Ngoài nước

Bắc Triều Tiên – Những điều dối trá lớn

(Báo cáo của Hội Luật gia Hoa Kỳ tháng 10/2003. Nguồn: https://christopher-black.com/north-korea-the-grand-decept…)

Kỳ I

LTS. Những Ngày Qua, Tình Hình Bán Đảo Triều Tiên Không Những Không Giảm Bớt Căng Thẳng Mà Tiếp Tục Nóng Lên, Với Sự Tăng Cường Các Hành Động Bao Vây Trừng Phạt Của Mỹ Nhằm Vào Nước Này, Thậm Chí Tổng Thống Mỹ Donald Trump Còn Đưa Ra Tuyên Bố “Nếu Trừng Phạt Không Mang Lại Kết Quả, Hoa Kỳ Sẽ Tiến Hành Giai Đoạn Hai Với Những Hành Động Dữ Dội Hơn Nữa, Có Thể Là Rất Đáng Tiếc Với Quốc Tế”. Vấn Đề Triều Tiên Đã Có Một Lịch Sử Rất Dài, Để Có Thể Rõ Hơn Về Điều Này Xin Giới Thiệu Với Bạn Đọc Bản Báo Cáo Của Phái Đoàn Dự Án Vì Hòa Bình Của Hiệp Hội Luật Sư Dân Chủ Quốc Tế Thực Hiện Từ Năm 2003.

Phái đoàn và mục đích của nó

Vào ngày 29/9/2003, 4 luật sư của Hội Luật sư Quốc gia Hoa Kỳ chúng tôi gồm: Peter Erlinder, Giáo sư Luật tại Trường Luật William Mitchell ở St. Paul, Minnesota; Neil Berman, Luật sư ở Boston, Massachusetts; Eric Sirotkin và Jennie Lusk, hai luật sư ở Albuquerque, New Mexico – chúng tôi cùng là thành viên của Hiệp hội các nhà tư pháp Hoa Kỳ; cùng với Christopher Black, luật sư ở Toronto, Canada, đã đến Bắc Triều Tiên, với tên gọi chính thức là nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (DPRK) theo lời mời của Hội Luật sư Dân chủ Triều Tiên (KDLA).

Chúng tôi đến Bắc Triều Tiên là nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các luật sư ở Bắc Triều Tiên với giới luật gia phương Tây, cũng như tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc vùng Bắc Mỹ với Bắc Triều Tiên để có thể góp phần làm giảm nguy cơ chiến tranh giữa Triều Tiên và Hoa Kỳ.

Cuộc thăm viếng này có nhiều mục đích cụ thể: (1) phát triển quan hệ cá nhân và nghề nghiệp với các luật sư ở Bắc Triều Tiên nhằm mục đích tìm hiểu hệ thống pháp luật và vai trò của họ trong xã hội, (2) xác định và hiểu quan điểm của người dân Triều Tiên đối với chiến tranh và hòa bình cùng mối liên hệ của nó với vấn đề thống nhất hai miền đất nước Triều Tiên và (3) phản ánh trung thực nhất về tình hình thực tế của người dân DPRK trong bối cảnh thông tin tuyên truyền trên báo chí phương Tây về một xã hội độc tài toàn trị, nghèo đói và lạc hậu – những cáo buộc đã được Hoa Kỳ sử dụng để biện minh cho tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược gần đây. Chúng tôi cảm thấy cần thiết cho nhân dân Bắc Triều Tiên biết rằng nhiều người Mỹ và người Canada cùng có một mong muốn sâu sắc về hòa bình, cùng phản đối lập trường hùng biện về “trục ma quỷ” do chính quyền Hoa Kỳ hiện nay công bố.

Hầu hết phái đoàn chúng tôi gặp nhau ở Bắc Kinh thông qua kết nối trên mạng xã hội như những người lạ mặt ảo, nhưng chúng tôi đã trở nên thân thiết ngay sau đó như những người bạn, nhờ những kinh nghiệm của bản thân. Chúng tôi đến với nhau từ các nguồn gốc khác nhau, các lĩnh vực khác nhau của luật pháp và đại diện cho những quan điểm chính trị và triết học khác nhau, nhưng chúng tôi có một điểm chung quan trọng: sự sợ hãi thực sự về một cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và CHDCND Triều Tiên cùng một mong muốn sâu sắc được biết về sự thật. Tất cả mọi người đều cảm thấy bị lầm lẫn trong những năm qua bởi tuyên truyền của chính phủ Hoa Kỳ thông qua thông tin sai lệch của họ để minh chứng cho các cuộc chiến tranh chống lại Nam Tư, Afghanistan và Iraq. Chúng tôi không còn có thể chấp nhận những cáo buộc vô căn cứ về “các hành vi vi phạm nhân quyền trầm trọng”, nhu cầu về một “cuộc chiến chống khủng bố”, chiến tranh để ngăn chặn “vũ khí hủy diệt hàng loạt” hoặc nhu cầu chiến đấu để bảo vệ và mở rộng lối sống phương Tây của chúng ta. Là công dân thế giới, chúng tôi cảm thấy bắt buộc phải cung cấp sự thật và thực hiện các bước đi để xây dựng, chứ không phải để hủy diệt các mối quan hệ, ngay cả với những người mà chúng ta có thể không đồng ý về quan điểm.

So-490--Bac-Trieu-Tien---nhung-dieu-doi-tra-lon---Anh-3
Luật sư Eric Sirotkin với Thiếu tá Kim Myong Hwan ở DMZ.

Phái đoàn đã gặp các thành viên KDLA, các quan chức chính phủ và quân đội, thảo luận về các hệ thống tư pháp của các quốc gia, bàn bạc về chiến lược để xây dựng các cầu nối hòa bình giữa CHDCND Triều Tiên với Hoa Kỳ. Chúng tôi đã đi thăm Bình Nhưỡng, du hành hàng trăm cây số về vùng nông thôn, thăm khu vực phi quân sự (DMZ) ở phía Bắc tại khu vực chung Panmunjom, phỏng vấn các lính Mỹ và các chuyên gia tư vấn kinh doanh trên toàn thế giới hiện đang làm việc tại Bắc Triều Tiên.

Những ấn tượng đầu tiên

Vào ngày 29/9, chúng tôi đến Đại sứ quán của CHDCND Triều Tiên ở Bắc Kinh để xin thị thực. Đó cũng là lúc chúng tôi bắt đầu được mở mắt. Cùng chờ đợi thị thực là một người Ireland trẻ tuổi muốn đi du lịch Triều Tiên và một đại diện vùng Saskatchewan của Canada cung cấp viện trợ cho nông dân Triều Tiên (lúc này viện trợ của Canada đã được phối hợp tổ chức 4 đợt). Trước khi đến Bắc Triều Tiên, chúng tôi đã nhận ra rằng, nhiều quốc gia châu Âu và trên khắp hành tinh có quan hệ ngoại giao chính thức với CHDCND Triều Tiên, nhưng chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng cho nhiều cuộc tiếp xúc quốc tế mà chúng tôi sẽ được thực hiện cho tuần sau đó.

Vào ngày 30/9, chúng tôi đến sân bay quốc tế ở Bắc Kinh để lên máy bay của hãng Air Koryo tới Bình Nhưỡng, thủ đô của Triều Tiên. Ngay tại sân bay Bắc Kinh, ấn tượng về một đất nước Triều Tiên bị cô lập đã thực sự bị lung lay. Chúng tôi gặp lại vị đại diện Canada, cùng một chuyên gia Thụy Điển, người sẽ giúp nông dân Triều Tiên học cách chăn nuôi với bò, hai nhà ngoại giao Conggo, các nhà báo người Anh, một người Nga trong đoàn trao đổi nghệ thuật, một giáo viên từ Liverpool, cùng nhiều người khác với những ngôn ngữ khác nhau, đến từ nhiều quốc gia khác nhau.

Tại sân bay Bình Nhưỡng, chúng tôi chờ đợi một thời gian trong khi túi xách được soi chiếu x-rayed để nhập cảnh. Một thành viên trong đoàn cho biết nỗi lo lắng ban đầu của cô ấy đã tan biến khi cô thấy các nhân viên an ninh tươi cười đùa giỡn với nhau. Đây rõ ràng không phải là một cảnh tượng căng thẳng và đáng sợ, mà thực sự ở đây chúng tôi cảm thấy thoải mái hơn hầu hết các sân bay của Mỹ.

Chúng tôi gặp ông Jo Chol Ryong và ông Bang Gum Chan thuộc Hiệp hội Luật sư Dân chủ Triều Tiên, lên một chiếc xe buýt nhỏ đến một nhà khách lớn ngay bên ngoài thành phố. Hôm đó bầu trời mang màu xám với nhiều sương mù nhưng chúng tôi đã cố gắng để quan sát mọi thứ. Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi về thành phố Bình Nhưỡng là nó có diện tích khá lớn, với hơn 2 triệu người, trồng rất nhiều cây xanh, khá hiện đại và khá đẹp, đặc biệt ở những khu vực gần sông Taedong. Bình Nhưỡng có nhiều xe hơi hơn là chúng tôi đã được nghe kể, nhưng đường phố rất yên tĩnh với nhiều người đi bộ và đi xe đạp. Mọi người tham gia các hoạt động hoặc về nhà sau một ngày làm việc, cũng như ở hầu hết các quốc gia vào thời điểm đó.

Ấn tượng ban đầu của một số người trong đoàn là cảm thấy như có điều gì căng thẳng trong không khí, như thể đất nước đã trong chiến tranh một thời gian dài. Chúng tôi đã nhận thấy nhiều ánh mắt nhìn mình chăm chú nhưng nhanh chóng trở nên thân thiện bởi nụ cười và sự tò mò. Một số đại biểu cảm thấy căng thẳng và hơi mất phương hướng, nhưng điều này chính là sự thể hiện cuộc đụng độ ban đầu giữa nỗi sợ hãi của chúng tôi với mối quan tâm của người dân nơi đây, cộng với thực tế khắc nghiệt của nơi chúng tôi đến. Trong chuyến du lịch xuyên quốc gia và thăm các thành phố trong vài ngày sau đó, với nhiều trao đổi nhân bản, điều này sẽ tiêu tan.

Trong suốt những ngày sau đó, chúng tôi đã bị chuyển hướng cuốn theo sự tự hào của người dân Bắc Triều Tiên, với quyết tâm vượt qua những trở ngại, bao gồm cả ngoại giao và kinh tế của Hoa Kỳ, và thấu hiểu tinh thần của họ về sự sẵn sàng hiến thân vĩnh viễn cho chiến tranh bằng kinh nghiệm của họ trong nhiều thế kỷ bị xâm lược và chiếm đóng. Để hiểu về con người Triều Tiên, cần phải chú ý tới khía cạnh này.

Một số tòa nhà đi qua đã tạo ấn tượng đặc biệt cho chúng tôi về kích thước và phong cách của chúng. Nhưng chúng tôi cũng nhận thấy ngay sự thiếu vắng hoàn toàn của bất kỳ tòa nhà kiểu cũ nào. Không có kiến trúc nào trong thành phố này có lịch sử lớn hơn 50 năm, mà phần lớn là mới hơn rất nhiều. Máy bay Hoa Kỳ đã đánh bom toàn bộ các thành phố nhiều lần trong Chiến tranh Triều Tiên, hủy diệt hầu như mọi thứ trong đó. Thực tế, các báo cáo của Hoa Kỳ đã trích dẫn lời một vị tướng đã ra lệnh dừng lại việc ném bom Bình Nhưỡng vì ở đó “không còn có thứ gì khác ngoài cái tên”. Một phái đoàn phụ nữ quốc tế năm 1951 đã báo cáo việc các máy bay Mỹ ném bom bắn giết rất nhiều thường dân chạy trốn về vùng nông thôn Bắc Triều Tiên.

Phái đoàn chúng tôi đặt câu hỏi tại sao việc ném bom thảm khốc những khu đô thị dân sự lại hiếm khi bị truy tố như một tội ác chiến tranh? Rõ ràng trong những bức ảnh chúng ta đã thấy, việc san phẳng toàn bộ các thành phố với các mục tiêu dân sự là những hành động tàn bạo tương đương với các vụ đánh bom London, Coventry, Rotterdam, Dresden, Hamburg, Tokyo và Hiroshima.

Khi đến nơi, chúng tôi đã gặp một điều bất ngờ. Trong hành lang khách sạn của chúng tôi có mặt một người to lớn vạm vỡ, rõ ràng không phải là người Triều Tiên. Chúng tôi hỏi và anh ấy trả lời đến từ Hawaii. Chúng tôi rất tò mò vì sao lại có thể có những người Mỹ khác ở đây và càng trở nên tò mò hơn khi anh ta giới thiệu bản thân là một Thiếu tá Quân đội Hoa Kỳ. Anh ta ở đó với đơn vị của mình trong một dự án chung với Bắc Triều Tiên để tìm kiếm hài cốt và những lính Mỹ bị mất tích trong Chiến tranh Triều Tiên. Điều này có vẻ kỳ lạ khi chúng tôi vẫn thường xuyên được tuyên truyền rằng chúng ta đang ở bên bờ vực chiến tranh với đất nước này. Những cuộc thảo luận thêm trong vài ngày sau đó với những người lính trong đơn vị này đã chứng minh cho các quan sát của chúng tôi. Những người lính cho biết Triều Tiên thực sự không phải như những điều mà họ được cho biết, khi người dân rất thân thiện với họ và rằng họ đã được đi khắp vùng nông thôn và mọi người đều có đủ lương thực, và chúng tôi sẽ được tự khám phá những ngày sau đó, họ nói: “Cây trồng được phát triển ở khắp mọi nơi”.

Ngoài ra, thật đáng ngạc nhiên khi CHDCND Triều Tiên cho phép những người lính Hoa Kỳ lắp đặt và sử dụng một trạm phát thanh để liên lạc với nhau và liên lạc về Mỹ ngay trong nhà khách Bình Nhưỡng mà chúng tôi ở.

Vai trò của luật sư

Sau khi nghỉ ngơi, đoàn chúng tôi có một bữa tối chính thức với chủ nhà và một luật sư là người đứng đầu phái bộ liên lạc của Chính phủ Triều Tiên với các tổ chức phi chính phủ quốc tế, ông Ri Myong Kuk. Ông nói Lực lượng Ngăn chặn Hạt nhân của Triều Tiên là điều cần thiết, cũng tương tự như các hành động trên thế giới của Hoa Kỳ. Nếu Mỹ ký hiệp ước hòa bình và thỏa thuận không xâm lược lẫn nhau với CHDCND Triều Tiên, nó sẽ làm mất đi tính hợp pháp của sự hiện diện quân đội Mỹ ở miền Nam và sẽ dẫn tới sự thống nhất đất nước. Sau đó ông quay lại với vai trò chính của chúng tôi trên tư cách luật sư: “Điều quan trọng là luật sư cần được tập hợp để nói về điều này, bởi luật sư là người điều chỉnh các tương tác trong xã hội và trên thế giới”. Ông chỉ ra rằng công việc của chúng tôi tương ứng với các trách nhiệm liên quan đến tương tác giữa quốc gia. Ông đồng ý rằng con đường hòa bình phải bao gồm “sự chân thành mở lòng và hiểu biết lẫn nhau”.

So-490--Bac-Trieu-Tien---nhung-dieu-doi-tra-lon---Anh-2
Hàng rào phía Nam DMZ nhìn từ phía Hàn Quốc.

Phái đoàn đồng ý rằng luật sư có vai trò then chốt trong tình hình hiện tại. Khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với luật pháp quốc tế cần được giải quyết. Lịch sử giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên đầy những hứa hẹn và vi phạm hứa hẹn, những điều mà luật sư phải đối phó thường xuyên. Những lời hứa đơn giản, nếu được giữ, có thể đã thay đổi quá trình lịch sử nhân loại và thay đổi tình trạng tuyệt vọng trên bán đảo. Chẳng hạn, chúng ta có thể đọc hiệp định đình chiến ký tại DMZ, trong đó Điều IV ghi rằng: “Trong vòng ba tháng sẽ tổ chức các cuộc họp cấp cao hơn để giải quyết thông qua đàm phán về vấn đề rút các lực lượng nước ngoài ra khỏi bán đảo và đem lại hòa bình”. Hoa Kỳ đã từ chối đáp ứng điều đó, bất chấp mọi yêu cầu kiên trì trong nhiều năm của Bắc Triều Tiên. Hơn 50 năm sau, quân đội Hoa Kỳ vẫn hiện diện ở đây và không có hiệp ước hòa bình nào được ký kết. Có thể nói, thực tế bán đảo Triều Tiên vẫn chưa ra khỏi tình trạng chiến tranh. Thỏa thuận ngừng bắn năm 1953 yêu cầu các bên “Không tham gia bất cứ cuộc phong tỏa nào đối với bán đảo Triều Tiên”. Hiệp định ràng buộc này đã luôn bị vi phạm bởi hành động từ phía Hoa Kỳ nhằm bao vây và ngăn chặn việc vận chuyển hàng hóa, thực phẩm và các vật liệu thiết yếu khác đến CHDCND Triều Tiên.

Sự thiếu niềm tin vào các thỏa thuận, đôi khi được tham chiếu như một giao ước đức tin tốt và công bằng, khiến cho chúng tiếp tục bị vi phạm trong nhiều tình huống. Bà Wendy Sherman, cố vấn của Clinton về Bắc Triều Tiên, đã chỉ ra rằng khi họ tham gia vào Khung Thỏa thuận nổi tiếng năm 1994, trong đó Bắc Triều Tiên sẽ được cung cấp 2 lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ và dầu, nhiên liệu để đổi lấy việc dừng chương trình hạt nhân của họ, hướng tới bình thường hóa chính trị và quan hệ kinh tế, nhưng Hoa Kỳ không hề có ý định tuân thủ thỏa thuận, chính quyền Clinton tin rằng chính quyền Kim sẽ sụp đổ ngay trước khi Hoa Kỳ phải cung cấp lò phản ứng. Việc thiếu niềm tin vào quan hệ quốc tế xung quanh những vấn đề có tầm quan trọng đối với thế giới rõ ràng là trái với luật pháp thông thường, cũng như sự vi phạm thỏa thuận giữa các bên tư nhân.

Sau đó, chính quyền Bush tiếp tục tuyên bố Bắc Triều Tiên là một thành viên của “trục ma quỷ” và kêu gọi việc thay đổi chế độ ở đây. Chúng tôi nhận ra rằng Hoa Kỳ phải chịu mọi trách nhiệm về việc đã không tôn trọng, thiếu công bằng và thiếu thiện chí với CHDCND Triều Tiên. Nghiên cứu của chúng tôi chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đã vi phạm hầu hết các nghĩa vụ của mình theo Khung Thỏa thuận Geneva năm 1994 trước khi CHDCND Triều Tiên trở lại chương trình hạt nhân của mình. Phái đoàn chúng tôi cảm thấy rằng chính phủ Hoa Kỳ không thể ủng hộ chế độ pháp quyền và dân chủ, bởi chính Hoa Kỳ đã không thể có một mô hình chế độ xã hội như vậy.

Rõ ràng các luật sư đóng một vai trò quan trọng trong việc chỉ ra các vi phạm thỏa thuận và vi phạm công pháp quốc tế, nhưng quan trọng hơn là việc chúng ta có thể giúp chứng minh tại sao lòng tin đã bị đánh mất, chính bởi các hành vi của Hoa Kỳ. Nhóm của chúng tôi đã suy nghĩ về những hành động pháp lý nào có thể được thực hiện để làm sáng tỏ tình hình và mang lại hòa bình. Điều này sẽ tiếp tục được chúng tôi tìm hiểu, khám phá.

Tội phạm chiến tranh

Ngay trong đêm đầu tiên, tại buổi thảo luận ngắn trong phòng khách sạn, chúng tôi đã hiểu rõ ràng về nhiệm vụ lớn nhất của mình, các luật sư khu vực Bắc Mỹ có mặt tại Triều Tiên trong một thời điểm lịch sử, là phải làm rõ sự tàn bạo của các lệnh cấm vận, làm rõ sự sai lạc trên truyền thông phương Tây. Ngay khi chúng tôi đang cùng chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ, đột nhiên tất cả chìm vào bóng tối. Việc cúp điện đã khiến phải sử dụng đèn pin, đèn năng lượng mặt trời và nến được chuẩn bị sẵn cho các phòng. Đó là một khoảnh khắc kỳ lạ và sự im lặng là một lời nhắc nhở tuyệt vời về vai trò của công nghệ trong cuộc sống của chúng ta. Trước khi lên đường chúng tôi đã đọc những bài báo nói rằng Triều Tiên là một “vương quốc tối tăm”, không có quyền lực vào ban đêm mà chỉ là một điểm đen tối khi nhìn từ không gian. Tổng thống Bush đã từng giới thiệu hình ảnh này trong các bài phát biểu để tuyên bố rằng “ánh sáng tự do” chỉ tỏa sáng ở miền Nam Triều Tiên. Tuy nhiên, chúng tôi đã biết được sự thật trong những đêm tiếp theo, và thậm chí ngay từ tối hôm đó, rằng tuyên bố trên chỉ là một tuyên truyền phóng đại. Chúng tôi luôn có đủ ánh sáng, một thứ “quyền lực” trong suốt những đêm khác của chuyến thăm, và ngoại trừ việc mất điện một vài phút, ánh đèn luôn chiếu sáng ở Bình Nhưỡng. Chúng tôi cũng thấy đèn chiếu sáng trong các khối nhà chung cư khi lái xe đi dạo ở Bình Nhưỡng vào ban đêm. Chúng tôi nghi ngờ rằng bức ảnh từ không gian kia đã được chụp trong một lần bị tắt đèn.

Ngày hôm sau, chúng tôi dành hầu hết thời gian để thăm “Bảo tàng Chiến tranh giải phóng Tổ quốc”. Khu vực đầu tiên của Bảo tàng giới thiệu về cuộc chiến chống lại Nhật Bản từ năm 1925 cho đến khi được giải phóng vào năm 1945. Các khu vực tiếp theo trưng bày về “giai đoạn hai” của cuộc chiến tranh nhằm chống lại “Những kẻ xâm lăng Hoa Kỳ” với những chiến thắng mà người Bắc Triều Tiên khẳng định họ đã đạt được. Rõ ràng là Bắc Triều Tiên, cùng với một vài triệu quân Trung Quốc, đã bảo vệ được lãnh thổ của họ trong chiến tranh, nhưng với một cái giá rất lớn.

Trước khi tổ chức chuyến đi, chúng tôi đã nghiên cứu khá sâu về Chiến tranh Triều Tiên trong nỗ lực để có thể hiểu rõ hơn về cảm xúc và tinh thần của người Bắc Triều Tiên. Nhưng khi đó chúng tôi chưa thể nhận ra mức độ tàn phá và sự đau khổ của con người trong chiến tranh ở đây là như thế nào. Tại Washington, chúng ta có tượng đài của 53.000 lính Mỹ thiệt mạng, nhưng ở đây đã có hơn 3,5 triệu nạn nhân chiến tranh, kết quả là cứ 10 người Triều Tiên thì có một người bị giết (tỷ lệ trên toàn bán đảo, còn riêng miền Bắc đã mất 30% dân số của mình). Báo New York Times từng cho biết rằng có tới 17 triệu pound chất cháy Napalm đã được gửi đến Triều Tiên chỉ trong 20 tháng đầu của cuộc chiến. Miền Bắc Triều Tiên đã bị Mỹ đánh bom trên toàn bộ lãnh thổ suốt thời gian chiến tranh. Tư lệnh Hoa Kỳ chỉ đình chỉ các cuộc tấn công gần cuối cuộc chiến khi ông ta thấy “Ở đó không còn có gì ngoài cái tên”. Số lượng bom đạn của Mỹ giáng xuống Triều Tiên nhiều hơn toàn bộ số bom đạn mà Nhật Bản phải chịu trong toàn bộ cuộc chiến Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Một thành viên đoàn đã căm phẫn thốt lên trong chuyến đi “Bạn có thể tưởng tượng được nỗi đau, sự tức giận và sự không tin tưởng của người dân ở nơi mà mỗi khu phố là một tòa tháp đôi sụp đổ?”.

Bảo tàng có rất nhiều tài liệu, hình ảnh và bằng chứng vật chất về những tội ác chiến tranh do Hoa Kỳ và các đồng minh LHQ thực hiện trong Chiến tranh Triều Tiên. Bảo tàng lưu giữ nhiều tài liệu bị thu giữ tại Đại sứ quán Mỹ khi lực lượng Bắc Triều Tiên vượt qua hệ thống phòng thủ của Nam Triều Tiên ở Seoul. Các tài liệu này là bằng chứng thuyết phục rằng chính Hoa Kỳ đã lên kế hoạch tấn công Bắc Triều Tiên vào năm 1950, sử dụng quân đội Nam Triều Tiên tiến hành khiêu khích khiến Bắc Triều Tiên tổ chức một cuộc tấn công đáp trả. Chính điều đó đã cho phép Hoa Kỳ thuyết phục Hội đồng Bảo an LHQ bỏ phiếu (khi vắng mặt hai thành viên thường trực Liên Xô và Trung Quốc) đồng ý cho một hành động của lực lượng LHQ dưới sự chỉ huy của Hoa Kỳ nhằm “đẩy lùi cuộc tấn công từ phía Bắc”. Với việc bỏ phiếu mà không có Liên bang Xô viết và Trung Quốc, rõ ràng rằng Hoa Kỳ đã thao túng các cuộc thảo luận, khiến cho toàn bộ “hoạt động cảnh sát” của LHQ ở Triều Tiên là bất hợp pháp. Ngoài ra, chúng tôi đưa ra kết luận rằng các hành động bất hợp pháp đó bao hàm sự che giấu nỗ lực của Hoa Kỳ trong một âm mưu chinh phục và chiếm đóng Bắc Triều Tiên, chuẩn bị cho những cuộc xâm lăng tiềm tàng đối với vùng Mãn Châu và Siberia. Các thành viên trong nhóm của chúng tôi đã ghi lại các tài liệu và hình ảnh này.

Sau đó, chúng tôi được cung cấp báo cáo về các tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ gây ra tại Triều Tiên do Hiệp hội các Luật sư Dân chủ Quốc tế (IADL) soạn thảo năm 1952 trong thời gian chiến tranh, cùng Báo cáo của Ủy ban thuộc Liên đoàn Dân chủ Phụ nữ Quốc tế năm 1951. Các báo cáo được trưng bày một cách nổi bật trong Bảo tàng và là những bằng chứng pháp lý quan trọng về những tội ác diễn ra trên khắp các địa bàn của Triều Tiên.

Phái đoàn chúng tôi kêu gọi các thành viên của mình điều tra những cáo buộc của DPRK rằng các nội dung phản đối những vi phạm luật pháp quốc tế đã bị LHQ lờ đi. Các phái đoàn quốc tế tại Triều Tiên năm 1951 và 1952 đã trực tiếp ghi lại các vi phạm, và những bằng chứng của Triều Tiên về chiến tranh sinh học và hóa học trong Chiến tranh Triều Tiên đều đã được xác nhận. Phái đoàn kêu gọi rằng các báo cáo năm 1951 và 1952 sẽ phải được phát hành lại, cung cấp cho những người thiếu thông tin ở phương Tây một sự thật về chiến tranh Triều Tiên, đó sẽ là một phương tiện giúp họ hiểu được thực tế nỗi lo sợ của người Triều Tiên đang phải trải qua hàng ngày, sự lo lắng và sợ hãi về một cuộc tấn công tương tự trong tương lai.

Điều quan trọng trong các vấn đề quốc tế là sự thừa nhận và chịu trách nhiệm về các hành động trong quá khứ. Người Nhật đã phải bày tỏ “lời xin lỗi chân thành và sự hối hận” đối với nỗi đau của người Triều Tiên khi bị Nhật chiếm đóng. Quá trình tìm kiếm sự thật và hòa giải của Nam Phi đã chứng minh rằng “không có sự thật, bạn không thể hòa giải được”, những hành động tàn bạo dưới thời chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bị phơi bày đã gặp phải sự phủ nhận của cộng đồng da trắng, phá vỡ quá trình tìm kiếm “chân lý để hóa giải”.

Phái đoàn đã kết luận trong chuyến đi này, từ những quan sát của mình và những nghiên cứu đã thu thập được rằng có nhiều vi phạm luật pháp quốc tế và các tội ác chiến tranh xảy ra trong Chiến tranh Triều Tiên chưa bao giờ bị truy tố hoặc được đưa ra công khai. Khi sự thật được thừa nhận rộng rãi hơn, hòa bình và sự hiểu biết có thể sẽ đến.

Những ví dụ điển hình về tội phạm chiến tranh đã trở nên rõ ràng trong suốt chuyến viếng thăm thị trấn Sinchon thuộc tỉnh Hwang Hoe. Chính ở đây quân đội từ Nam Triều Tiên và lính Mỹ đã cùng tham gia vào những tội ác chiến tranh man rợ. Chúng tôi chỉ dám nhìn lướt qua các hình ảnh miêu tả các vụ tấn công thường dân, hình ảnh các thân thể bị cháy nát và bị cắt xẻo… Tài liệu thu giữ từ miền Nam cho thấy họ có một chính sách săn bắt và giết hại tất cả các thành viên đảng cộng sản và gia đình họ. Chúng tôi đã chứng kiến bằng chứng của hơn 500 người bị bắt dồn vào một cái hố, bị tưới xăng và đốt cháy cho đến chết. Chúng tôi cũng vào một căn hầm trú ẩn với những bức tường vẫn còn dấu tích của xương thịt bị thiêu cháy, căn hầm này có hơn 900 người, phần lớn trong đó là phụ nữ và trẻ em chạy trốn cuộc tấn công, lính Mỹ đã phát hiện ra họ và chúng đổ xăng vào lỗ thông hơi của căn hầm rồi phóng hỏa thiêu cháy tất cả… Các vụ giết người đã được thực hiện bởi lệnh của một sĩ quan Hoa Kỳ tên là Harrison, kẻ cũng đã trực tiếp thả chất cháy xuống thiêu đốt một hầm trú ẩn khác gần đó.

Khi chúng tôi ra khỏi căn hầm trú ẩn, thì thấy hàng trăm lính Triều Tiên đang chăm chú lắng nghe câu chuyện chân thành từ một người phụ nữ mà gia đình đã bị giết hết tại Sinchon. Giọng cô run lên vì cảm xúc, còn những người lính thì cẩn thận dõi theo khi chúng tôi tiến lên để đặt hoa vào tượng đài và khu mộ Sinchon. Chúng tôi không thể diễn tả được cảm giác xấu hổ của mình khi đó, một cảm giác về tội lỗi khi trải nghiệm ở Sinchon, nhưng chính cảm giác đó đã củng cố cam kết của chúng tôi sẽ đấu tranh cho hòa bình và chứng minh rằng chiến tranh không thể là một lựa chọn.

Khu phi quân sự (DMZ)

Một trong những khoảnh khắc ấn tượng nhất của chuyến đi là tại DMZ với các hàng rào thép gai khổng lồ ở Panmunjom. Tuy nhiên, rất nhiều điều gặp ở đây lại không phải là những điều chúng tôi từng mường tượng. Trước khi đến Triều Tiên, chúng tôi đã biết DMZ là nơi căng thẳng và nguy hiểm nhất hành tinh. Chúng tôi đã sẵn sàng chuẩn bị cho việc đến một pháo đài quân sự kiên cố được bao quanh bởi súng máy, dây thép gai và một số lượng đông đảo quân nhân, nhưng đó không phải là những gì mà chúng tôi bắt gặp.

Từ trong các căn hầm trú ẩn, những người lính nhìn nhau qua một đường ranh giới tưởng tượng, dường như chỉ là một sự trình diễn với một mức độ hết sức phi lý. Khi chúng tôi tiến gần biên giới, những người lính Mỹ và Bắc Triều Tiên, với vóc dáng khá tương đồng như được lựa chọn, đã theo dõi chúng tôi bằng ống nhòm, chúng tôi gặp nhau trong không gian sử dụng chung thuộc tòa nhà nơi thỏa thuận đình chiến đã được ký kết. Những ngọn đồi đẹp trong DMZ, cùng với 5 con sông uốn lượn trong một cảnh quan thơ mộng làm cho nó có vẻ phù hợp cho một công viên sinh thái hơn là một sân khấu chiến tranh.

Ấn tượng không đến từ sức mạnh quân sự, mà đã đến bằng sự trao đổi từ trái tim của chúng tôi với các sĩ quan quân đội miền Bắc của vùng đất bị chia cắt này. Ngay khi xuống khỏi xe buýt, chúng tôi đã gặp Thiếu tá Kim Myong Hwan, sĩ quan phụ trách đàm phán giữa miền Bắc và miền Nam trong DMZ. Nhận ra một thành viên trong đoàn của chúng tôi là người đã gặp trong một chuyến đi trước, họ ôm lấy nhau và một nụ cười hiền hậu lan khắp mặt Kim, anh nói “Chào mừng bạn cũ của tôi”. Anh và Peter cứ nắm tay nhau tươi cười và hồi tưởng thông qua phiên dịch, một kết nối ngắn ngủi từ 2 năm trước đó nhưng rõ ràng là đã chạm vào cả hai trái tim của họ.

Thiếu tá Kim mỉm cười chia sẻ ước mơ của mình muốn trở thành một nhà văn hoặc nhà báo, rồi bằng giọng ngại ngần hơn anh nói: “Cuối cùng số phận lại đưa tôi và anh trai của mình “đi dạo trong DMZ” với vai trò của những người lính. Tôi muốn kể câu chuyện của mình cho những người Mỹ là luật sư, bởi luật sư là những người đáng tin tưởng và trong lòng họ có sự công bằng”. Anh nhẹ nhàng nói với chúng tôi rằng cuộc đấu tranh của đất nước anh là nhằm chống lại Chính phủ Hoa Kỳ chứ không phải người dân Mỹ, anh mô tả nỗi cô đơn vì sự mất mát của gia đình: “Tại Sinchon – ông nội của tôi bị trói vào một hàng với nhiều người và bị tra tấn đến chết, bà của tôi thì chết vì bị đâm lưỡi lê vào bụng…”. Nước mắt trào ra trên đôi mắt khi anh nói về cha mình, người bị mồ côi khi mới lên 6 tuổi, chỉ là một đứa trẻ không thể bảo vệ gia đình mình… “Bởi vậy nên bây giờ chúng tôi phải làm việc đó”, anh nói trong sự xúc động nhưng rất rõ ràng, và thật tuyệt vời rằng “chúng tôi không phản đối dân Mỹ. Chúng tôi phản đối chính sách thù địch của Hoa Kỳ và nỗ lực của họ hòng kiểm soát toàn thế giới này, gây tai họa cho người khác”.

Trên đường tham quan, Kim chỉ cho chúng tôi một tiền đồn Nam Triều Tiên với lá cờ của Liên hợp quốc (LHQ), anh nói: “Sử dụng lá cờ của LHQ ở đó là bất hợp pháp, bởi họ không chỉ huy và tài trợ cho hoạt động ở đây. LHQ tồn tại để đảm bảo hòa bình chứ không phải để bắt đầu một cuộc chiến tranh”. Kim bày tỏ sự tức giận về vai trò hỗ trợ của LHQ trong thời gian chiến tranh, nhưng ngay sau đó anh lại nói rằng ngày nay hầu hết các nước LHQ đều có quan hệ ngoại giao chính thức với CHDCND Triều Tiên. Kim hiểu rất rõ rằng “Liên hợp quốc đôi khi bị Hoa Kỳ sử dụng sai”.

Ở một vị trí khác xa hơn trong DMZ, chúng tôi gặp một Đại tá, người đã chuẩn bị ống nhòm giúp chúng tôi có thể nhìn thấy phía bên kia dải phân cách. Chúng tôi nhìn thấy một bức tường bê tông được xây dựng ở phía Nam, một sự vi phạm thỏa thuận ngừng bắn. Đại tá mô tả cấu trúc kiên cố đó là một “nỗi ô nhục cho người Hàn Quốc với tư cách cùng một dân tộc với chúng tôi”. Từ vị trí này, có thể nghe rõ tiếng loa phát thanh tuyên truyền và âm nhạc từ các diễn giả từ phía nam, tiếng ồn phát ra ở đây 22 tiếng mỗi ngày, theo như vị Đại tá nói. Đột nhiên, trong một khoảnh khắc siêu thực, tiếng loa phóng thanh từ boongke bên kia bắt đầu phát nhạc cùng lời giới thiệu về William Tell, được biết đến ở Mỹ như là một nhân vật anh hùng chính trong bộ phim “Kỵ sỹ cô độc”.

Đại tá kêu gọi chúng tôi hãy giúp mọi người nhìn thấy những gì thực sự đang diễn ra ở Triều Tiên, thay vì dựa vào các thông tin sai lệch trên truyền thông. Ông nói: “Người Triều Tiên chúng tôi cũng giống như những người yêu hòa bình ở Mỹ. Có con cái, cha mẹ và gia đình”. Chúng tôi nói với ông về sứ mệnh của mình với một sứ điệp hòa bình và hy vọng rằng chúng tôi sẽ được trở lại vào một ngày nào đó, vị Đại tá im lặng một chút và nói “Hòa bình ngay trên những ngọn đồi xinh đẹp này. Tôi tin rằng điều đó là có thể”.

(Còn tiếp kỳ sau)

Ngô Mạnh Hùng (Biên dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 490

Ý Kiến bạn đọc