Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Bài “Một mối thân tình” của ông Sơn Tùng nhiều điều bịa đặt

Báo Tinh Hoa Việt, cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 47 (ngày 10-3 đến 25-3-2017) đăng bài Một mối thân tình, kể chuyện ít được biết tới về quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với học giả Phạm Quỳnh của Sơn Tùng.

1. Tác giả Sơn Tùng “Ghi theo lời Vũ Đình Huỳnh, bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (không rõ là ông Huỳnh kể cho tác giả nghe vào ngày, tháng, năm nào).

Xin trích đoạn nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khách sau ngày 4-9-1945:

“Ngày 5-9-1945, Chủ tịch nghênh tiếp cựu hoàng Bảo Đại – Vĩnh Thụy tại Bắc Bộ Phủ từ 8 đến 9 giờ. Và ngày 10-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23/SL cử ông Vĩnh Thụy làm cố vấn Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tiếp theo (tác giả không nói rõ ngày nào), các vị cựu Thượng thư Bộ Hình Bùi Bằng Đoàn, cựu Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, cựu Tổng đốc Vi Văn Định, cựu Tổng đốc Hồ Đắc Điềm ứng đáp lời mời của Hồ Chủ tịch ra gánh vác việc nước. Trong thời khắc này, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế, đến số 8 phố Lê Thái Tổ bên hồ Gươm gặp Bác Hồ…

“Ông Vũ Đình Huỳnh kể:

Ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế Tôn Quang Phiệt đến Bắc Bộ Phủ. Đồng chí thường trực văn phòng đưa khách vào phòng đợi rồi đến báo với tôi (ông Huỳnh). Tôi vào phòng họp báo cáo với Bác, ông Tôn Quang Phiệt trong Huế ra đang ở phòng khách, xin Bác cho gặp chiều hôm nay có được không…? Chiều hôm ấy, Hồ Chủ tịch làm việc với ông Tôn Quang Phiệt (tại số 8, phố Lê Thái Tổ). Chính trong buổi làm việc, ông Tôn Quang Phiệt báo với Hồ Chủ tịch: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi!”. Bác thu hai cánh tay vào sát ngực tựa lên bàn, lặng ngắt một lúc… Người duỗi hai tay ra mặt bàn: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp… Đó không phải là người xấu”.

Đọc đoạn ghi này của ông Sơn Tùng, tôi không tin đó là sự thật. Ông Tôn Quang Phiệt và Bác Hồ không lạ gì hành động phản quốc chất chồng của ông Phạm Quỳnh. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội Phạm Quỳnh làm tay sai cho thực dân Pháp trong bài giảng cho học viên cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu (Trung Quốc) năm 1926, lại nói cụ Phạm không phải là người xấu. Điều này, chúng tôi đã vạch trong bài “Trở lại chuyện Phạm Quỳnh” trên báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 447 ngày 27-4-2017. Ông Phạm Quỳnh bị xử tội ngay trong những ngày sôi sục Cách mạng tháng Tám ở Huế. Các tầng lớp nhân dân ở Huế xem đó là điều khó tránh vì thực dân Pháp đang tìm cách bắt liên lạc với Phạm Quỳnh để tập hợp lực lượng đánh chiếm Huế, thiết lập lại chế độ thống trị của Pháp ở miền Trung Việt Nam. Chứng cứ rất đầy đủ. Cụ Tôn Quang Phiệt là nhà cách mạng tham gia lãnh đạo cách mạng ở Thừa Thiên trước Tổng khởi nghĩa, liền sau khi cách mạng thành công, cụ được bầu là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Thừa Thiên sao lại phải khẩn trương ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch là “cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi”. Nhà trí thức lớn, nhà cách mạng Tôn Quang Phiệt không thể gọi Phạm Quỳnh một cách trân trọng là Cụ, và lại dùng từ “khử” rất thô thiển.

Trong tập sách “Tôn Quang Phiệt 1900-1973”, phần Hồi ký, Quyển I, trang 413, cụ Tôn Quang Phiệt viết về Tổng khởi nghĩa ở Huế: … “Chúng tôi ra lệnh cho các địa phương phụ cận Huế huy động một lực lượng khoảng 15 vạn người… đến khoảng 3, 4 giờ chiều thì kéo đến sân vận động Huế để lật đổ chính quyền bù nhìn, thành lập chính phủ lâm thời… Bắt đầu từ 12 giờ trưa, các đoàn đi bắt Việt gian thân Nhật và thân Pháp, đầu sỏ là Ngô Đình Khôi và con hắn là Ngô Đình Huân, làm thư ký riêng cho cố vấn Nhật Y-cô-a-ma, Phạm Quỳnh đã về vườn ở An Cựu và con rể hắn là Nguyễn Tiến Lãng, hiện làm Phủ Thừa tỉnh Thừa Thiên và một số lặt vặt nữa, nhất là bọn theo Nhật mà biết có vũ khí…”.

Pham-Duy-Ton-Pham-Quynh-Nguyen-Van-Vinh
Từ trái – Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh

Từ ngày Tổng khởi nghĩa ở Huế 23-8, cho đến mấy tháng liền, với cương vị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng tỉnh, rất bận rộn với bao nhiêu công việc quan trọng, khẩn cả đối nội và đối ngoại tại Thừa Thiên, Huế mấy tháng liền. Cho đến cuộc bầu cử Quốc hội, Khóa I, ngày 6-1-1946, cụ trúng cử đại biểu Quốc hội. Cụ viết: “Sau khi trúng cử Quốc hội ở Huế, thì tôi thôi không làm Chủ tịch Thừa Thiên nữa và ra Hà Nội”. Không thấy cụ viết câu nào về sự kiện cụ ra Hà Nội gặp Cụ Hồ vào những ngày đầu tháng 9-1945 như trong bài ông Sơn Tùng “Ghi theo lời kể của ông Vũ Đình Huỳnh”. Rõ là câu chuyện sáng tác, giống như giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, viết rằng, khi hay tin Phạm Quỳnh bị xử chết ở Huế, Cụ Hồ nói: “Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này” (Báo Thanh niên, 6-9-2012).

Tạp chí Hồn Việt, số 63, tháng 10 – 2012, hỏi giáo sư Đinh Xuân Lâm “làm ơn cho biết xuất xứ câu nói đó của Bác Hồ. Nó được in ở đâu (Hồ Chí Minh toàn tâp?), ở tư liệu nào, hay là do truyền ngôn bịa đặt? Rồi vẽ rắn thêm chân?”.

Bốn năm liền, từ cuối năm 2012 đến trước khi qua đời, ngày 25-1-2017,

GS. Đinh Xuân Lâm đã không trả lời nổi câu hỏi của báo Hồn Việt.

2. Chuyện Nguyễn Ái Quốc gặp Phạm Quỳnh ở Paris năm 1922. Ông Sơn Tùng ghi lại lời kể của cụ Đào Nhật Vinh, một người cùng làm việc trên tàu viễn dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành mà ông được gặp ở thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5-1975. Đầu năm 1976, cụ Vinh ra Hà Nội thăm cố hương vào thăm lăng viếng Bác Hồ.

Cụ Đào Nhật Vinh bồi hồi kể:

“Năm 1919, tôi rời đại dương, lên cạn sinh sống ở Bordeaux, nhưng tháng nào tôi cũng về Paris gặp anh Nguyễn Ái Quốc và thăm cụ Nghè Ta (Phan Châu Trinh) và cụ Nghè Tây (Phan Văn Trường) và anh em thủy thủ đã lên cạn làm ăn. Từ sau ngày Nguyễn Ái Quốc đưa “8 yêu sách của Người An Nam” đến Hội nghị Hòa bình Versailles, anh em thợ thuyền, lính thợ và các giới khác đến số 6 Villa des Gobelins với niềm ngưỡng vọng “Ngũ Hổ” – Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền.

Giữa năm 1921 đến giữa năm 1923, “điểm hẹn” Nguyễn Ái Quốc ở số 3 Marché des Patriaches. Mỗi kỳ báo Le Paria in ra, tôi đến gặp anh Nguyễn nhận báo đưa về Bordeaux phát hành. Bà con người Việt mình nhận Le Paria đưa tiền rất hời để ủng hộ báo. Sôi động nhất, tháng 3-1922, vua Khải Định đến Paris và phái bộ dự “Hội chợ thuộc địa” ở Marseille. Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài chế giễu Vua Khải Định đăng trên các báo Le Paria, Le Journal du Peuple, L’Humanité…

Thời gian này, nhà đương cục Pháp theo dõi, kiểm soát gắt gao người Việt và bắt làm “thẻ cá nhân”. Cụ Phan Châu Trinh, ông Nguyễn Ái Quốc “được” A. Sarraut mời đến Bộ Thuộc địa “nhắc nhở”… “Hội chợ thuộc địa” mở cửa từ đầu tháng 4-1922, công việc chuẩn bị cho Hội chợ từ tháng giêng. Cụ Phan Châu Trinh đến Marseille, ở tại nhà ông thợ ảnh Tạ Văn Cẩn, vợ đầm. Ông Nguyễn Ái Quốc có hôm cùng ở với cụ Phan tại nhà ông Cần, có hôm ở nơi khác và về Paris lo liệu công việc báo Le Paria… Một nhóm anh em thợ thuyền, thủy thủ chúng tôi được nhận vào phục dịch Hội chợ như anh Phan Hiếu Kính, anh Nguyên Minh Quang, anh Vũ Văn Long… Cho nên chúng tôi được đến gần các vị trong phái bộ tháp tùng Nhà vua, như quan Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định, ông Phạm Quỳnh, Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, ông Nguyễn Văn Vĩnh, một bỉnh bút lừng danh Đổng Văn Nhật báo, Đông Dương tạp chí Notre Journal, Notre Revue… Ông đã từng dự cuộc đấu xảo Marseille 1906. Ông Vĩnh, ông Quỳnh quen biết nhau từ Trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, cụ Cử Can là Hiệu trưởng. Cho nên ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh mấy lần đến nhà ông Tạ Văn Cẩn đàm đạo với cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc…

Đầu tháng 7-1922, tôi không còn nhớ chính xác là ngày nào, tôi trong Hội chợ cùng với anh bạn đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau có lẽ đang nói thầm… Tôi và anh bạn quay trở lại… Chiều hôm ấy, tôi về nhà ông Tạ Văn Cẩn, gặp Cụ Phan và ông Nguyễn đang ở đây. Ông Nguyễn dặn nhỏ với tôi: Thứ năm tuần tới, ngày 13-7, Vinh đến “Cụ Nghè Đông Ngạc nhé”. Đến sớm sớm, đó… Tức là tôi đến số 6 Villa des Gobelins, cụ Nghè Đông Ngạc là Tiến sĩ Luật khoa Phan Văn Trường. Cách nói lóng này chỉ một số trong nhóm chúng tôi biết. Tôi đến sớm để làm “bữa cơm Bắc, thết khách Bắc”. Tôi vừa làm bếp vừa tự hỏi: Không biết vị khách quí nào đến mà cụ Nghè Tây (Phan Văn Trường) và Nguyễn Ái Quốc thết đãi, cụ Phan Châu Trinh bị cảm mạo nên không về Paris được. Hơn 8 giờ, thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng. Tôi đem khay trà lên phòng mời khách. Chỉ có ba vị trong phòng thôi. Và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa sửa soạn xong bữa, mất công nhiều là món lòng lợn, rau thơm gia vị tầm cho ra được các thứ ấy không dễ. Có thịt gà luộc, canh chua, cá rán, thiếu rau muống luộc, cà pháo, tương bần. Tôi được dự đồng bàn, đồng bữa với ba vị và hầu chuyện. Trong bữa ăn các vị không nói chuyện thời cuộc mà nói nhiều về phong hóa của nước nhà, tục lệ từng miền và giữa bữa ăn tôi được ông Phạm Quỳnh khen:

- Bữa cơm Việt món nào cũng ngon, đượm vị hương quen. Nhất là, món lòng lợn, đặc biệt là món dồi…

Sau bữa cơm đầm ấm tôi bái biệt cụ Phan Văn Trường, ông Nguyễn Ái Quốc, ông Phạm Quỳnh rồi trở lại hải cảng Marseille. Hà Nội – Chiếu Văn, 8-12-2008 (12-11 – Mậu Tý) – [* trích thư của nhà văn Sơn Tùng gửi nhạc sỹ Phạm Tuyên].

Những đoạn ghi chép của ông Sơn Tùng trên có nhiều điều sai sự thật:

- Nói “ông Vĩnh, ông Quỳnh quen biết nhau từ trường Đông Kinh Nghĩa Thục là bốc thơm lố bịch. Hai ông ấy có học hay làm việc ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày nào đâu! Năm trường Đông Kinh Nghĩa Thục khai giảng, ông Vĩnh 25 tuổi, đã làm báo, ông Quỳnh mới 15 tuổi đang học trường thông ngôn của Pháp. Nếu hai ông ấy quen nhau ở phố phường hay một nơi nào đó thì còn có thể, chứ ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục thì là chuyện lừa bịp, nhằm làm cho người đọc lầm tưởng hai ông này cũng là những người yêu nước có tầm cỡ đây. Vì trường Đông Kinh Nghĩa Thục do các sĩ phu yêu nước sáng lập và dạy ở đó. Thực dân Pháp theo dõi, thấy rõ các cụ dạy lòng yêu nước cho con em, thế là nó đóng cửa, mới sau 9 tháng khai giảng.

Thời ấy, năm 1907, ông Quỳnh còn thiếu niên, ông Vĩnh đã 25 tuổi mà lảng vảng đến trường Đông Kinh Nghĩa Thục thì Tây cho ăn đòn ngay, ngoại trừ đến để làm gián điệp.

Ngày nay, những kẻ đề cao các ông Quỳnh, Vĩnh là người yêu nước, là chí sĩ mới sáng tạo ra chuyện hai ông “quen biết nhau từ trường Đông Kinh Nghĩa Thục”.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn khoa Sài Gòn trước năm 1975, viết về ông Nguyễn Văn Vĩnh (NXB Trí Đăng, Sài Gòn 1972) như sau:

“Nguyễn Văn Vĩnh có thể là một nhà báo giỏi nhưng lại rất vụng về chính trị. Ngôn ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh, không những không tranh thủ được ai, đặc biệt giới sĩ phu, mà còn gây thêm đố kị, hận thù; Vĩnh tuyên truyền đề cao thực dân Pháp một cách quá lộ liễu, “gia nô” và mạt sát nhà Nho, giới sĩ phu thậm tệ, đặc biệt những người làm cách mạng. Khi Đông Dương tạp chí vừa ra đời đã lớn tiếng chửi những chiến sĩ mưu sát, ném bom tại khách sạn Hà Nội giết hại mấy sĩ quan Pháp

(26-4-1913) là “lũ sài lang, đồ dối trá, đồ vô học, dùng chước ăn mày” và hăm dọa nếu bắt được thì bỏ dọ lăn sông.

… Trong bài xã thuyết “Gốc luận” (Đông Dương tạp chí, số 2, ngày 22-5-1913), Nguyễn Văn Vĩnh đã bộc lộ tất cả chân tướng của tầng lớp tân học, tay sai, đầy tớ được chủ chia cho ít quyền lợi lên mặt mạt sát những nhà Nho chỉ nghĩ đến chuyện làm loạn chống các quan bảo hộ… Vĩnh chĩa mũi dùi đả kích vào giới sĩ phu cách mạng mà Vĩnh gọi là bọn Ngụy Nho:

“Nay lại nói đến những bọn đã ra nước ngoài mà gây loạn mà nó tưởng cách khôi phục lại nước An Nam, thoát ra khỏi Lang Sa bảo hộ để tha hồ mà xâu xé với nhau. Thử xét xem trong bọn ấy, thực không có tay Tây học nào, không có đến một người gọi là biết tiếng Lang Sa.

Khởi thủy là bọn Phan Bội Châu là một bọn Ngụy Nho. Bọn ấy thấy nước Lang Sa sang đây, dụng nhân tài một cách mới đã là một sự thiệt hại cho họ, xưa nay chỉ biết lấy mấy chữ chi, hồ làm thang mây lên chốn cung đường. Chẳng được làm quan thì cũng nhờ cái lối cổ nước Nam chuộng Nho, mà hưởng các lợi quyền danh dự riêng trong đoàn thể. Ngày nay vì cách Nhà Nước kén chọn lấy thực tài mà thành ra đồ nghêu ngao vô dụng, chẳng ai mời rước như xưa, thì cũng là một điều hẳn rồi …”.

- Ông Sơn Tùng ghi lời kể của Đào Nhật Vinh: “Đầu tháng 7-1922, tôi không còn nhớ chính xác là ngày nào, tôi (cụ Vinh) trong hội chợ cùng với anh bạn đi ra phố thấy đằng phía trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng ông Phạm Quỳnh đang sóng bước. Chốc chốc ghé đầu vào nhau có lẽ đang nói thầm…”.

Lại thêm một chuyện bịa đặt. Vì trong 12 ngày đầu tháng 7-1922, ông Phạm Quỳnh không hề có lần nào gặp ông Nguyễn Ái Quốc. Ông Quỳnh ghi nhật ký như sau:

“Thứ bảy mồng 1 tháng 7: Hôm nay đi chơi Saint Cloud, cách Paris chừng 15 cây lô mét… Thứ ba mồng 4 tháng 7: Tối mai đây đã phải diễn thuyết ở Hội Đông Pháp Ái hữu. Mấy hôm nay nằm hầm ở nhà để soạn bài, không đi chơi đâu cả. Thứ tư, mồng 5 tháng 7, … 8 giờ diễn thuyết ở Kinh tế Cục cho các hội viên Hội Đông phương Ái hữu nghe…”. Từ ngày 6-7 cho đến ngày 11-7, ông Quỳnh đi thăm chơi nhiều nơi ở Paris, nói chuyện ở nơi này nơi nọ, gặp gỡ nhiều người bạn Pháp, không hề thấy ông ghi là có gặp và “sóng bước” với ông Nguyễn Ái Quốc!

Về cuộc gặp Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh… ở Paris, ông Phạm Quỳnh ghi: Thứ năm 13-7-1922. “Cụ V. hôm nay đưa đến chơi ông De Naléche, chủ nhà báo Journal des Débats ở đường Saint Germain…, không phải là “… Hơn 8 giờ sáng ông Quỳnh tới” nhà cụ Nghè Phan Văn Trường. Cũng không hề có chuyện “ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng” như ông Sơn Tùng ghi. Xin đọc tiếp nhật ký của ông Quỳnh:

“Chiều hôm nay (13-7) ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi, không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi; nhưng họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu nay không được ăn cơm ta ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ thỏa thích. Ăn no uống say, cười cười nói nói, không ngờ buồng bên cạnh có người đương hấp hối chết, đến lúc xuống thang mở cửa ra đi chơi mới thấy lão quản gia nói, các ông có ý trách sao lão không bảo trước để cho bọn mình khi ngồi bàn ăn biết mà tĩnh túc hơn một chút; lão giơ hai tay lên, tựa hồ như cho việc đó là không quan hệ gì. Trong một nơi đô hội ba bốn triệu con người này, một người chết đi có lẽ cũng không quan hệ gì thật…”.

Ngày 14-7, ông Quỳnh đi xem điểm binh ở trường đua ngựa… Ngày 15, đến thăm bác sĩ Lyon Caen là vĩnh viễn thư ký Hội Hàn lâm, Ban Chính trị Luân lý học…

Đến ngày chủ nhật, 16-7, ông ghi:

“Hôm nay không đi chơi đâu, ngồi hầm trong buồng, viết mấy cái thư về nhà.

Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đứng đâu ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng phải là sự phi phạm gì. Vả chính phủ Pháp vẫn có tiếng là khoan dung đại độ, xem như mấy ông ở đây bấy lâu vẫn được yên ổn ở dưới quyền bảo hộ của pháp luật, vẫn được tự do như người Pháp, thì đủ biết. Còn sự trinh sát là phận sự của các Chính phủ, dân nước nào cũng vậy, chẳng lấy gì làm lạ…” (Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, NXB Hội Nhà văn, 2004).

Cả hai lần gặp gỡ (chiều 13 và trưa 16-7), ông Phạm Quỳnh chỉ ghi gọn trong 30 dòng nhật ký. Ông cũng không nói rõ “mấy tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi” này là ai, không kể nội dung các cuộc gặp ấy là gì, chỉ nói qua là “ăn cơm ta, bàn chuyện ta thật là vui vẻ thỏa thích… gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai cũng thế …”.

Theo ông Sơn Tùng (ghi theo lời kể của cụ Đào Nhật Vinh) thì các chí sĩ ấy là cụ Nghè Phan Văn Trường, ông Nguyễn Ái Quốc. Còn cụ Phan Châu Trinh bị cảm mạo nên không về Paris được. Cũng không thấy nói có ông Nguyễn Văn Vĩnh.

Năm 1922, ông Quỳnh sang Pháp, như chính ông viết là “Tôi được quan Thống sứ Bắc kỳ cử sang Đại Pháp thay mặt cho Hội Khai trí Tiến Đức để dự cuộc đấu xảo Marseille, lại được quan Toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết tại mấy trường lớn ở Paris…”.

Đến lúc này, ông Quỳnh làm chủ bút báo Nam Phong do Pháp lập ra đã 5 năm. Bộ mặt phản động, làm tay sai cho Pháp đã phơi bày rất rõ. Cho nên ông được Thống sứ, Toàn quyền Pháp tin cậy giao trọng trách là vậy. Ông Quỳnh ca ngợi “Chính phủ Pháp vẫn có tiếng là khoan dung đại độ, xem như mấy ông (chí sĩ) ở Tây bấy lâu vẫn được yên ổn dưới quyền bảo hộ của pháp luật, vẫn được tự do như người Pháp thì đủ biết…”.

Chưa đầy một năm sau khi ông Quỳnh ghi nhật ký như trên thì ông Nguyễn Ái Quốc bị truy lùng phải lánh sang Nga.

Từ năm 1922 về sau, Nguyễn Ái Quốc chưa hề gặp lại Phạm Quỳnh và giữa hai người cũng không hề có bất cứ mối quan hệ thân thiện nào. Ông Phạm Quỳnh cứ dấn sâu vào con đường quỳ gối phục vụ bọn thực dân. Ông Trần Đình Nam – Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính phủ Trần Trọng Kim, người tiếp quản Bộ Lại của ông Phạm Quỳnh, sau khi đọc các tài liệu của bọn cầm quyền (Pháp) sai bảo Phạm Quỳnh mà Phạm Quỳnh ngoan ngoãn tuân thủ, nói: “đây là việc làm của một người phản quốc” (theo Nguyễn Văn Trung, Tủ sách Tìm về dân tộc – Nam Sơn, Sài Gòn, 1975).

Ngay từ năm 1926, khi giảng bài cho học viên Việt Nam ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã nói rằng tạp chí Nam Phong mà Phạm Quỳnh làm chủ bút là “cái loa để quảng cáo cho cái chiêu bài “văn minh khai hóa” của thực dân Pháp ở Đông Dương” (theo Nguyễn Văn Trung, sđd).

Làm gì có chuyện vào những ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói: “cụ Phạm không phải là người xấu”. Ông Sơn Tùng ghi là câu nói đó Cụ Hồ nói với ông Tôn Quang Phiệt vào đầu tháng 9-1945. Oái oăm thay, những ngày này, ông Phiệt đang ở Huế với bao nhiêu công việc quan trọng chất chồng, mãi đến sau ngày bầu cử Quốc hội 6-1-1946, ông mới ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới như trên kia chúng tôi đã viết.

Sau hai lần gặp nhau ngắn ngủi giữa những người “đồng bang” (cùng một nước) đang ở Pháp (năm 1922) trò chuyện với nhau, không rõ nội dung cụ thể. Lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc là nhà cách mạng chống thực dân Pháp, còn Phạm Quỳnh là người được Thống sứ Bắc kỳ, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương tin cậy, phái sang Pháp làm nhiệm vụ chúng giao.

Suốt 23 năm (1922-1945), hai người không hề có mối liên hệ nào. Một người thì bôn ba khắp thế giới, vào tù ra tội, vượt bao gian nguy, quyết chiến đấu đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập tự do cho dân tộc. Một người thì từ nhà báo trở thành quan đầu triều (như thủ tướng) làm mọi việc phản dân hại nước cực kỳ xấu xa do bọn cầm đầu xâm lược giao cho, bỗng nhiên ngay sau ngày Cách mạng thành công lại được tôn vinh có “một mối thân tình” với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh!

Báo Tinh Hoa Việt, khi đăng bài của ông Sơn Tùng đã đăng dòng chữ có ngoặc kép đặt trong khung tròn nổi bật dưới chân ảnh ông Phạm Quỳnh giữa trang:

“Tôi đã từng gặp, giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp… Đó không phải là người xấu” – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xin hỏi báo Tinh Hoa Việt, câu đó Chủ tịch Hồ Chí Minh nói lúc nào, ở đâu? Hay là trích nguyên câu bịa đặt của ông Sơn Tùng?

Bịa đặt ra lời Bác Hồ là có tội lớn, ngoài tội không trung thực khoa học còn là tội xuyên tạc lịch sử.

Đặng Minh Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 450

Ý Kiến bạn đọc