Truyện ngắn

Bài ca người phu thuyền

Jindongren Khởi Xướng “Chủ Nghĩa Nghệ Thuật Tối Thượng”. Bài Ca Người Phu Thuyền Miêu Tả Gia Đình Hai Anh Em Trai Ở Một Làng Chài Hoang Vu, Hẻo Lánh. Người Anh Nghi Ngờ Vợ Mình Dan Díu Với Người Em, Khiến Cho Người Vợ Quá Xấu Hổ, Bức Xúc Nhảy Xuống Biển Tự Vẫn. Người Em Bỏ Nhà Ra Đi. Người Anh Tỉnh Ngộ, Đi Tìm Em Khắp Nơi…

Là mùa xuân, mùa xuân đến rồi!

Làn gió nhẹ mềm xuyên qua những cánh rừng thông tối om, khi lướt qua những ngọn cỏ xanh non tơ vừa nhú, mặt đất liền tấu lên những khúc nhạc vui, đẹp đẽ, kỳ diệu, nơi khác không có được.

Ôi vẻ đẹp của mùa xuân tuyệt sắc khiến cho con tim ta say đắm!

Trong thành Bình Nhưỡng, khi đi qua những vùng đất ẩm ướt, những hàng cây con cành lá đâm chồi nảy lộc và bóng râm của những hàng dương liễu non tơ, ta hiểu rằng mùa xuân đã đến, có điều mùa xuân vẫn chưa hoàn toàn hiện diện. Nhưng trên đỉnh Mẫu Đơn và những cánh rừng bạt ngàn tựa một dòng sông xanh thì đã tràn đầy sắc xuân.

“Ánh nắng xuân đẹp vô cùng bay vút lên chín tầng mây
Ánh nắng xuân đẹp vô cùng bay vút lên chín tầng mây”

Tôi ngâm nga hai, ba lần câu hát rồi đốt điếu thuốc gắn lên môi, vừa hút vừa ngẩng mặt nhìn trời. Lúc này, từ miếu Ki Tử bên cạnh vọng đến những lời ca ai oán, bi thương vút lên chấn động cả không trung khiến tôi bất giác lắng tai nghe.

Đó là bài ca của những người chèo thuyền ở Lĩnh Nho. Người hát hát thật hay, diễn viên, nghệ sĩ cũng không theo kịp.

“Cầu xin các ngài, A di đà Phật
Hoàng thiên hậu thổ, nhật nguyệt tinh tú
Lão thiên Bồ tát, A di đà Phật
Sinh mạng của tôi tựa sợi tơ mành
Cứu khổ cứu nạn, A di đà Phật
Ôi trời ơi hỡi trời…!”

Hát tới đây, tiếng trống, tiếng hát của các nghệ sĩ đang đi thuyền trên sông nổi lên át tiếng hát của người chèo thuyền trên miếu Ki Tử.

Nguoi-cheo-thuyen---Tranh-cua-Hokusai
Người chèo thuyền – Tranh của Hokusai

Sau khi từ Lĩnh Nho trở về, ấn tượng về tiếng hát của người chèo thuyền in đậm trong tim tôi, muốn quên cũng không sao quên được! Tôi cứ nghĩ, không biết đến bao giờ mới được nghe lại lời ca đó từ những người chèo thuyền Lĩnh Nho, bao giờ mới được thấy lại những cảnh sắc hoang sơ nơi ấy?

Tiếng trống và tiếng hát của các nghệ sĩ lặng dần chỉ còn lại giai điệu thê lương của tiếng hát người phu thuyền bồng bềnh trên sóng. Gió nổi lên, tiếng hát lúc nghe lúc không. Tôi nghe được những câu đại loại thế này:

“Đi đến bên sông trông thấy tôi
Giật mình thảng thốt
Đang mơ hay là tỉnh đây?
Vội vàng nhào tới
Mười ngón tay thon dài nắm chặt
Giẫm đất kêu trời, nói:
Anh từ trên trời rơi xuống?
Hay từ dưới đất chui lên?
Anh được gió đưa tới?
Anh đằng vân giá vũ đến đây?
Giằng co gào khóc
Hàng xóm lân bang ngẩn cả người…”

Nghe tới đây tôi không sao chịu nổi, đứng vụt dậy gạt cành cây trên đầu, bò lên đỉnh Mẫu Đơn tìm xem tiếng hát phát ra từ đâu. Trên đỉnh Mẫu Đơn tiếng hát nghe càng rõ. Đoạn cuối cùng tôi nghe được thế này:

“Hành khất xin cơm canh cháo loãng
Ngàn đời ngàn đời đừng làm phu thuyền
Ôi trời ơi, hỡi trời…”

Tôi muốn nhận rõ phương hướng của tiếng hát liền đứng lên. “Ở miếu Ki Tử hoặc Ất Mật Đài?”. Nhưng tôi không thể dừng lâu nên đến cửa Huyền Vũ rồi đi thẳng ra ngoài thành.

Lúc ấy người phu thuyền lại hát lại từ đầu, tiếng hát từ phía bên trái đưa lại. Phía bên trái. Tôi vừa nghĩ vừa đi tìm, khó khăn lắm mới len qua được khu rừng thông và thấy người hát đó. Anh ta nằm trước miếu Ki Tử nhìn lên bầu trời bao la, tướng mạo giống tôi. Mặt mũi mắt mồm, đôi lông mày rậm và cả thân người đều rất đàng hoàng, chính trực… Những nếp nhăn trên trán hằn sâu chứng tỏ anh ta đã từng chịu nhiều gian khổ, nhưng tính cách lại trong sáng, thuần phác.

Phát hiện có người nhìn mình, anh ta bò dậy và im bặt.

- Sao không hát nữa? Cứ hát đi! – Vừa nói tôi vừa ngồi xuống cạnh anh ta.

- Cái gì? – Anh ta chỉ hỏi thế, đoạn ngước mắt nhìn trời.

Đó là một đôi mắt đẹp, cái rộng lớn bao la của biển cả cũng không bì kịp ánh nhìn của anh ta. Tôi đoán anh ta là một phu thuyền.

- Quê ở Lĩnh Nho à? – Tôi hỏi.

- Tôi sinh ra ở Lĩnh Nho, nhưng đã 20 năm nay tôi chưa về Lĩnh Nho.

- Vì sao 20 năm nay không về quê?

- Sự đời mà! Làm sao có thể theo ý mình hoàn toàn được? Cũng chẳng biết vì sao? – Anh ta thở dài – Nhưng số mệnh mới là điều có sức mạnh lớn nhất.

“Số mệnh có sức mạnh lớn nhất”, câu nói này của anh ta bao hàm cả sự oán trách và hối hận.

- Vậy sao? – Tôi nhìn anh ta một hồi lâu rồi nói tiếp – Anh à, tôi muốn nghe anh nói về cách xử thế của anh, nếu không có gì bí mật, hãy kể cho tôi nghe về cuộc sống của anh, được không?

- Có gì là bí mật với không bí mật chứ?

- Vậy anh kể đi.

Anh ta ngẩng mặt nhìn trời, dừng một lát rồi nói: “Được. Tôi kể”. Thấy tôi đốt thuốc, anh ta cũng đốt cho mình một điếu. Rít một hơi thuốc thật sâu, nhả khói, anh ta bắt đầu kể: “Đó là câu chuyện xảy ra 19 năm về trước, đúng vào ngày 11 tháng 8 âm lịch”.

Nơi anh ta sống là một ngôi làng nhỏ ven biển cách thành Lĩnh Nho khoảng 20 dặm. Trong ngôi làng nhỏ ấy, có khoảng 30 hộ dân, toàn là những người nổi tiếng. Cha mẹ qua đời năm anh 15 tuổi, người thân chẳng còn ai ngoài một người em trai. Anh em họ là những người giàu có nhất làng. Họ thạo nghề đánh bắt cá lại có học, biết lễ nghĩa… đặc biệt là biết hát những bài ca truyền thống của dân vạn chài. Nói cách khác, anh em họ là những nhân vật tiêu biểu của làng.

Rằm tháng 8 âm lịch là Tết Trung thu. Ngày 11-8, anh ta đi chợ mua tương về ăn Tết và một tấm gương soi mà vợ anh ta ao ước từ lâu.

Anh ta ngẩng nhìn mặt trời vừa nhô lên đỏ rực, đi ra khỏi làng, trong lòng cảm thấy rất vui. Vợ anh rất đẹp, lại khéo tay, trong làng ít ai sánh bằng. Anh ta nói với tôi: “Tìm khắp thành phố này cũng khó có người được như cô ấy!”.

Vì vậy, quan hệ vợ chồng của họ rất nồng ấm, đẹp đẽ đến mức có người cảm thấy không bình thường. Những người lớn tuổi thường răn đe anh ta rằng, chớ có để cho vợ dắt mũi đấy!

Tuy yêu thương mặn nồng như vậy nhưng anh ta lại hay ghen và luôn nghi ngờ vợ. Không nghĩ là phẩm hạnh của vợ không tốt mà là cảm thấy tính cách vợ mình quá hoạt bát, gặp ai cũng hăm hở vồ vập, có khi còn cười nói lả lơi.

Tết Trung thu đã đến, mấy chàng trai trẻ trong làng nói, nhà anh ta giàu có, rộng rãi nên kéo nhau đến chơi. Họ gọi vợ anh ta là “chị dâu”, vợ anh ta gọi họ là “các chú”, mặt mày hớn hở, cười nói rôm rả với họ. Mỗi lần như vậy anh ta thường trốn vào một góc khuất liếc mắt nhìn vợ, chờ tới lúc mấy chàng trai trẻ về hết liền xông vào đấm đá vợ túi bụi, lấy lại tất cả những thứ đã mua tặng vợ trước đó. Mỗi lần anh ta đánh vợ, vợ chồng người em trai ở cạnh nhà đều chạy qua can ngăn khuyên giải, anh ta đánh luôn hai người họ.

Anh ta cư xử với người em trai như vậy là có lý do của nó. Ở làng này, em trai anh ta là người có uy tín rất cao không ai sánh kịp, chính điều này khiến anh ta ghen ghét, nhất là khi vợ anh ta lại rất thân thiết đối với người em chồng, càng làm cho anh ta không sao chịu nổi.

Nửa năm trước khi anh ta rời khỏi Lĩnh Nho, cũng có nghĩa là tính từ hôm đi chợ đến nay đã được nửa năm, đúng vào hôm sinh nhật anh ta, nhà nấu một bữa ngon, ăn uống vui vẻ. Anh ta có thói quen dành lại một ít thức ăn để lần sau ăn tiếp. Đó là chuyện thường. Vợ anh ta cũng biết rõ thói quen của chồng. Hôm đó mãi đến trưa người em trai mới tới, vợ anh ta lấy vài món chồng để dành đem cho em chồng ăn. Anh ta trừng mắt nhìn vợ, ngầm bảo đừng làm thế nhưng chị vợ không hiểu ý, trong lòng anh ta rất bực bội, nghĩ cách gây sự… Sau khi vợ mang thức ăn cho người em quay lại, sơ ý giẫm vào chân anh ta.

- Đồ mất dạy! – Anh ta trợn mắt, đạp vợ một cái. Người vợ ngã xuống đất.

- Đồ mất dạy! Có vợ nào lại dám giẫm vào chân chồng không hả?

- Nhỡ đụng một chút, chân đã gãy chắc? – Người vợ đỏ mặt, nói như mếu.

- Mày dám cãi hả? – Anh ta lao tới túm tóc vợ.

- Anh, anh làm gì thế? – Người em đứng dậy kéo anh ta ra.

- Tránh ra! – Anh ta đẩy người em ra, tiếp tục đạp vào vợ, quát: Đồ chết giẫm, mày cút đi cho tao!

- Ông giết tôi đi, giết tôi đi! Có chết tôi cũng không đi đâu hết!

- Mày không đi hả?

- Không đi. Đây là nhà của tôi!

Câu nói “Đây là nhà của tôi!” gây nên một ấn tượng mạnh trong lòng anh ta. Anh ta ngơ ngác, trừng mắt giận dữ.

- Đồ chết giẫm! Vậy mày bảo tao phải đi hả? – Nói xong anh ta bước ra khỏi cửa.

- Anh! Anh đi đâu đấy?

Anh ta không trả lời em trai, cũng không thèm quay đầu lại, đi thẳng tới quán rượu, uống đến say mèm. Mãi đến khuya mới mua một chiếc bánh ga-tô đem về nhà.

Trạng thái hòa bình này duy trì độ ba, bốn tháng. Tuy nhiên, nó đã không thể tiếp tục được. Không lâu sau, vì người em, hòa bình bị phá vỡ.

Chuyện là, từ đầu tháng 5 người em vào thành Lĩnh Nho ở lại mấy ngày. Có người đồn rằng, em trai anh ta có vợ bé trong thành. Từ lúc có tin đồn đó, mỗi khi thấy em chồng vào thành vợ anh ta lại bồn chồn, cáu gắt, bực bội không vui. Em chồng chậm về vài ngày là thế nào vợ anh ta cũng đi tìm. Thậm chí chị ta còn cãi nhau với em dâu, càm ràm trách cứ, sao không ngăn chồng vào thành? Đến tháng 7, người em trai vào thành ở hẳn 10 ngày, chị ta lại cãi nhau nảy lửa với chồng và em dâu, hạch sách hai người sao không giữ người em chồng ở nhà? Anh chồng tức quá, quát:

- Đồ đáng ghét! Chuyện đó có quan hệ gì tới cô chứ?

- Đồ vô dụng! Em trai đi vào con đường xấu xa đồi bại, anh sao lại làm ngơ như vậy?

- Đồ đàn bà mất nết! Mày muốn gì hả?

- Đồ vô dụng! – Nói chưa dứt lời vợ anh ta bỗng “á” lên một tiếng và nằm lăn ra đất.

- À, mày ăn vạ đấy hả? Liệu hồn đấy!

- Ông dám đánh tôi hả? Đồ vô dụng – Người vợ giận dữ, gào lên.

- Đồ mất nết! Mày cút ngay đi! Cút khỏi nhà tao ngay! – Gã vừa đấm đá vừa gào thét, đẩy vợ ra cửa.

- Tôi không đi đâu hết! – Người vợ vừa nói vừa bước ra ngoài…

Mặt trời xuống núi, người vợ không về nhà. Dù đuổi vợ đi nhưng gã vẫn chờ cô ta về. Trời tối hẳn, gã không buồn thắp đèn, giận phát run lên và chờ đợi. Vậy mà tiếng cười của vợ gã lại vang lên trong đêm ngay bên nhà người em trai sát vách. Gã ngồi im không hề động tĩnh. Khi phương đông ửng hồng, gã vào bếp lấy con dao thái rau, kéo cửa đánh “soạt” một tiếng, đi tìm vợ và em trai. Nếu không phải là vợ gã, mặt mày ủ dột đang đứng ngẩn người trước cửa nhà mình thì gã đã có thể giết chết cả hai rồi. Gã đột nhiên cảm thấy mình vẫn rất yêu vợ. Gã ném con dao xuống đất, lao tới bên vợ…

Những chuyện thế này nói mãi cũng không nói hết được. Đại khái mối quan hệ giữa hai gia đình họ là như vậy.

Lại nói, ở chợ rất may là có chiếc gương soi mà họ thích. Chiếc gương đó mặc dù so với hiện tại chẳng đáng gì, soi vào có lúc thấy mũi to ra, có lúc thấy mồm nhỏ lại, nhưng hồi đó, nhất là ở nông thôn, chiếc gương ấy là một báu vật khó tìm. Anh chàng mua gương xong ra về, trên đường vừa đi vừa nghĩ tới nét mặt vui tươi phấn khởi của vợ khi thấy chiếc gương mới.

Tuy nhiên, anh ta vừa bước vào cửa, trước mắt xuất hiện một cảnh tượng không thể ngờ tới. Trên chiếc bàn giữa phòng đặt chiếc bánh ga-tô, em trai anh ta đứng trong góc, khăn chít đầu tụt xuống sau gáy, đai áo khoác bung ra. Vợ anh ta tóc tai bù xù, dây lưng quần tụt xuống quá bụng. Hai người thấy anh ta thì rất lúng túng, cả ba đứng ngây ra, kinh ngạc. Mãi sau người em mới miễn cưỡng lên tiếng:

- Con chuột chạy đi đâu mất rồi?

- Hừ! Chuột à? Các người bắt chuột à? – Nói chưa hết câu, anh ta bỏ các thứ hàng vác trên vai xuống, sấn tới túm lấy đai áo người em.

- Anh ơi, có con chuột thật mà!

- Chuột hả? Đồ mất dạy! Sao lại dám cùng chị dâu bắt chuột kiểu này hả? Anh ta tát cậu em mấy bạt tai rồi tống cậu ra ngoài, đoạn quay lại phía vợ đang run bần bật:

- Con đàn bà mất nết! Sao có thể cùng em chồng bắt chuột kiểu đó chứ? – Anh ta quật vợ ngã xuống đất, đạp thí xác lên người chị ta.

- Chuột thật mà! Ối… tôi chết mất!

- Chuột này! Chuột này! – Vừa quát tháo anh ta vừa đấm đá vợ túi bụi.

- Ối trời ơi, tôi chết mất thôi!… Có con chuột thật mà… Lúc chú ấy tới tôi mời chú ấy ăn bánh…

- Nói láo! Mày câu kết với nó làm bậy, còn cãi hả?

- Vừa rồi chúng tôi đuổi bắt chuột thật mà… Sao ông hồ đồ thế?

- Câm ngay! Đồ mất nết! Mày chết đi cho khuất mắt tao. Nhảy xuống biển mà chết đi! – Nói xong anh ta tống chị vợ ra ngoài như đã làm với người em trai.

Dù hung hăng, giận dữ đánh vợ nhưng trong lòng anh ta chẳng thấy dễ chịu chút nào. Anh ta tựa người vào tường, đứng im như người mất hồn, nhìn trân trân chiếc bánh ga-tô trên bàn.

Ở đây mặt trời xuống chậm. Khi trời tối hẳn, anh ta rời khỏi bức tường đi tìm diêm đốt đèn. Diêm không có ở chỗ cũ. Tìm một hồi, lật một tấm áo cũ chợt nghe tiếng chuột kêu, một con vật gì đó chạy vụt qua trước mặt anh ta. “Đúng là chuột thật!” – Anh ta kêu lên khe khẽ và ngồi bệt xuống đất.

Cảnh vợ và em trai đuổi bắt chuột dần dần hiện ra trước mắt anh ta như một cảnh phim quay chậm. Giữa lúc đó anh ta bước vào…

“Đồ thối tha, để xem lúc nào mày mới về cho biết” – Anh ta cố nén sốt ruột, nằm xuống ngủ.

Đêm trôi qua, mãi tới trưa hôm sau vợ anh ta vẫn không về. Anh ta bắt đầu lo lắng và cất công đi tìm. Nhà em trai không có, tìm khắp lượt mấy nhà trong làng cũng không thấy.

Tìm mãi tới trưa mới thấy vợ anh ta bên bờ biển, cách nhà độ ba, bốn dặm. Éo le thay, đó không phải là người vợ giận dỗi bỏ nhà đi hôm trước. Chị ta đã chết, thân xác bị sóng biển va đập trở nên nhợt nhạt… Cái miệng hay nói cười vui vẻ bây giờ toàn bọt trắng. Anh ta hoảng hốt cõng vợ về nhà, quấy quả chôn cất. Người em trai đứng cạnh thất thần, ngơ ngác như muốn hỏi “Chuyện này là sao hở anh?”.

Cùng anh chôn cất chị dâu xong, hai hôm sau, người em biến mất khỏi cái làng nhỏ bé của họ. Một ngày, 2 ngày, 5 ngày, 6 ngày trôi qua, người em vẫn không về. Có người nói, 6 hôm trước có một người giống em trai anh ta, mang một chiếc bao to đi về hướng đông trong buổi hoàng hôn đỏ sẫm. Mười, 20 ngày trôi qua, người em vẫn bặt vô âm tín, để lại người vợ trẻ cô đơn đau khổ lúc nào cũng thở dài sườn sượt.

Anh ta không thể thờ ơ bởi mọi chuyện bất hạnh xảy ra đều do lỗi của anh ta. Cuối cùng anh ta quyết định làm một phu thuyền để có cơ hội tiếp cận với biển cả đã vô tình nuốt chửng vợ mình. Anh ta sắm một chiếc thuyền theo đường thủy đi khắp nơi thăm dò tin tức em trai. Mỗi khi đến một nơi nào đó, anh ta đều nói tên tuổi và hình dáng em mình với mọi người, hỏi họ có thấy người như thế không, nhưng chẳng ai thấy cả.

Mười năm trôi đi như một giấc mơ. Một ngày mùa thu 9 năm trước, thuyền anh ta đi qua một vùng biển đầy sương mù và sóng to gió lớn. Con thuyền gặp nạn bị sóng đánh vỡ tan. Mấy người bạn anh mất mạng, anh ta ngất xỉu, lênh đênh trên sóng nước.

Khó khăn lắm anh ta mới tỉnh lại, lúc ấy đã là đêm, anh nhận ra mình trôi dạt vào đất liền không biết tự lúc nào. Qua ánh lửa bập bùng anh ta thấy chính em trai mình đang chăm sóc anh ta, hơ áo cho anh ta. Anh ta chẳng có chút gì ngạc nhiên, bình thản hỏi: “Em, sao em lại ở đây?”. Người em im lặng một lát, nói: “Anh à, chuyện này là do số mệnh quyết định mà!”. Ngọn lửa ấm áp khiến cho người anh buồn ngủ, song thần trí anh ta chợt bừng tỉnh, nói: “Mười năm rồi, em gầy đi nhiều”. “Anh ơi, em thay đổi, anh cũng thay đổi vậy thôi”. Anh ta nghe câu đó dường như là trong mơ và thiu thiu ngủ. Anh ta ngủ rất ngon lành khoảng vài ba tiếng đồng hồ, tỉnh dậy, dường như vẫn đang bập bùng đống lửa hồng bên cạnh nhưng người em trai thì không biết đã đi đâu. Hỏi thăm, nghe nói người em đã nhìn anh thật lâu, sau đó vác các thứ lên vai, dập tắt đống lửa rồi biến đi trong đêm tối. Sau đó anh ta hỏi dò mãi cũng chẳng biết tung tích của người em trai đâu cả. Chẳng còn cách nào khác, anh ta liền sắm một chiếc thuyền mới, phiêu bạt khắp nơi. Thuyền anh ta đến Hải Châu, anh ta đi chợ mua hàng. Trong ngôi miếu đối diện có một người rất giống em trai, anh ta vội chạy tới thì không thấy người đó nữa. Thuyền rời bến, anh ta tiếp tục lên đường.

Anh ta lênh đênh khắp nơi suốt 3 năm liền vẫn không gặp được em trai.

Ba năm tiếp theo thuyền anh ta tới đảo Giang Hoa. Một hôm anh ta chợt nghe tiếng hát của người phu thuyền, lời ca có cải biên đôi chút nhưng rất giống nét đặc biệt trong giọng hát của người em trai. Không phải là em trai anh ta, thì không ai có thể hát được như thế!

Thuyền không lưu lại đảo Giang Hoa mà tiếp tục đi Nhân Châu, dừng lại 10 ngày. Nhân dịp này anh ta liền quay lại Giang Hoa, tìm đến một ngôi quán nhỏ dò hỏi tin tức. Vẫn không có tin tức gì về người em. Gió sương mưa tuyết mới đấy đã 6 năm tròn, cuối cùng anh ta vẫn không tìm được em và cũng chẳng biết người em còn sống hay đã chết.

Anh ta kết thúc câu chuyện, đôi mắt phản xạ ánh nắng chiều đỏ ối, vài giọt nước mắt long lanh, long lanh.

Tôi lặng thinh hồi lâu rồi hỏi:

- Thế còn cô em dâu của anh thì sao?

- Tôi không biết. Đã 20 năm nay tôi không về Lĩnh Nho.

- Sau này anh định đi đâu?

- Chuyện này tôi cũng không biết, chẳng có nơi nào cố định tôi cứ lang thang vậy thôi…

Và rồi anh ta lại hát cho tôi nghe bài ca người chèo thuyền. Lời ca hàm chứa bao nhiêu là hối hận, bao nhiêu là hoài niệm thê thiết về thân phận con người!

Hát xong anh ta đứng dậy, nheo mắt nhìn những tia nắng cuối ngày, chầm chậm đi về Ất Mật Đài. Tôi không đủ can đảm ngăn anh ta lại đành ngồi đó ngơ ngác nhìn sau lưng anh ta.

Trời tối dần, về đến nhà, bài ca người chèo thuyền và những lời lẽ về số phận con người của anh ta vẫn văng vẳng bên tai tôi. Sáng hôm sau thức dậy, không kịp ăn sáng, tôi vội đến miếu Ki Tử tìm anh ta, nhưng không thấy.

Vậy mà… vậy mà, tiếng hát người chèo thuyền không biết từ đâu lại vang lên nhẹ nhàng bay bổng, khiến cho những cánh rừng tùng cũng yên lặng lắng nghe!

“Là trên đỉnh Mẫu Đơn. Anh ta ở đấy thôi” – Tôi chạy một mạch lên đó, vẫn chẳng thấy ai cả, ngay ở Phù Bích lâu cũng không có.

“Chắc là ở Ất Mật đài chứ gì” – Tôi lại chạy tới đó. Băng qua rừng thông bạt ngàn, những hàng thông chen nhau dày kín đến một giọt nước mưa cũng khó lọt qua. Dù cho tất cả những ngọn thông xanh ngắt kia đã rung lên trong tiếng hát của người chèo thuyền nhưng anh ta vẫn không có ở đó.

Tôi đến bên bờ sông để nghe ngóng tình hình, nghe nói thuyền của anh ta đã khởi hành từ sáng sớm hôm nay.

Mùa xuân qua đi. Mùa thu cũng qua đi. Một năm nữa qua đi, mùa xuân lại đến. Cho tới bây giờ mảnh đất này chỉ còn lưu lại những suy nghĩ về số phận con người và những lời ca não nề, ai oán của người chèo thuyền, ngoài ra không lần nào anh ta xuất hiện ở Mẫu Đơn nữa! Những vạt cỏ bị anh ta giẫm nát hồi năm ngoái trên đỉnh Mẫu Đơn và miếu Ki Tử giờ đã lại đâm chồi nảy lộc, nhu nhú những bông hoa màu tím, nhưng lời ca thổ lộ nỗi đau thương ai oán tột cùng của anh ta thì không còn nghe thấy nữa. Duy có những vạt cỏ xanh kia thì dường như vẫn còn giữ mãi bài ca ấy, giữ mãi một kỷ niệm về những lời hát bi thương ai oán cho số phận của anh ta!

(Từ bản Hoa văn của Vệ Vi trong “Truyện ngắn hay nhất” Đại toàn tập, Bách hoa châu văn nghệ xuất bản xã, 1-2011)

Jindongren (Hàn Quốc)
Trà Ly (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 415

Ý Kiến bạn đọc