Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Bác là người rất yêu trăng

Một nhà lãnh đạo của Liên Xô trước kia đã nói những lời rất đáng ghi nhận như sau:

“Xem cách ảnh hưởng tới xung quanh, người ta có cảm nghĩ rất rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị thánh”.

Chữ “thánh” là một khái niệm vô hình, một danh hiệu không thể so bằng vật chất, và nó chỉ có thể được người đời tôn vinh một cách tự nguyện, hồn nhiên và không vụ lợi.

Bên cạnh đức độ, tài năng, lòng kiên bền không tả nổi, trong tâm hồn Hồ Chủ tịch còn cho ta thấy lấp lánh ánh trăng trong.

Còn nhớ những ngày còn bị giam ở đất khách quê người, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, ngủ không yên giấc, ghẻ chốc đầy người, Bác vẫn không sao kềm nén được cảm xúc khi nhìn thấy trăng soi qua song sắt nhà tù:

“Trong tù không rượu cũng không hoa
Vẻ đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

(Ngắm trăng – Nhật ký trong tù)

bac-ho-voi-chau-thieu-nhi-ben-song-pho-day

Rồi sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong một đêm trăng sáng nên thơ, Bác viết những câu chan chứa yêu thương các cháu nhi đồng. Tình thương yêu ấy hòa quyện với trăng thu, trở thành một thứ chất liệu rất Hồ Chí Minh:

“Đêm nay trăng sáng như gương,
Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng”

Năm 1947, là năm chiến đấu quyết liệt của nhân dân ta chống thực dân Pháp. Giữa một đêm trăng, Bác lặng lẽ ngồi ngắm trăng một mình với một tâm trạng thanh thản, một tâm hồn trong trẻo qua bài thơ “Cảnh khuya” như sau:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa,
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Năm 1948, Bác lại say đắm ánh trăng rằm khi đang bàn “việc quân” thời chiến. Trên đường về, Bác thỏa sức xúc cảm khi thấy thuyền mình chất đầy trăng:

“Dạ bán qui lai, nguyệt mân thuyền”

(Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền)

Mười năm sau bài thơ “Cảnh khuya”, Bác lại đối diện với trăng trong một hoàn cảnh khác, độc đáo vô cùng. Đó là dịp hiếm hoi diễn ra vào giữa tháng 6-1957, khi Bác vào thăm Quảng Bình. Một nơi chỉ cách vĩ tuyến 17 khoảng 70km. Đây là năm mà máu đồng bào miền Nam chảy nhiều hơn bao giờ hết. Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp miền Nam để chém đầu những người yêu nước. Việc thống nhất non sông theo qui định của Hiệp định Genève 1954 đã không thành. Bác rất xót xa vì điều đó. Nỗi nhớ miền Nam thôi thúc Bác dữ dội. Người muốn được vào với miền Nam yêu thương, dù chỉ một lần, nhưng làm sao được! Người đành phải đến một nơi gần với miền Nam nhất cho thỏa nỗi khao khát của mình.

8 giờ 30 phút, ngày 16-6-1957, chiếc chuyên cơ Li-203 đáp xuống sân bay Đồng Hới (Quảng Bình). Một cụ già giản dị từ trên máy bay bước xuống. Theo sau là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, chuyến đi được giữ bí mật tuyệt đối tới khi Bác đặt chân xuống mảnh đất địa đầu phía Nam của Tổ quốc, để thăm hỏi đồng bào thân yêu. Năm ấy Bác đã 67 tuổi!

Đoàn cán bộ đi theo Bác không nhiều, ngoài Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn có Chủ tịch Ủy ban Hành chính Liên khu 4 Hoàng Văn Diệm, ông Vũ Kỳ (thư ký của Bác), ông Đồ Viết Kháng (Cục trưởng Cục bảo vệ) và ông Nhữ Thế Bảo (bác sĩ chuyên lo sức khỏe cho Bác).

Bác thăm hỏi, gặp gỡ nhiều người, nhiều chỗ với lịch hoạt động dày đặc và một tốc độ làm việc chóng mặt. Chiếc xe nhỏ đưa Bác về trụ sở Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Bình. Bác không nghỉ mà đi luôn vào thăm nơi làm việc và nhà ăn của cán bộ, công nhân viên liền sau đó, làm việc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh. 11 giờ 30 phút, mới nghỉ, ăn một bữa cơm đạm bạc.13 giờ 45 phút, tiếp đoàn đại biểu Vĩnh Long và đoàn cán bộ hoạt động bí mật vùng Nam giới tuyến. 14 giờ 15 phút, tiếp đoàn đại biểu dân tộc Vân Kiều. 14 giờ 30 phút, gặp gỡ đoàn nhân sĩ trí thức. 15 giờ, gặp 500 cán bộ cốt cán của tỉnh. 16 giờ, Bác nói chuyện với 3 vạn đồng bào tại sân vận động Đồng Hới. 17 giờ 30 phút, Bác đến thăm sư đoàn 325 tại bãi biển Nhật Lệ.

Theo kế hoạch ngày hôm sau Bác sẽ gặp, nói chuyện với sư đoàn 325, nhưng kế hoạch phải thay đổi vì một lí do đặc biệt cuộc gặp được tổ chức sớm hơn.

4 giờ sáng ngày 17-6, Bác gặp bộ đội nhưng chỉ nói chuyện có 5 phút rồi giao cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói tiếp để kịp lên máy bay vào 5 giờ sáng cùng ngày.

Có một điều thú vị và cảm động là sau cuộc gặp thân tình với cán bộ, chiến sĩ nhà khách sư đoàn 325 ở bãi biển Nhật Lệ, bảo vệ sư đoàn mời Bác vào phòng nghỉ. Dừng lại trước phòng Bác hỏi: “Ở đây trăng sáng, gió mát chú cho Bác nghỉ trong phòng thì làm sao thưởng thức biển được”. Nói xong Bác ôm luôn chiếu hoa và gối ra trước thềm nhà tự tay trải ra nằm. Chính ủy sư đoàn 325 rất lo cho công tác bảo vệ Bác, nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bảo: “Cứ để cho tự nhiên, tùy Bác…”.

Đêm đó Bác trằn trọc không ngủ được, liên tiếp đốt thuốc lá và nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Mẹ mình mất ở Huế, bố mất ở Cao Lãnh. Quê mình còn suốt mãi trong kia, cho nên mình về thăm quê lần này, mới dừng chân ở đây vẫn là chưa đi đến nơi về đến chốn”.

Đó là lần ngắm trăng rất ấn tượng của Bác Hồ.

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 396

Ý Kiến bạn đọc