Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Bạn bè muôn năm!

Vì Pháp rồi Mỹ đều có phương tiện chiến tranh tối tân mà ta chưa tự sản xuất được, để đánh Pháp đánh Mỹ ta cần có “bạn” cung cấp cho ta phương tiện tương đương. Bạn trước tiên là Liên Xô, nhưng để hầu hết những thứ Liên Xô cho có thể đến tay ta, ta cần sự hợp tác của bạn nữa là Trung Quốc. Ngoài việc cho mượn đường, bạn Trung Quốc còn tự viện trợ cho ta không ít vũ khí và nhất là hàng quân nhu.

Hai bạn cộng sản giúp ta đều là trong chiến lược đối đầu với phía tư bản. Do chiến lược có thể thay đổi, và do riêng bạn Trung Quốc lại có một thèm thuồng truyền kiếp đối với lãnh thổ ta, mà tình hình quan hệ với hai bạn có thể biến động lớn.

Các hồi ký về cuộc chiến tranh 30 năm có chứa một số dòng tuy ít nhưng kể lại được thật nhiều về những biến động quan hệ cùng phản ứng của phía ta.

*
Trong Nhớ lại một thời, nhà thơ Tố Hữu ghi: “Từ năm 1972, do điều kiện tình hình thế giới lúc đó, ta phải giữ bí mật với Trung Quốc và Liên Xô. Bởi vậy, khi ta giành toàn thắng, các bạn không khỏi bất ngờ”.(1)

Tình hình thế giới lúc đó thế nào? Đầu năm 1969, Ních-xơn lên cầm quyền ở Mỹ. Đây là một tổng thống Mỹ có thiên tư về đối ngoại. Ních-xơn nhận thấy Mỹ nên thừa cơ hội Liên Xô và Trung Quốc đang mâu thuẫn trầm trọng (tới mức xảy ra xung đột ở biên giới) mà tạo ra một cái thế Tam Quốc để lấy Trung Quốc phụ mình kiềm chế Liên Xô. Gia dĩ, từ khá lâu Ních-xơn đã chú ý đến cái thị trường một tỉ người Tàu. Cuộc đổi mới đối ngoại đầy ấn tượng chính thức mở đầu với chuyến công du lịch sử qua Bắc Kinh. Đúng như Ních-xơn dự đoán, do sợ khả năng ra đời của một liên minh Mỹ – Trung Quốc, Liên Xô sau đó đã nhanh chóng phản ứng thuận lợi đối với đề nghị Giảm Căng (Détente) của Mỹ. Nhưng quyết định táo bạo của Ních-xơn thực ra còn nhằm một mục đích nữa: “Từ lâu tôi đã nghĩ rằng muốn có hòa bình ở Việt Nam ta cần sự hợp tác của Liên Xô và Trung Quốc. Tuy Mở Cửa (với Trung Quốc) và Giảm Căng (với Liên Xô) tự thân là mục đích, tôi đồng thời cũng xem chúng là phương tiện để chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tối thiểu, Hà Nội sẽ bớt tự tin khi thấy Hoa-thịnh-đốn thương lượng với Mạc-tư-khoa và Bắc Kinh. Tốt đẹp nhất là, nếu hai cường quốc cộng sản quyết định họ có quyền lợi lớn hơn ở nơi khác, Hà Nội sẽ bị buộc phải hướng về một giải pháp chính trị mà ta có thể chấp nhận được”.(2)

Anh-minh-hoa---Ban-be-muon-nam

“Tình hình” là Ních-xơn đang thuyết phục Liên Xô và Trung Quốc bớt ủng hộ Việt Nam. Ta phải làm sao đây? Dĩ nhiên không thể cản trở hai bạn. Nhưng bạn đã đi đêm với địch, thì ta cho vào… đêm luôn, về những kế hoạch quân sự của ta. Và với niềm tin vào ngày toàn thắng vẫn vững như đồng, ta cứ tiếp tục dốc hết tâm trí lực vào sự nghiệp thống nhất đất nước mình.

*
Trong nỗ lực thuyết phục hai bạn ta, Ních-xơn đặc biệt thành công với Trung Quốc.

Thực ra, quan hệ Việt – Trung đã xuống cấp từ trước đó. Trong một cuộc họp của Bộ Chính trị không biết vào năm nào, khi bàn tới việc Trung Quốc đề nghị viện trợ một số xe tải cho đường Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã phát biểu cực kỳ gay gắt: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.(3) (Dĩ nhiên là lời nhấn mạnh, chứ có ai cản được ai nghĩ trong đầu! Thậm chí ngay cả khi “kẻ nghĩ” trắng trợn ra tay cướp Hoàng Sa năm 1974, cái hoàn cảnh đất nước vẫn còn đang bị chia hai và cái ưu tiên tuyệt đối phải dành cho việc thống nhất làm cho ta cũng đành chịu không làm gì được).

Trung Quốc giúp Việt Nam là để đối đầu với Mỹ. Nay mục đích ấy không còn, bạn giảm viện rồi dừng viện. Chẳng những không ủng hộ nữa, vì mục đích cướp, bạn còn cảm thấy cần giữ ta không thống nhất. Nhưng bạn chưa kịp làm gì cả thì ta đã sắp sửa toàn thắng! Bị bất ngờ, bạn toan manh động!

Cuối hồi ký Đại thắng mùa xuân (in năm 1977) của Đại tướng Văn Tiến Dũng, có lời ghi lấp lửng: “(Ngày 30-4-1975) Giữa lúc cả cái “triều đình” cuối cùng của chế độ do Mỹ dựng lên ngồi trong “Dinh Độc Lập” thì cửa phòng mở. Họ đứng cả dậy, tưởng là Quân Giải phóng tới. Người bước vào là tên tướng (Pháp) Va-nuy-xem. Tên này (…) ngăn việc đem cuộn băng ghi âm của “tổng thống” ngụy đi phát thanh. Rồi (…) bày kế chặn cuộc tổng công kích của ta vào Sài Gòn. Mưu ma chước quỷ của Va-nuy-xem thật là nực cười, hành động thật là thô bạo, trắng trợn, nói nhiều ra chưa tiện (…) nhưng (nếu thực hiện) cũng không giúp được ngụy quyền đảo ngược tình thế”.(4) Cựu thù Pháp định giở trò gì đây? Mà tại sao chưa tiện nói ra? Mà lại khôi hài và tuyệt vọng?

Cũng về sự việc này, có một lời ghi khác, rõ hơn hẳn: “Viên tướng Pháp Francois Vanuxem đội lốt ký giả hối hả vào (“Dinh Độc Lập”) xin gặp tướng Minh (…) “Hãy rút về Cần Thơ, cố thủ Vùng 4 Chiến thuật, chỉ vài ngày nữa thôi thì Trung Quốc sẽ áp đặt giải pháp trung lập hóa Miền Nam”.(5)

À, hóa ra là… “bạn” ấy. Va-nu-xem chỉ đi làm công việc liên lạc. Phải rồi, vào năm 1977 Trung Quốc vẫn chính thức là bạn ta, nêu tên quả có bất tiện. Nhưng thế còn…

Cái chất “hài bi” của ý đồ “áp đặt” nó nằm trong sự kiện lãnh đạo ta đã thừa biết Trung Quốc có thể sẽ gây áp lực quân sự nhằm khiến ta bỏ dở Chiến dịch Hồ Chí Minh, và đã cho bố trí lực lượng để vừa chống trả quyết liệt xâm lược từ phương bắc vừa vẫn duy trì khí thế nam tiến vào thẳng “Dinh Độc Lập”.

*
Nhưng căn cứ vào đâu mà biết phía ta đã biết?

Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chép cơ man là việc, trong đó có việc này được nhắc tới hai lần: “Ngày 18 tháng 3 (năm 1975) (…) Tôi ra lệnh cho Quân đoàn 1 kiểm tra mọi mặt chuẩn bị lên đường chiến đấu, để lại Sư đoàn 308 sẵn sàng ứng phó với tình huống địch phản ứng quân sự đối với Miền Bắc (…) Việc sử dụng Sư đoàn 308 ở lại Miền Bắc làm nhiệm vụ dự bị chiến lược có gây thắc mắc trong hàng ngũ các chiến sĩ Quân Tiên Phong. Ngày 26 tháng 3, đồng chí Hoàng Kim, Chính ủy Sư đoàn, lên Bộ đề đạt nguyện vọng của Sư đoàn xin được đi chiến đấu. Hiểu rõ tâm trạng của anh em 308, tôi thân mật căn dặn: “Sư đoàn đang làm một nhiệm vụ hết sức quan trọng (…) Hãy chuẩn bị thật tốt để sẵn sàng hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần đến. Sư đoàn 308 đang phụ trách một hướng trọng yếu của trận quyết chiến chiến lược đó”.(6)

Quân Tiên Phong không được tham dự Chiến dịch Hồ Chí Minh mà phải ở lại Miền Bắc “chuẩn bị thật tốt” để “ứng phó với tình huống…”. Tình huống lạ lùng gì đây? Vì 308 ở lại là để đối phó với xâm lược bằng bộ binh, mà dùng bộ binh đánh Miền Bắc thì ngay cả Ních-xơn vào lúc có tư thế chính trị mạnh mẽ nhất chắc chắn cũng không nghĩ tới, huống gì Pho chỉ là tổng thống tạm quyền cực kỳ yếu ớt. Trong nghị quyết của Bộ Chính trị cuối phiên họp kéo dài từ ngày 18-12-1974 đến 8-1-1975 có câu: “Ta vẫn đề phòng khả năng Mỹ có thể can thiệp bằng không quân, hải quân”.(7) Vào thời điểm ấy, lục quân Mỹ đã không được nhắc đến, mà càng về sau thì khả năng Mỹ có thể can thiệp càng giảm. Vậy thì “địch” trong mệnh lệnh ngày 18-3-1975 của Đại tướng là ai? Ngay cả với chính ủy 308, Tổng tư lệnh cũng chỉ nhấn mạnh “nhiệm vụ hết sức quan trọng” và “bất cứ”, chứ không nêu tên mối đe dọa. Nhưng kết hợp lời ghi về việc sử dụng quân này với hai lời ghi đã dẫn về chuyện xảy ra trong “Dinh Độc Lập” ngày 30-4-1975, tưởng ta có thể khá chắc chắn về tung tích của đối thủ mà Quân Tiên Phong phải ở lại Miền Bắc
chờ đợi.

Nhưng rồi địch không bao giờ xuất hiện. Vì nghe xong “mưu ma chước quỷ”, tổng thống Dương Văn Minh của “VNCH” vẫn ra lệnh cho quân đội đầu hàng. Nhân vật lịch sử này trong dịp này đã thốt ra được một lời súc tích bất hủ: “Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao!”.(8) Chỉ mười bảy chữ mà nói lên được trọn vẹn cái sự thực xấu xí về bản chất của “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng Hòa”!

*
Trong lúc triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo ta không hề quên tình hình ở khu vực Trường Sa. Hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Ngày 9-4-1975 (…) Quân ủy Trung ương điện cho Bộ tư lệnh tiền phương quân chủng Hải quân đặt tại Đà Nẵng: “Có tin đối phương chuẩn bị rút khỏi các đảo ở Trường Sa. Kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân đội nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm””.(9) Trong “một số” ấy, dĩ nhiên Trung Quốc có ý đồ to tát nhất. Hải quân Việt Nam đã thi hành mệnh lệnh Đại tướng và thu hồi các đảo Trường Sa từ tay quân đội của chính quyền Sài Gòn trước khi bất cứ nước ngoài nào kịp thừa cơ hội…

*
Bạn bè chán thế, có nên từ giờ thôi kết bạn không nhỉ?

Ấy, chớ có chán và chớ có thôi!

Trước tiên, nên nhớ rằng tuy bạn Trung Quốc nuôi ý đồ xấu đối với ta nhưng rút cuộc một phần chính nhờ có bạn giúp mà ta mới làm được đại sự là giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Bạn bè được việc thế, đáng kết quá đi chứ.

Hướng về tương lai, kết bạn vẫn hết sức đáng. Có thể khi cần các bạn mới và ta sẽ lập được một liên minh bảo vệ quyền lợi chung. Tối thiểu, ta sẽ được mua vũ khí hiện đại từ một số bạn để nâng cấp khả năng tự vệ của mình. Có một bạn mới đang mong bán nhiều “hàng” cho ta lắm đấy. Nhưng ngoài kiếm lợi nhuận, bạn này còn có động cơ chính trị rất nguy hiểm, ta cần cân nhắc kỹ trước khi mua. Ta đã có “bạn hiền” Nga cung cấp hàng “chất” giá phải chăng. Ngoài ra, Do Thái, Ấn Độ, Nhật cũng đều có sản phẩm ưu việt, lại không chực can thiệp vào nội bộ Việt Nam.

Thực ra nước Việt Nam hiện nay không có thù chính thức. Cả thế giới đều là bạn, bất quá có trường hợp giữa đôi bên tồn tại vấn đề chưa giải quyết. Vừa bạn bè vui vẻ, ta vừa luôn “chuẩn bị thật tốt để sẵn sàng” ứng phó với mọi tình huống thật xấu!

Tháng 6-2016

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 439

———————–

(1) Tố Hữu, Nhớ lại một thời, Nxb. Hội Nhà Văn, 2000, tr. 420-421. In đậm do người trích.
(2) Richard Nixon, No more Vietnams, Nxb. Arbor House, Mỹ, 1985, tr. 105-106.
(3) Trang vi.wikipedia.org.
(4) Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 1977, tr. 295.
(5) Nguyễn Hữu Thái, Trần Tuyết Hoa v.v., Sài Gòn sự kiện và đối thoại, Nxb. Thế Giới, 2015, tr. 89.
(6) Võ Nguyên Giáp, hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, in lại trong Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2006, tr. 1.178, 1.180.
(7) Văn Tiến Dũng, sđd., tr. 34.
(8) Nguyễn Hữu Thái v.v., sđd., tr. 89. Đây là DVM than với người thân cận sau khi nghe Va-nu-xem trình bày. In đậm do người trích.
(9) Nguyễn Văn Đấu, Dương Thảo, Đặng Văn Tới, Bộ Tham mưu Hải quân – Biên niên sự kiện (1959-2004), Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tr. 38.

Ý Kiến bạn đọc