe máy phình phịch phóng vút đi, Thông ngồi sau chực rớt ra khi gặp ổ gà.

Ông Bính nghệ nhân được nghe câu chuyện Trọng kể, đi vòng quanh cây Bản đồ Xanh tới cả chục vòng. Rồi vào mặc bộ quân phục đi ra chỗ hai thanh niên đang đứng đực mặt bên cây.

- Hai cậu cứ thong thả gọi thợ đến chở cây về. Tôi đi trước.

- Bác đồng ý cho cháu chuộc cây? Lại cho cháu nợ 50 triệu?

Ông Bính không nói, lên xe phóng đi. Khi hai cậu trai đưa cây về đến nhà nguyên vẹn không rụng một chiếc lá thì ông Bắc đã đang ngồi bàn uống trà, bên kia là nghệ nhân Bính. Lại một bất ngờ.

Họ nói đều là đồng đội. Người đi lên rừng đánh trận biên giới năm 1979, người xuống biển đánh trận Gạc Ma 1988.

Trọng nghỉ làm ở bưu cục, lên đường nhập ngũ.

Hôm ấy có mưa xuân, có cả người con gái làng Trạch đưa tiễn. Trao vội vàng cho Trọng chiếc khăn tay thêu hoa hồng, người ấy khẽ kể, xã vừa xây xong trường mới, Bản đồ Xanh sẽ được dành làm quà tặng nhân dịp khánh thành. Bố muốn Bản đồ sẽ mãi xanh trên sân trường.

Nguyễn Thu Hằng
(Tỉnh Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2017

Ý Kiến bạn đọc