Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài - Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM
XEM BÁO GIẤY
Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

(Tiếp theo số báo 426 và hết)

Bác hồ với các thứ tiếng khác

Trong bản lý lịch dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7, Bác đã ghi: biết các thứ tiếng Pháp, Anh, Trung , Ý, Đức, Nga. Trong bản lý lịch in sẵn bằng hai thứ tiếng Anh, Pháp: “Đồng chí biết những thứ tiếng gì?”. Bác đã viết bằng tiếng Nga để trả lời câu hỏi ấy, dưới ký tên bằng chữ Nga (chữ V ngược và uI). Như vậy là rõ: ngay từ năm 1935, ngoài tiếng Hán, Pháp, Anh, Nga được xem là những ngôn ngữ quốc tế thông dụng ra, Bác còn biết cả tiếng Đức và tiếng Ý cũng là hai thứ tiếng quốc tế nữa.

Bác học tiếng Đức từ bao giờ?

Năm 1923, trên đường đi công tác, Bác tuy chỉ ghé qua thủ đô Bá Linh trong một thời gian ngắn, Bác vẫn học và học được tiếng Đức. Lúc học, Bác mua báo Đức để tập đọc. Bác nói: “Tiền mua một tờ báo lúc đó trải rộng ra bằng cả tờ báo!”. Chúng ta biết rằng hồi ấy nước Đức đang bị nạn đói nghiêm trọng, lạm phát tồi tệ. Theo Xanh-tơ-ni, một nhà ngoại giao Pháp thì hồi ấy ở Bá Linh, Bác đã học xong phần cơ bản của tiếng Đức. Nhờ biết nhiều thứ tiếng nên Bác học tiếng Đức cũng nhanh và với việc dùng thường xuyên, với phản xạ nhạy bén mà sau này Bác có thể sửa vài chỗ đồng chí phiên dịch không chính xác. Như khi sang thăm nước Cộng hòa dân chủ Đức chẳng hạn, Bác đến nói chuyện với anh chị em học sinh thực tập sinh Việt Nam cùng các thầy cô giáo Đức. Đồng chí giỏi tiếng Đức nhất lớp được cử ra dịch. Bác giới thiệu có đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục cũng đến đây, nhưng đồng chí ấy lại dịch thành Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Bác đã chữa lại cho.

Còn nhớ có một lần, một nhà điêu khắc nước Cộng hòa dân chủ Đức tỏ ý muốn đắp tượng Bác. Nể lắm Bác mới nhận lời. Trong quá trình làm việc, đồng chí ấy mới biết Bác có thể nói được nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Đức. Nhà điêu khắc tài giỏi này lúc đó mới thấy mình lãng phí, không điều tra nghiên cứu kỹ tình hình nên đã đưa phiên dịch sang.

Về đọc, Bác cũng thành thạo. Khi đoàn Việt Nam đi dự Đại hội Liên hoan thanh niên thế giới ở Đức về, đang tự học quanh đống lửa thì Bác đến. Một người đưa cho Bác một lá thư dài bằng tiếng Đức. Đây là lá thư của một tù binh Đức trong quân đội Lê dương bị bắt trong Chiến dịch Biên giới năm 1950. Do chính sách khoan hồng nhân đạo của Chính phủ ta nên anh được trao trả về nước. Người tù binh ấy hiểu rõ sự thật, trong thư, anh gửi tặng Bác ảnh hai vợ chồng, anh báo tin là vợ anh có mang, anh xin Bác nhận làm cha đỡ đầu cho đứa trẻ… Bác dịch ngay tức khắc cho mọi người nghe, dịch tới đâu ai nấy đều phá lên cười vui vẻ đến đấy…

Bac-ho-noi-chuyen-voi-nguoi-Lien-Xo
Bác Hồ nói chuyện với người dân Liên Xô – Ảnh: bqllang.gov.vn

Như vậy là, tiếng Đức tuy Bác ít sử dụng và không được thành thạo bằng các tiếng Pháp, Anh, Nga, thế nhưng nhiều người – kể cả người Đức – cũng vẫn kinh ngạc về vốn liếng thứ tiếng của Mác – Ăng-ghen này của Bác. V. Xan-bao, Ủy viên thường trực Ban thư ký Ủy ban Đoàn kết với Việt Nam của Cộng hòa dân chủ Đức được gặp Bác. Đồng chí cảm thấy “một điều rất lạ là sau 37 năm – kể từ năm Bác hoạt động bên Đức – Bác vẫn nói tiếng Đức một cách chính xác.

Về tiếng Ý, cũng có mẩu chuyện vui vui. Khi còn hoạt động ở nước ngoài, trên đường đi công tác, Bác ghé qua nước Ý. Đến biên giới, bọn cảnh sát gác biên phòng của bọn phát xít đã giở xem quyển “Tự điển chống cộng quốc tế” dày khoảng 2.000 trang, ghi tên tuổi những người cách mạng các nước từ vần A tới vần Z. Khi không thấy tên mới của Bác trong đó, chúng chào lễ phép: “Mời ông cứ đi!”. Thế là Bác vào được nước Ý, nơi mà phụ nữ “hát rất hay”, “trong như tiếng chuông”. Bác đã đến cửa biển Náp-lơ, đi thăm núi lửa Vê-xu-vô, di tích phố Pom-pê-i, thủ đô Rom và đến dự hội chợ Mi-lăng. Ở đây có một cái tháp cao, lên tháp xem phong cảnh xung quanh phải mua vé. Bác đã chào cụ già gác tháp và hỏi bằng tiếng Ý: “Sao cụ, đời sống thế nào?”. “Ôi, khổ lắm ông ạ! Biết bao giờ sẽ chấm dứt chế độ này!”. Rời Ý, Bác đáp tàu Nhật sang Xiêm.

Về Xiêm (nay là Thái Lan), Bác lấy tên Thầu Chín, hoặc Chín Thầu nghĩa là ông già Trung Quốc. Bác đóng vai một nhà báo Trung Quốc. Theo đồng chí Lê Mạnh Trinh, người xưa kia đã được Bác dạy bảo, thì bấy giờ “tổ chức kiều bào còn mắc bệnh hẹp hòi: Ở đất nước người ta lâu mà tiếng Xiêm, chữ Xiêm cũng không học, vì anh em cho rằng không bao lâu nữa, không đi nước ngoài thì cũng về nước để tuyên truyền, vận động, chứ chẳng ăn đời ở kiếp ở nơi đây. Mặt khác, tình hình có nhiều khó khăn, phong trào trong nước bị khủng bố dữ dội, anh em thấy tiền đồ cách mạng còn đen tối”. Trước tình hình ấy, Bác chủ trương “làm cho quần chúng Xiêm có cảm tình với cách mạng Việt Nam”, “xin phép Chính phủ Xiêm cho lập trường học cho trẻ em Việt kiều, khuyến khích mọi người học tiếng Xiêm”. Thầu Chín cổ động mọi người trong cơ quan hợp tác cùng học chữ Xiêm; số người cùng học được mươi người. Khi đặt chương trình, Thầu Chín đề ra trong thời gian đầu, mỗi ngày học 10 chữ, về sau tăng dần lên. Mọi người chê ít đòi học nhiều hơn.

Thầu Chín chủ trương học 10 chữ thôi. Mọi người cho rằng nhất định mình học được. Chưa đầy 3 tháng, Thầu Chín đã xem được báo chữ Xiêm, còn những người khác thì chỉ hăng hái, vồ vập lúc đầu, về sau dần dần “bữa đực bữa cái”. Kết quả, “chữ thầy lại theo thầy!”.

Lớp học tiếng Xiêm kể trên là lớp học ngoài giờ làm việc, “lớp không chuyên”, thì sức học như Bác đề ra là hợp lý, bảo đảm thành công mà trí nhớ không bị suy yếu vì học quá nhiều, quá khó trong một lúc, nhất là vào thời gian đầu. Sở dĩ Bác học chữ, tiếng Xiêm được nhanh và tốt như vậy là nhờ mục đích cao đẹp tạo nên sự say mê, hào hứng, thái độ nghiêm túc kiên trì, kinh nghiệm già dặn trong việc học tiếng nước ngoài, cộng với sự hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ của Bác.

Chính nhờ nhiều yếu tố học tập đó mà trong quá trình học tập, rèn luyện, Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng đã nắm được tiếng Tây Ban Nha. Do thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, Bác học tiếng Tây Ban Nha chẳng khó khăn cho lắm. Hơn nữa, con người với “đôi bàn chân đã đi khắp thế giới” ấy, từng đặt chân lên nhiều nơi ở vùng châu Mỹ La-tinh như Pa-na-ma, U-ru-goay… là những nước nói tiếng Tây Ban Nha, lại còn đến cả Tây Ban Nha nữa, thì chắc rằng cái vốn thứ tiếng quan trọng đứng hàng thứ ba về số người nói (sau tiếng Hán và tiếng Anh) này của Bác cũng không phải là quá ít ỏi. Trước khi trúng cử Tổng thống nước Cộng hòa Chi-lê, ông Xăn-va-đo A-gien-đê được gặp người tượng trưng cho cả dân tộc Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vị chính khách được gặp Bác này bày tỏ niềm kính phục vô hạn về đức độ, tài năng của Bác. Riêng tiếng nước ngoài, xin trích ra đây một đoạn băng ghi âm cuộc nói chuyện giữa Tổng thống và nhà báo Pháp Rê-gi Đơ-bray:

Đơ-bray: Đồng chí Hồ Chí Minh rất giản dị trong cách cư xử.

A-gien-đê: Thái độ của Người giản dị không thể tưởng tượng được. Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt! Nổi bật khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Cảm ơn các đồng chí!” và bao giờ cũng vậy, Người nói thêm: “Đất nước các đồng chí xa quá!”. Tôi ngạc nhiên hỏi Người học tiếng Tây Ban Nha ở đâu? Người kể rằng, trước đây Người đã từng đi dọc bờ biển châu Mỹ La-tinh làm phụ bếp trên những con tàu buôn. Con người từng bôn ba nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị như thế mặc dù có một sức hút mạnh mẽ trên thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh hiểu rất rõ thực tế của các dân tộc chúng ta.

Chẳng những Bác hiểu rõ tiếng Hán, Pháp, Anh, Nga mà còn biết cả tiếng nói của các dân tộc nữa. Nhằm thực hiện cho lý tưởng cao đẹp của mình, Bác chẳng nề hà, ngần ngại điều gì. Một mặt, Bác học tiếng Hán, Pháp, Anh, Nga… là những thứ tiếng nước ngoài có ý nghĩa “thế giới”, “quốc tế” của nó, mặt khác cần thiết, Bác cũng học cả một vài thứ tiếng ít được dùng trên thế giới như tiếng Xiêm, Tiệp và những thứ tiếng của các dân tộc ít người sống trên lãnh thổ Việt Nam, chỉ lưu hành trên vài vùng nhỏ hẹp mà thôi. Ở Viện Bảo tàng cách mạng chúng ta còn giữ được bút tích Bác học tiếng Tày hồi ở Việt Bắc. Mới về Pác-Bó, chẳng bao lâu, Bác đã nói được tiếng Nùng ở “quê hương thứ hai” của Bác (người Pác-Bó nói tiếng Nùng). Chẳng những thế, Bác còn đặt một bài hát bằng tiếng Nùng rồi dạy dần cho các đồng chí ở chung quanh. Đó là “Bài hát thiếu niên Cứu quốc hội” theo một điệu dân ca Nùng, một số câu dịch ra tiếng Kinh đại ý như sau:

Thiếu niên ta ở trong Cứu quốc hội
Phải học để cứu nước nhà
Theo người lớn đánh Tây đuổi Nhật
Ta tự cứu lấy ta…

Bác đi hầu hết các tỉnh miền núi ở phía Bắc. Bác lên vùng cao cũng như xuống vùng thấp, quen biết rất nhiều địa phương. Nhiều khi vào một bản, nhân dân quây quần lại, khi thì Bác nói tiếng Kinh, lúc lại nói tiếng Tày, Nùng… tiếng quê hương của các dân tộc ít người. Bác thường khuyên cán bộ miền xuôi lên công tác miền ngược cần phải học tiếng địa phương, nếu không như vậy thì “nửa câm nửa điếc”, “khó gần gũi quần chúng”. Bác nói: “Người Kinh lên miền núi công tác phải học cho được tiếng dân tộc. Không học tiếng dân tộc, bà con bảo đau đầu lại cho thuốc đau bụng, thế là bệnh chẳng khỏi mà có khi gây nguy hiểm chết người nữa”, “Người dân tộc này phải học tiếng nói của người dân tộc khác để hiểu biết nhau hơn và sau này nếu đi công tác ở vùng không phải dân tộc mình, cũng làm được việc tốt hơn”.

Anh hùng La Văn Cầu người dân tộc Tày, đại biểu Quốc hội được gặp Bác. Trong câu chuyện đậm đà giữa Bác và người anh hùng đã nhờ đồng đội chặt tay mình để xông lên diệt địch này, Bác dùng xen vào tiếng dân tộc. “Bác phát âm, dùng từ rất đúng”. Bác đề nghị anh nói chuyện cho một số người ở cơ quan trung ương nghe. Anh e ngại vì tiếng phổ thông (tiếng Kinh) chưa thành thạo, mà nói tiếng Tày thì người nghe lại không hiểu. Bác động viên: “Cháu biết tiếng phổ thông thế nào thì cứ nói thế ấy!”. Nhờ có sự cổ vũ của Bác, anh đã nói chuyện thành công. Sau đấy, Bác còn khuyên bảo thêm: “Cháu nói được tiếng phổ thông rồi, nhưng muốn nói thạo hơn thì nên xem nhiều sách báo và mạnh dạn dùng tiếng phổ thông, không sợ sai, sai sẽ sửa, trước lạ sau quen”.

Biết bao nhiêu đồng chí nhờ vâng theo lời Bác mà đạt được thắng lợi trong công tác, vừa giỏi chính trị chuyên môn lại vừa giỏi tiếng dân tộc (hoặc tiếng Kinh), tăng cường đoàn kết, giúp đỡ nhau, cùng dắt nhau vươn lên, vươn mãi. Và chính Bác cũng là hiện thân của đoàn kết, nguồn gốc của mọi thắng lợi – đoàn kết dân tộc, đoàn kết trong nội bộ từng dân tộc, giữa các dân tộc với nhau, giữa các dân tộc ít người với dân tộc nhiều người, đoàn kết giữa nhân dân ta với nhân dân thế giới.

(Lược kể theo Lê Khánh Sơn, Bác Hồ với tiếng nước ngoài, NXB Tổng hợp Sông Bé, 1990)

Nguyễn Hải Phú (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 427

Ý Kiến bạn đọc


Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

(Tiếp theo số báo 425)

Bác hồ với tiếng nga

“Ông Nguyễn được dẫn đến khách sạn Quốc tế (…), ông Nguyễn rất bằng lòng được ở một căn phòng rộng rãi, ăn uống đầy đủ, sách báo không thiếu”.

Ông Nguyễn bắt đầu học tiếng Nga.

Hai ngày sau, một người Pháp trẻ tuổi, Pôn, đến tìm ông Nguyễn, đây là một người bạn thân của ông Nguyễn (…).

- Anh đấy ư? – Pôn hỏi.

- Vâng, tôi đây – Ông Nguyễn trả lời.

- Anh làm thế nào mà đến đây được?

- Như lệ thường thôi, bằng cách bí mật.

- Anh đến đây vào lúc đang buồn.

Lê-nin vĩ đại vừa mới mất (…). Anh thấy xứ này thế nào?

- Tôi thấy rất rét. Ngoài ra không biết chuyện gì khác, vì tôi đã hứa với người cán bộ là không ra khỏi khách sạn.

- A! Đúng thế, ở đây rất nghiêm ngặt, vì có nhiều do thám ngoại quốc tìm cách lọt vào nước này.

- Còn anh Pôn, anh làm gì ở đây?

- Suýt nữa tôi quên nói cho anh biết nhiệm vụ của tôi. Chính bác Ca-sanh đã bảo tôi đến đây xem có đúng anh không, và đưa anh đến Mạc Tư Khoa.

- Thế thì chúng ta đi ngay. Tôi không muốn mất nhiều thì giờ ở khách sạn này, mặc dầu thịt rán và thuốc lá rất ngon.

- Gavaris po ruski? (Anh biết nói tiếng Nga rồi sao?)

- Đa! (Vâng).

Qua một số câu đối thoại trên đây, ta thấy Bác bắt đầu học tiếng Nga lúc mới đặt chân lên đất nước Liên Xô, đất nước của Lê-nin vĩ đại. Trải qua bao nhiêu nguy hiểm, gian lao, đến khách sạn sang trọng này bình thường ra mà nói, người ta phải nghỉ ngơi một thời gian, thế nhưng Bác đã tranh thủ học tiếng Nga ngay. Và chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã nghe và nói được một số câu thường dùng trong đời sống hằng ngày. Đó là một điều làm anh bạn thân của Bác ngạc nhiên. Cũng với tinh thần ham học hỏi đó, mà trước sau trong khoảng 5 năm ở Liên Xô, Bác đã có thể nắm được khá thành thạo thứ tiếng thuộc dòng Sla-vơ này, thứ tiếng mà có lần Bác nói là “khó đọc lắm!”. Ta hiểu rằng tiếng Nga là một thứ tiếng khác xa với tiếng Việt – Hán và cả tiếng Anh, Pháp nữa. Nói chung chẳng có gì gần gũi với tiếng Việt. Có người nói vui rằng: học xong sáu cách thì có một cách thứ bảy nữa là “cách chuồn!”, để chỉ những ai đó học tiếng Nga không bền bỉ, thiếu quyết tâm. Nếu cố gắng thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua được.

Anh hùng lao động Đỗ Chanh, người đã vinh dự được gặp Bác kể lại rằng:

Cuối tháng 4-1956, khi kết thúc khóa học, anh chị em lớp cán bộ công nghiệp sắp đi thực tập ở nước ngoài vào thăm Bác. Bác hỏi lớp bao nhiêu người, có khỏe không, vui không…

- Các cô các chú đi Liên Xô thì có được học tiếng Nga không?

- Có ạ.

- Học mấy tháng?

- Thưa Bác, 4 tháng ạ.

- Học có tốt không?

Tất cả ngập ngừng, không ai dám trả lời. Bác mỉm cười, chỉ một đồng chí ngồi gần:

- Chú nói xem nào: “ăn”.

Chả biết lúng túng thế nào, đồng chí đó phát âm sai, tiếng “ăn” gần giống tiếng “tắm”. Tất cả cười, Bác cũng cười vui.

Bác có kinh nghiệm về học và dùng tiếng nước ngoài. Đó là một điều chắc chắn, riêng tiếng Nga chẳng hạn, Bác đều luôn lưu ý học và dùng tiếng Nga trong nhiều lĩnh vực hoạt động. Thờ kỳ ở Liên Xô (từ năm 1933 đến 1938) là thời kỳ Bác có điều kiện trau dồi tiếng Nga hơn cả. Bác vào học trường bổ túc các lãnh tụ do Quốc tế Cộng sản mở. Bác lấy tên là Li-nốp, giống với tên gọi Nga. Khi viết bằng tiếng Pháp để gửi về nước, Bác lại lấy tên Lin cho hợp với tên gọi Pháp. Bác cũng làm việc ở Viện Nghiên cứu lịch sử phương Đông của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản.

Theo đồng chí Nguyễn Khánh Toàn thì “Bác vào trường Lê-nin là trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ nước ngoài”, rồi sau chuyển hẳn sang Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Bác cũng đồng thời “nhận phiên dịch tài liệu ra tiếng Việt”.

Chu-tich-Ho-Chi-Minh-trong-buoi-tiep-cac-chuyen-gia-Lien-Xo-dang-lam-viec-tai-Viet-Nam-1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi tiếp các chuyên gia Liên Xô
đang làm việc tại Việt Nam năm 1960. Ảnh tư liệu.

Bác đã từng viết rất nhiều bài cho một số báo chí Liên Xô như: “Đời sống công nhân Ba-kin-xki”, “Tiếng còi”, “Tạp chí Đỏ”, “Thời mới”, “Sự thật”… Bác cũng từng đi nhiều nơi trên đất nước rộng lớn nhất thế giới này, từng tiếp xúc với nhiều người, nhiều tầng lớp. Vì thế, Bác nói và nghe được tiếng Nga.

Theo nhà báo Thép Mới, người được đi cùng Bác sang thăm Liên Xô năm 1955, thì một đồng chí ở Mạc Tư Khoa cho rằng: Từ trước đến nay, những người nổi tiếng trên thế giới đến Liên Xô mà nói được tiếng Nga có đồng chí Mô-rít Tô-rê (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp), nhà nghệ sĩ da đen người Mỹ Pôn Rốp-sơn và nay có đồng chí Hồ Chí Minh nữa là ba”.

Bác sang thăm Liên Xô nhiều lần, đi nhiều nơi, đến đâu cũng nói một ít tiếng Nga. Riêng trường Ngoại ngữ Hồ Chí Minh ở Iếc-kút, Bác đã đến thăm mấy lần. Đây là một học viện dạy tiếng nước ngoài của Liên Xô mang tên Bác vào cuối năm 1969 và là trường kết nghĩa với trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Nhà trường còn giữ lại nhiều kỷ niệm đẹp đẽ về Bác. Các đồng chí Liên Xô vẫn còn nhắc lại với lòng xúc động về những buổi gặp gỡ Bác xưa kia. Chính tiếng nước ngoài mà Bác đã dùng làm tăng thêm bầu không khí ấm cúng trong tình đoàn kết quốc tế.

R. Các-men, nhà điện ảnh Liên Xô, người làm bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” đã được gặp Bác trong một căn nhà nhỏ ở Việt Bắc. Bác nói chuyện với Các-men bằng tiếng Nga:

- Cụ học tiếng Nga như vậy có khó khăn không?

- Người cách mạng phải biết tiếng nói của Lê-nin!

M. Giu-láp-xki, nhà văn và là nhà báo Ba Lan sang thăm Việt Nam, được gặp Bác nhiều lần. Lần gặp thứ hai của ông là một ngày thu năm 1954. Giu-láp-xki bước vào một căn nhà lợp rạ, tường quét vôi trắng. Ông chưa kịp uống nước thì Bác bước vào và chào bằng tiếng Nga. Buổi nói chuyện thân mật bắt đầu. Bác ra hiệu cho đồng chí phiên dịch không phải phiên dịch nữa, rồi ngồi nghe đồng chí phóng viên Báo “Sự thật” (Liên Xô) nói chuyện. Đôi khi Bác trả lời bằng tiếng Nga. Thỉnh thoảng Bác nói chuyện bằng tiếng Ý với phóng viên Tạp chí “Đoàn kết” (Unita), cơ quan

Trung ương Đảng Cộng sản Ý; bằng tiếng Anh với phóng viên “Công nhân” (Worker), cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Mỹ. Tất cả những người nước ngoài có mặt hôm ấy đều tỏ vẻ ngạc nhiên, khâm phục. Dường như đoán được điều đó, Bác mỉm cười nói bằng tiếng Pháp:

- Các nhà báo nước ngoài thường hay kể những chuyện phóng đại về tôi. Nhưng cũng có những chuyện đúng. Khi còn trẻ, quả thật tôi có làm bồi bếp trên tàu, có đến Mỹ, Anh, Đức. Tôi cũng đã từng sống ở Pa-ri và bắt đầu hoạt động cách mạng cùng các đồng chí Pháp. Nhiều lần tôi qua Liên Xô, Trung Quốc. Ở đâu tôi cũng được công nhân dạy cho tiếng nước của họ. Tôi sống cùng với công nhân ở Ý rồi ở cả châu Mỹ nữa…

Đới Hoàng, một nhà văn Trung Quốc, tác giả quyển hồi ký “Ghi lại những ấn tượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh” cũng nói lên những cảm tưởng tương tự. Thời gian xảy ra buổi gặp mặt trên và không gian của một địa điểm kín đáo trong rừng sâu Việt Bắc. Đó là bữa tiệc liên hoan mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Đới Hoàng có nhiều ấn tượng đẹp đẽ về Bác, trong đó có việc sử dụng tiếng nước ngoài của Bác là một “ấn tượng” sâu sắc, Bác đã dùng tiếng Nga, tiếng Pháp thăm hỏi tình hình sinh hoạt của các bạn bè quốc tế, hỏi về việc ăn uống, nhà ở, khí hậu ở rừng xứ nóng, đường sá khô ướt ra sao… Lúc nói với Đới Hoàng, Bác lại dùng tiếng Hán.

Bữa tiệc diễn ra trong không khí tưng bừng náo nhiệt. Ai cũng muốn vui chung, muốn nói lên những cảm nghĩ đang rạo rực trong lòng mình, nhưng rồi đành chịu ngồi yên vì vướng phải “hàng rào ngôn ngữ”. Dường như đoán được điều đó, Bác nói: “Nào các đồng chí, có gì cứ nói hết đi, tôi làm phiên dịch cho các đồng chí”. Bác nhắc nhở mọi người ăn, giục “cạn chén”, “không được làm khách”. Câu nào cũng nói bằng đủ các thứ tiếng Nga, Hán, Pháp.

Trong thiên hồi ký của mình, Đới Hoàng cũng khâm phục nhắc đến việc Bác thường trực tiếp đọc và dịch những tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, và dịch cuốn tiểu thuyết “Tỉnh ủy bí mật” của Liên Xô (tiếng Nga) sang tiếng Việt.

Lại nữa, có lần đoàn chuyên gia các nước anh em vào chúc Tết Bác. Vì trường hợp đặc biệt nên lần này không có phiên dịch. Thấy mọi người lúng túng, Bác mỉm cười bảo: “Thôi được, Bác sẽ dịch cho!”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói đến đâu Bác dịch đến đấy bằng các thứ tiếng Nga, Hán, Anh, Pháp. Các đồng chí chuyên gia nhìn Bác với vẻ khâm phục, trìu mến. Không khí càng thêm chan hòa, thắm tình hữu nghị anh em. Sau buổi tiếp khách, Bác bảo: Dịch không phải dễ đâu, tiếng nói là phải chính xác. Bác kể có một đồng chí phiên dịch đã dịch câu “Chúc Hồ Chủ tịch mạnh khỏe sống lâu” sang tiếng Việt là “Chúc Hồ Chủ tịch bách niên giai lão”! (câu dùng để chúc cô dâu chú rể trong các đám cưới). Tất cả mọi người có mặt đều phá lên cười vui vẻ, đồng thời ai nấy đều hết sức thấm thía những lời khuyên của Bác.

Bác thường dùng tiếng Nga để tiếp khách, nói chuyện và thường chỉ dùng một số câu, nhưng cũng có khi Bác trò chuyện khá lâu với các đồng chí Liên Xô. Hai mẩu chuyện sau đây đã chứng minh điều đó.

Tơ-ra-chi-a-cốp, thuyền phó thứ nhất tàu Giắc-gin-xki (Liên Xô) phát biểu rằng: Ngày 30-5-1957, là một ngày rất vui mừng của thủy thủ tàu này, vì đồng chí Hồ Chí Minh đã tới thăm tàu, đặc biệt là “trong cuộc nói chuyện thân mật với anh em thủy thủ, đồng chí Hồ Chí Minh luôn dùng tiếng Nga, mà không cần phiên dịch, chúng tôi rất sung sướng khi thấy Người nói tiếng Nga một cách thông thạo”.

Xéc-gây-đô-cốp, Trưởng ban thuộc Viện nghiên cứu toàn Liên bang về nghề đánh bắt cá biển và bản đồ Đại dương của Liên Xô đang công tác ở Việt Nam, đã đến gặp và trò chuyện thân mật với Bác vào một ngày gần cuối năm 1959. Trong thiên hồi ký của mình năm sau, đồng chí cảm thấy sâu sắc rằng: dù các buổi gặp gỡ có trôi qua theo năm tháng đi nữa, nhưng đồng chí vẫn nhớ rõ những chi tiết nhỏ nhất của bầu không khí vô cùng ấm cúng và thân thiết mà Người đã tạo nên.

Sáng 28-5-1957, Bác đã trực tiếp nghe được “tiếng nói của Lê-nin” khi tới thăm phòng làm việc của Người ở Điện Xmôn-ni. Bác rất chăm chú nghe bài diễn văn của Lê-nin đọc thu vào băng đĩa nhan đề: “Chính quyền Xô viết là gì?”. Những câu hỏi, những lời nhận xét của Người chứng tỏ rằng hiểu biết rất rõ, rất sâu sắc – ngay cả các vấn đề nghiên cứu khoa học về biển, đại dương”. “Đồng chí Hồ Chí Minh hỏi chuyện chúng tôi bằng tiếng Nga rất thạo”.

Tiếng nói đó cũng góp phần tăng thêm bầu không khí đoàn kết hữu nghị giữa các nước anh em. Nhà báo Úc Man-côm Xan-mơn (đã từng dạy tiếng Anh ở Hà Nội trong 3 năm), khi được tin Bác mất đã nhớ lại quang cảnh tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, diễn ra hồi 9 năm về trước. Xan-mơn thấy Bác tươi cười từ trong hội trường đi ra, hai tay quàng vai hai người đi hai bên, đó là đồng chí Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô sang dự Đại hội lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, và đồng chí Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất hoạt bát. Cụ quay sang bên này nói bằng tiếng Trung Quốc, lại quay sang bên kia nói bằng tiếng Nga. Dáng người mảnh dẻ của Cụ có sức hấp dẫn hai vị khách. Cảnh tượng đẹp đẽ ấy diễn ra ngay trong ngày bế mạc đại hội, lúc các đại biểu chia tay nhau ra về.

(Còn tiếp kỳ sau)

Nguyễn Hải Phú (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 426 

Ý Kiến bạn đọc


Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

(Tiếp Theo Số Báo 424)

Bác hồ học tiếng Anh

Qua tiếng Pháp, Bác học thêm tiếng Anh.

- Tại sao Bác đi Anh?

Bác nói là để học tiếng Anh.

Bác sang Anh có nhiều mục đích, nhưng chắc chắn cũng là để học thêm một thứ tiếng nước ngoài ở ngay trên đất nước nói thứ tiếng đó. Bác muốn học được nhanh hơn, thuận lợi hơn nên sang Anh để có một môi trường tiếng Anh tốt hơn là ở Pháp. Tất nhiên, vẫn phải vừa làm vừa học. Ngày nay đường phố Hây-ma-kit lớn rộng giữa thủ đô Luân Đôn còn chi dấu vết tiệm ăn khách sạn Các-lơ-tơn (Carlton Hotel), nơi khoảng năm 1914, Bác đã làm bếp ở đây. Khách sạn lớn nhất nước Anh hồi bấy giờ có ông vua bếp nổi tiếng là Ét-côp-phi-e được huân chương vinh dự. Cũng làm ở tiệm này có ông Nam, người đồng hương với Bác.

- Ai đưa anh đến đây, đến nước Anh?

- Tôi đến đây một mình để học tiếng Anh.

- Hay đấy, nhưng tiếng Anh rất khó học. Đã 20 năm tôi ở thành phố này mà không biết hơn, ngoài hai chữ Yes và No (vâng và không).

- Phải học chứ. Chúng ta sẽ cùng nhau học.

Trước khi đến khách sạn này Bác đã làm công việc đốt lò. “Ở đây thật đáng sợ” vì luôn luôn ở trong cảnh “tranh tối tranh sáng”, vì “trong hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét”. Không đủ quần áo nên Bác bị cảm, phải nghỉ việc luôn hai tuần. Khi Bác trả tiền thuê phòng, tiền bơ, bánh mì và tiền “sáu bài học tiếng Anh” rồi, trong túi chỉ còn vỏn vẹn có sáu hào rưỡi! Bác đã phải “thắt lưng buộc bụng” để học tiếng Anh trong hoàn cảnh khó khăn như thế đấy!

Thường ngày Bác phải làm từ 8 giờ đến 12 giờ, chiều từ 5 giờ đến 10 giờ. Phương tiện học là vài quyển sách và một cây bút chì. Sớm chiều, Bác đến ngồi ở vườn hoa Hay-đơ, nơi có nhiều cây to, cột đèn cổ xưa để học. Vườn hoa Hay-đơ (Hyde Park) là nơi mít-tinh thị uy của nhân dân lao động ở Luân Đôn. Thật là một cuộc “gặp gỡ” kỳ thú! Trước kia, Lê-nin và Crúp-skai-a cũng đã học tiếng Anh ở vườn hoa này! Có lần, khi đến thăm một lớp học, Bác nói rằng học tiếng nước ngoài phải kiên nhẫn, vượt khó, có lúc Bác phải ra vườn hoa Hay-đơ học vì “ở đấy lạnh không buồn ngủ”.

Bac-Ho-voi-Chu-tich-Wilhelm-Pieck--va-Thu-tuong-Otto-Grotewohl
Bác Hồ với Chủ tịch Wilhelm Pieck (người thứ nhất từ trái sang) và Thủ tướng Otto Grotewohl – Ảnh: W.Herbig

Quả là như vậy, một ngày Bác làm đến 9, 10 tiếng vất vả, ăn mặc thiếu thốn, tiếng Anh học đã khó lại thêm phương tiện, điều kiện chẳng có gì. Bác phải tự học, không thầy, không bạn, không trường, không lớp. Do đó, Bác phải tìm một chỗ học thuận lợi hơn, giúp thêm cho nghị lực quyết tâm và điều kiện học của mình hơn.

Ở Anh không lâu, thời gian học cũng ngắn, thế nhưng trình độ tiếng Anh của Bác chẳng thua kém gì mấy so với tiếng Hán và tiếng Pháp. Tờ báo “Phong trào”, số tháng 10-1969, Rơ-nê Đi-pép có viết rằng: Trên đường đi tìm hiểu thế giới, ở mỗi nơi tàu dừng lại, “Đối với anh Ba, đều là một trường đại học”, ở đó, anh đã trực tiếp thu lượm được những hiểu biết về sự tàn bạo của bọn tư bản. Tuy vậy, Bác vẫn cảm thấy cần phải mở rộng kiến thức của mình bằng sách vở.

Ở Luân Đôn, Bác đã làm nhiều nghề khác nhau để có tiền ăn học. Trong thời gian chiến tranh, Bác đã để thì giờ nghiên cứu lịch sử thế giới, học tiếng Anh là suy nghĩ về tương lai của các dân tộc thuộc địa.

Qua nhiều tư liệu, ta thấy Bác nói giỏi tiếng Anh, thông thạo văn hóa, lịch sử Anh, Mỹ – nhất là Mỹ. Bác đã dịch nhiều đoạn, nhiều câu rút trong báo chí Anh, Mỹ và các nước khác để đưa vào tiểu phẩm của mình. Tài liệu nói về Mỹ của Bác đã lên hàng mấy trăm bài với các thể loại khác nhau, đề cập toàn diện và sâu sắc đến nước Mỹ (Bác ký nhiều tên khác nhau).

Qua nhiều thành phố ở Mỹ như Oa-sinh-tơn, Niu Oóc, Bô-stơn… xem nhiều sách báo về Mỹ, những việc đó đã phần nào giúp Bác hiểu tường tận hơn để có những dự đoán khoa học, kết luận cách mạng thiên tài hơn. Qua nghiên cứu ta thấy Bác là nhà lý luận về chủ nghĩa thực dân nói chung cũng như về chủ nghĩa thực dân (kiểu mới) nói riêng. Chính tiếng Anh (của Bác) đã giúp nhiều cho Bác hoạt động đó. Bác đã đọc biết bao nhiêu sách tiếng Anh, nào là Uy-li-am Sếch-xpia (1564-1616), nhà viết kịch thời Phục hưng, nào là Sác-lơ Đích-ken (1812-1870), nhà văn hiện thực phê phán vĩ đại, nào là Ha-ri-ét-bít-chơ Stao (1811-1896)… cho đến đủ loại báo chí tiếng Anh như báo “Bang Oóc-lê-ăng mới”, báo tin tức hằng ngày ở Giắc-xơn… Bản thân Bác cũng là một nhà báo đã từng viết bài bằng chữ Anh. Khi cùng làm việc với Bô-rô-đin cố vấn Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Quảng Châu, Bác giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng trong đó có việc phiên dịch từ tiếng Hán sang tiếng Anh và ngược lại. Bác đã viết bài và phụ trách mục tuyên truyền cho tờ Quảng Đông ra hằng ngày, báo bằng chữ Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Đó là những ngày cuối năm 1924 và đầu năm 1925. Trong thời gian ở Hương Cảng, Bác đã làm cho hãng Thông tấn Rớt-sta (Rulcta) của Anh và đã dành dụm tiền lương để nuôi anh em, đồng chí Việt Nam hoạt động ở đây.

Bài viết chữ Anh của Bác thì nhiều lắm. Hiện nay Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng của ta còn giữ được Bản báo cáo của Bác gửi Quốc tế Cộng sản bằng chữ Anh (tháng 2-1924); Bức thư Bác gửi Quốc tế Cộng sản (tháng 12-1924), Bản “Đề nghị” (Proposition) và “Lời kêu gọi” (Appeal) bằng tiếng Anh. Đó là những văn kiện lịch sử quan trọng.

Dưới sự chủ trì của Bác, đại diện cho Quốc tế Cộng sản, Hội nghị thành lập Đảng họp vào ngày 3-2-1930 đã thông qua các văn kiện của Đảng, trong đó có “Lời kêu gọi” này của Bác. Hiện nay ta vẫn chưa sưu tầm được bản gốc bằng tiếng Việt của văn kiện, do đó bản tiếng Anh của “Lời kêu gọi” kèm theo bản báo cáo của Bác gửi cho Quốc tế Cộng sản (cũng vào dịp đó) có một ý nghĩa quan trọng đối với công việc nghiên cứu lịch sử Đảng của ta.

Tiếng Anh còn được Bác dùng nhiều trong việc giao thiệp, tiếp xúc, họp báo. Qua cuốn sách của Trần Dân Tiên, ta được biết thêm một chuyện lý thú: “Cuối năm 1944, một chiếc máy bay Mỹ lượn trên Cao Bằng và bị hỏng máy, phi công trẻ tuổi – trung úy Sao (Shaw) nhảy dù xuống một hòn núi gần tỉnh lỵ. Sao được Việt Minh cứu thoát.

Trước việc này Việt Minh đã chỉ thị cho các hội viên trong toàn quốc phải cố gắng giúp đỡ Đồng Minh. Những người Việt Minh Nam bộ đã liên lạc bí mật với nhiều lính Mỹ, Anh bị giam ở Sài Gòn, nhưng vì không hiểu tiếng của nhau nên họ không thể thảo luận và làm những việc có ích hơn… Sao rất vui sướng khi được gặp Cụ Hồ gần biên giới. Từ một tháng nay nhịn nói, Sao bây giờ có thể tha hồ nói. Sao thỉnh cầu Cụ Hồ đi với mình đến Bộ Tổng tư lệnh Không quân ở Côn Minh. Cụ Hồ vui vẻ nhận lời… Hai người chia tay sau 5 ngày đi với nhau trên đất Trung Quốc (Tất nhiên là Sao đã được 5 ngày tha hồ nói!). Bác đến Côn Minh (Vân Nam), người Mỹ gặp Bác để cảm ơn. Sau đó, Bác đi Quảng Tây và gặp tướng Sê-nô (Chennault), Tổng Tư lệnh Không quân Mỹ ở Trung Quốc. Qua nhiều ngày nói chuyện với tướng Sê-nô, với đại tá Hê-li-oen (Heliwell), với trung úy Sao… Bác nắm được nhiều tình hình. Theo Giu-lơ A-sơ trong cuốn Hồ Chí Minh – chuyện thần kỳ của Hà Nội, thì hồi ấy, “trong khi chờ đợi, Cụ đã đồng ý dịch viết và dịch nói cho “Bộ Thông tin chiến tranh Mỹ” những tài liệu quan trọng lấy được của địch (từ của phát xít Nhật).

Qua tiếp xúc với nhiều hoạt động trên, Bác nắm được rất nhiều tin tức, Bác rất chủ động. Chúng phải tin phục và kính nể Bác. Việc giúp Sao, việc đi thương lượng với phái bộ Đồng Minh (Mỹ) ở Trung Quốc, việc nhận giúp đỡ các nạn nhân của Đồng Minh thoát khỏi nanh vuốt phát xít Nhật… là để thực hiện một sách lược phong phú và linh hoạt hết sức có lợi cho cách mạng. Hồi ấy, Bác thường đến cơ quan Đồng Minh Mỹ trong một khu rừng ở Việt Bắc, nhờ thạo tiếng Anh nên nghệ thuật “tác chiến” đối ngoại của Bác càng thêm tài tình. Theo R.Sáp-lên, trong Điều bí ẩn về Cụ Hồ Chí Minh (Enigma of Ho Chi Minh) thì tháng 5-1945, một trung úy Mỹ tên Giôn nhảy dù xuống Việt Bắc với mục đích xây dựng một cơ sở giúp các cá nhân của Đồng Minh thoát khỏi vùng do phát xít Nhật chiếm đóng. Giôn đã sống và làm việc với Bác trong vài tháng. Ngay lúc đó, Bác đã chuẩn bị cho bản “Tuyên ngôn Độc lập” vẻ vang của chúng ta sau này. Bác hỏi Giôn có thể nhớ một đoạn nào của bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Mỹ không? Anh ta trả lời rằng “Tôi là một người Mỹ bình thường, tôi không thể nhớ được. Tôi có thể gọi điện đến Côn Minh và sẽ có một bản thả xuống cho tôi”. Sau này Giôn rất khâm phục Bác: “Cụ dường như thực sự biết (về bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ) hơn tôi. Thực tế là, Cụ biết hơn tôi hầu hết mọi thứ”. Mãi sau này, Giôn vẫn còn giữ hai lá thư bằng chữ Anh mà Bác đã gửi cho anh ta ở trong rừng ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh. Trong thư ấy, Bác đã dùng cả những khẩu ngữ, ví dụ Bác dùng chữ Japs (mang nghĩa xấu, có nghĩa là bọn Nhật – phát xít).

Có lần, một vị Tổng thống của một nước bạn đến thăm. Ta đón tiếp nồng nhiệt. Khách cao tuổi đi không vững. Sau khi ôm hôn, Bác dìu khách đi chậm từng bước dọc theo tấm thảm nhung đỏ. Giản dị, chân tình và khiêm nhường Bác đỡ vị khách lên bục. Khách nói tiếng Anh. Dù Bộ Ngoại giao ta có bố trí người dịch giỏi, nhưng Bác không câu nệ thủ tục ngoại giao, nhằm tranh thủ chính trị nên đã dịch sang tiếng Việt cho mọi người nghe. Không khí gần lại. Giới ngoại giao ngạc nhiên và xôn xao. Việc làm ấy, bình thường, không phải công việc của một Chủ tịch nước, nhưng đã có sức cảm hóa lớn. Người ta thấy ngay vẻ ngạc nhiên, kính cẩn của vị khách đối với “người phiên dịch” hiếu khách, quý bạn này. Ngày lên đường, trong diễn văn từ biệt, vị khách nhiều hơn Bác đến 6 tuổi và là người đứng đầu của một nước lớn này, đã kính trọng gọi Bác là “người anh cả”.

Bác nghe tiếng Anh cũng thạo. Trước cách mạng, hồi còn ở Trung Quốc, Bác đã phải nghe máy thu thanh để theo dõi tin tức quốc tế nhằm phục vụ cho công tác cách mạng. Bác kể rằng: “Việc nghe ra-đi-ô cũng không dễ, vì lần này là lần đầu tiên mó tay đến cái máy thu thanh, không biết đài nào phát, phát giờ nào và làn sóng nào. Bác thức suốt 5 đêm, vặn đi vặn lại tìm nghe. Đến khuya đêm thứ 6 mới nghe được đài Luân Đôn”.

Qua một số mẩu chuyện trên, ta thấy Bác giỏi tiếng Anh về nhiều mặt, cũng vì vậy nên không ai lấy làm ngạc nhiên khi trong thiên hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhắc đến chuyện hồi còn hoạt động bí mật ở Trung Quốc, nhiều đồng chí Trung Quốc ở Quế Dương cũ mong đồng chí Hồ Quang (một bí danh của Bác) đến công tác để dạy họ “nói tiếng Nga và tiếng Anh”.

Đồng chí Hoàng Xuân Sính (Giáo sư, Tiến sĩ Toán học) cũng nhớ lại một kỷ niệm xa xưa khi mình còn niên thiếu (khoảng 1945-1946):

Bác đến thăm trường nữ trung học ở Hà Nội. Sính đang học bài tiếng Anh thì Bác vào, theo sau là cô Hiệu trưởng. Cả lớp bật dậy vỗ tay nồng nhiệt. Bác ra hiệu cho tất cả ngồi xuống và Sính được tiếp tục đọc bài ghép vần. Giọng Sính không được bình thường vì cô bé xúc động trong niềm vui sung sướng bất ngờ. Vì thế Sính phát âm sai nhiều. Bác đến gần Sính và ôn tồn đọc lại cho nghe những câu trong bài. Sính chăm chú đọc theo Bác, nhưng cảm động nên vẫn đọc sai. Bác kiên trì chữa lại cho từng câu. Hơi nghiêng người về phía Sính, hai tay đưa lên cổ vũ khích lệ, Bác nói dịu dàng: “Cháu đọc thế này mới đúng”.

(Còn tiếp kỳ sau)

Nguyễn Hải Phú (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 425

Ý Kiến bạn đọc


Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

(Tiếp theo số báo 423)

Bác hồ với tiếng pháp

Năm 1923, nhà thơ Xô Viết Ô-xíp Man-đen-xtam gặp Bác. Bác nói với nhà thơ: “Vào trạc mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe những từ tiếng Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái… Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn náu sau những từ ấy”, “Nhưng trong những trường hợp cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng không cho chúng tôi xem sách báo. Không phải chúng chỉ không cho đọc các nhà văn mới mà cả Rút-sô và Mông-tét-xki-ơ nữa cũng bị cấm”. “Vậy thì phải làm thế nào bây giờ?”. Bác kết luận: “Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”.

Dù mới tiếp xúc với “Tây học”, với nền văn hóa tư sản và hệ tư tưởng tư sản, nhưng qua những đoạn dẫn trên đây ta thấy Bác đã có cái nhìn sắc bén khác với những người bình thường. Cụ Sắc luôn dạy các con phải “biết mình biết người”. Vì thấm nhuần điều “biết mình biết người, trăm trận đánh, trăm trận thắng”, nên Bác muốn đến tận sào huyệt của chúng (đến các chính quốc Pháp, Anh…) để tìm hiểu “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Việc du học bị nghiêm cấm. Thế nhưng, Bác vẫn kiên quyết ra đi với hai bàn tay trắng và một vốn tiếng Pháp ít ỏi học được trong nhà trường.

Bac-Ho-viet-bao-nam-1951
Bác Hồ viết báo năm 1951. Nguồn: .thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn

Mùa hè năm 1911, Bác đặt chân lên đất Pháp. Tiếng Pháp là một “trở ngại” trong bước đi đầu tiên cứu nước, cứu dân của Bác. Bác hiểu ngay rằng mình phải giao thiệp bằng tiếng Pháp để làm ăn sinh sống, để học tập và hoạt động cách mạng. Nhờ động cơ học tập đúng đắn và mạnh mẽ đó nên Bác đã nhanh chóng tìm ra được nhiều cách học thông minh, sáng tạo. Ngay trên chuyến tàu sang Pháp, Bác đã tranh thủ lúc rỗi để học đọc và viết tiếng Pháp với hai người lính trẻ được giải ngũ trở về Pháp. Họ cho Bác mượn những quyển sách nho nhỏ bằng tiếng Pháp. Khi đến thành phố Lơ Ha-vơ-rơ, Bác học tiếng với cô Sen. Tóm lại, những người chung quanh dạy Bác học. Muốn biết một vật nào đó tiếng Pháp gọi là gì, Bác chỉ vật đó rồi hỏi, xong viết vào mảnh giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất, để vừa làm vừa học được. Có khi viết chữ vào cánh tay. Tối đi làm về, Bác rửa tay rồi lại viết các chữ khác. Học được chữ nào, Bác ghép câu ngay. Giăng Long-ghê, cháu ngoại Các Mác, là chủ nhiệm báo “Dân chúng”, cơ quan của Đảng Xã hội Pháp (hồi ấy Đảng Cộng sản Pháp chưa thành lập), đã khuyến khích Bác viết về Việt Nam. Nhưng bấy giờ Bác chưa giỏi tiếng Pháp. Muốn viết gì Bác phải nhờ luật sư Phan Văn Trường. Ông là một nhà trí thức yêu nước, đậu Tiến sĩ Luật khoa ở Pa-ri, nhưng ông không muốn ký tên ở dưới và không viết hết điều mà Bác muốn nói, Bác rất khó chịu vì mình kém tiếng Pháp. Bác nghĩ: Muốn tuyên truyền cho nước ta, nhưng không viết được chữ Pháp. Làm thế nào bây giờ? Nhất định phải học viết cho kỳ được. Bác làm quen với chủ bút tờ báo “Đời sống thợ thuyền”. Bác ngỏ ý muốn viết bài nhưng ngại vì tiếng Pháp còn kém. Chủ bút bảo: “Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài cho anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài, năm sáu dòng cũng được”. Viết xong bài, Bác chép thành hai bản, một bản giữ lại. Lần sung sướng nhất trong đời viết văn, làm báo của Bác là bài đầu tiên được đăng trên tờ “Đời sống thợ thuyền”. Năm ấy là năm 1917, Bác đã so lại xem đúng sai chỗ nào, tòa báo sửa cho như thế nào. Sau này, khi thấy đã bớt sai, ông chủ bút lại bảo: “Bây giờ anh viết dài một tý, viết độ bảy tám dòng”. Rồi cứ thế, Bác viết được cả một bài báo, có khi dài hơn. Lúc ấy, người chủ bút (là bạn thân của Bác) lại bảo viết ngắn lại. Rút ngắn cũng khó như kéo dài. Nhờ kiên trì rèn luyện nên Bác đã thành công.

Lần sung sướng thứ hai là khi mẩu chuyện về Pa-ri của Bác được dùng.

Thường thì suốt ngày làm việc, Bác đọc vài trang tiểu thuyết để trau dồi tiếng Pháp và giải trí một chút. Thấy Tôn-xtôi viết giản dị, rõ ràng Bác rất thích và cũng viết một vài phóng sự về khu phố công nhân nghèo khổ nơi Bác ở. Sáng nào cũng viết từ năm đến sáu giờ rưỡi. Bảy giờ phải đi làm. Khi viết lúc trời rét buốt, ngón tay tê cóng. Sau một tuần cặm cụi, Bác hoàn thành tác phẩm đầu tiên của mình. Bác nói với các đồng chí trong Ban văn học tòa soạn báo “Nhân đạo” rằng: “Tôi rất sung sướng nếu bài viết này của tôi được đăng, tùy các đồng chí đăng hay không đăng, nhưng dù thế nào thì cũng xin các đồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho tôi…”.

Cho đến năm 1945, trong đời làm báo, viết văn của Bác có ba lần sung sướng. Hai lần được đăng báo bài viết bằng tiếng Pháp. Lần sung sướng thứ ba là lần bản “Tuyên ngôn Độc lập”, vì đó là một trang vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1922, tờ “Người cùng khổ” (Le Paria) ra đời. Bác làm chủ bút kiêm chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo, việc nào cũng đòi hỏi dùng nhiều tiếng Pháp. Bác kể lại: “Các đồng chí người thuộc địa Á Phi viết bài, quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình bao hết”. Trụ sở đầu tiên của Bác ở số nhà 16 phố Giắc Ca-lô, sau chuyển sang nhà số 3 phố Mác-sê đê Pa-tri-ác-sơ ở quận 6, là một nhà cổ xưa ở Pa-ri. Nơi đây, Bác làm việc để ra báo và cũng chính là trụ sở của “Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa”. Bác là một trong những người có sáng kiến ra tờ báo của hội này. Báo ra cả thảy được 36 số. Khổ lớn, tên báo bằng chữ Pháp đặt ở giữa, chữ Ả Rập đặt bên trái và chữ Hán bên phải, do Bác viết. Báo này không có ban biên tập làm việc thường xuyên, vì ai nấy phải làm việc, sinh sống hoặc bận làm công việc khác. Vì vậy, Bác nhiều lần được tập thể giao công việc sửa chữa bài vở và bán báo. Luật sư Mác Clanh-vin Blông-cua, người đảo Guy-a-đo-lúp, trong những người tham gia tờ báo, nhận xét rằng: “Anh Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp rất nhiều cho tờ báo, anh viết khỏe, có số viết tới hai, ba bài, lời văn anh sắc bén, tư tưởng anh rõ ràng và mạnh mẽ”, “Xem và đọc những bài và tranh đó, người ta thấy rõ tác giả có một tinh thần tiến công rất chủ động và rất thông minh”.

Người ta thường nhắc đến những bài của Bác trên tờ “Người cùng khổ” với một lòng xúc động mến phục: nào là bài “Động vật học” với giọng văn rất Pháp, đả kích sâu sắc bọn thực dân; “Vĩnh biệt vị vua chúa” mỉa Khải Định lúc hắn sang dự đấu xảo ở Pháp; “Con rùa” nói lên sự tham nhũng tàn bạo của một tên quan Pháp ở Việt Nam; “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” mang tính chất một bài bút ký viễn tưởng; “Hands off China”… Có kỳ như số ra ngày 1-8-1922, có đến ba bài viết và một bức vẽ của Bác.

Ngoài tờ “Người cùng khổ”, Bác còn viết cho nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp. Ví dụ, trên tờ “Nhân đạo”, chúng ta thấy “Vấn đề bản xứ”; “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”; “Con người biết mùi hun khói”; “Vi hành”. Riêng bài “Vi hành” (Incognito) đăng ngày 19-2-1923, tác giả nói đây là trích những bức thư gửi cô em họ do tác giả tự dịch bằng tiếng Nam (tiếng Việt), nhưng chúng ta có cơ sở để đoán là truyện này ngay từ đầu đã được viết bằng tiếng Pháp.

Về sách của Bác, chúng ta chú ý đến quyển: Bản án chế độ thực dân Pháp. Đây là tác phẩm kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, nó nêu ra những việc thật, người thật, dùng thuật “Gậy ông đập lưng ông” (trích lời người Pháp viết để làm tang chứng). Sách được viết bằng hình thức tiểu phẩm, là thiên phóng sự điều tra mở đầu cho một nền văn học mới ở Việt Nam. Là văn kiện lịch sử, nó cũng là tác phẩm văn học lớn bằng tiếng nước ngoài trong văn học sử Việt Nam.

Bác dùng tiếng Pháp rất linh hoạt. Trong quãng đời 10 năm ở Pháp, Bác đã diễn thuyết, nói chuyện, phát biểu ở nhiều nơi. Nhưng đáng chú ý nhất là lời phát biểu của Bác ở Đại hội Tua (năm 1920) và “Bản tham luận về dân tộc thuộc địa” ở Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 (năm 1924). Hai lần phát biểu bằng tiếng Pháp đó chứng tỏ nhãn quang sáng suốt và sâu sắc về chính trị cùng tài năng tiếng nước ngoài của Bác, dường như Bác muốn nói gì, diễn tả như thế nào thì tiếng Pháp lúc đó đủ để phục vụ cho câu đó. (Ở Liên Xô còn giữ được bản ghi lời phát biểu bằng tiếng Pháp của Bác ở Đại hội Cộng sản Quốc tế lần thứ 5 và Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã chụp lại được bản ấy). Sau này, khi trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác vẫn còn dùng tiếng Pháp ở nhiều nơi, nhiều lúc, rất có hiệu quả.

Tháng 5-1946, Bác chủ động nói chuyện với một số lính Pháp đóng quanh thành Hà Nội. Lúc ấy, quan hệ giữa ta và thực dân Pháp khá căng thẳng. Nhiều đồng chí đã đi theo và bảo vệ Bác. Tướng Xa-lăng giở đủ ngón này ngón nọ ra với ý đồ “tác động tinh thần”. Thật đúng là Bác đang đi vào hang hùm miệng rắn vậy. Thế nhưng, Bác vẫn thản nhiên, ung dung dùng tiếng Pháp điêu luyện “rất Pháp” của mình để nói về tình yêu quê hương đất nước, về sự giải phóng nước Pháp khỏi phát xít Đức, về nguyện vọng và ý chí của dân tộc Việt Nam là giành cho được độc lập, tự do… Lính Pháp vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Xa-lăng bị một cú bất ngờ, hắn sợ nguy cơ phản chiến nên hốt hoảng vội mời Bác nghỉ với lý do là “sợ Chủ tịch mệt” (!?).

Vài ngày sau, Bác sang Pháp, nhiều người lo cho Bác vì bấy giờ đã có một máy bay Pháp chở một vị lãnh tụ ở Trung Đông đâm vào núi. Thế nhưng, “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, lại cũng vì tin tưởng ở Đảng Cộng sản và các lực lượng cách mạng ở Pháp nên Bác vẫn ra đi. Mấy tháng ở Pháp, Bác đã làm chấn động dư luận Pháp và thế giới, hết sức có lợi cho cách mạng. Có nhiều câu chuyện, ở đây chỉ xin nêu ra một mẩu chuyện có liên quan tới việc sử dụng tiếng nước ngoài của Bác.

Trong một buổi họp báo của Bác ở Pa-ri, có gần 100 phóng viên các nước đến dự. Một nhà báo tò mò hỏi:

- Thưa Ngài Chủ tịch, Ngài là Cộng sản phải không?

- Phải – Chủ tịch Hồ Chí Minh điềm đạm trả lời.

- Ngài đã tham gia phong trào kháng chiến?

- Đã tham gia.

- Bao lâu?

- Gần 40 năm.

- Hình như Ngài đã từng ở tù?

- Ở các nhà tù khác nhau.

- Có lâu không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh mỉm cười, nhìn thẳng vào mặt nhà báo tò mò. Chủ tịch nói:

- Ở trong tù thời gian bao giờ cũng lâu cả.

Trả lời đơn giản và bất ngờ. Đó là sự chế nhạo kín đáo hay là ý muốn ngắt lời nhà báo thiếu lễ độ nọ? Có một điều rất rõ, người Pháp, người Anh, người Mỹ đã hiểu được rằng con người có chòm râu nhọn ấy có thể mỉm cười ở Pa-ri, Luân Đôn cũng như ở Hà Nội. Đó là nụ cười của một nhà tiên tri biết mở rộng biên giới của hiện tại.

Câu chuyện dưới đây do Giáo sư Trần Hữu Tước, Anh hùng lao động, Viện trưởng Viện Tai – Mũi – Họng Việt Nam kể lại:

Trong thời gian đàm phán ở Pháp, hoạt động của Bác thật phong phú. Bác đọc nhiều báo và các bài nói về Việt Nam để nghiên cứu. Bác còn đi nghe hòa nhạc, xem vũ ba-lê, tham quan cơ sở bảo tàng… Sau khi ký tạm ước vào nửa đêm 14-9-1946, Bác cùng vài người nữa về nước trên một chiến hạm dài trên 100 mét của Pháp. Lúc qua vịnh Cam Ranh để về Hải Phòng, Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ lúc ấy thay mặt chính phủ Pháp ở Đông Dương điện ra xin gặp, cho nên tàu ghé vào Vịnh. Thì ra chúng bố trí rầm rộ. Hai thủy phi cơ bay lượn quanh chiến hạm 7 tầng lính thủy của Đắc. Đắc kéo hết các loại cờ, giương hết các nòng pháo. Bác chỉ đi với mỗi giáo sư Trần Hữu Tước lên tàu. Đối phó như vậy thật hiệu quả ngay. Khi ra cửa tàu đón, Đắc đã phải nói ngay với giọng cáo già: “Thưa Chủ tịch, đến tuổi tôi, tôi lại được học rằng, đi với thầy thuốc là… thượng sách!”. Bác chỉ mặc giản dị, thái độ thản nhiên, đường hoàng với phong cách người chủ ở đây, còn sự lòe loẹt của chúng trở nên xa lạ, ngượng ngùng. Tiệc trên chiến hạm là một cuộc đấu trí. Để lưu ý xỏ xiên rằng Bác đang ngồi giữa hai tướng Pháp lừng danh (tức bị “đóng khung” kẹp chặt), giữa một bên là Đô đốc thủy quân Thái Bình Dương, một bên là Thống soái lục quân Viễn Đông, Đắc Giăng-li-ơ lưỡi dẻo quẹo, vừa cười nói: “Monsieur le président, vous voi la bién encadre par I’Armeé et la Marine!” (Chủ tịch thật bị “đóng khung” giữa lục quân và hải quân đó!). Hắn cố nói kiểu nhát gừng, tách riêng và nhấn mạnh những tiếng “bién encadre” (thật bị đóng khung). Nói xong, Đắc dương dương tự đắc cùng đồng bọn cười khoái chí vì câu nói hiểm hóc đó. Nhưng rồi chúng cũng ngồi lịm đi khi Bác mỉm cười, ung dung trả lời ngay: “Mais, vous savez, Monsieur I’Amiral, c’est le tableau qui fait la valeur du cadre!” (Nhưng mà Đô đốc biết đấy, chính bức họa mới đem lại giá trị cho chiếc khung!). Hồi tưởng lại, câu nói của Bác có ý nghĩa như một tiên tri: Pháp thua nhưng “vinh dự là thua Việt Nam”. Trong bữa tiệc, còn có nhiều câu trả lời ý nhị bằng thứ tiếng Pháp đúng giọng và điêu luyện của Bác ứng đối với bọn thực dân. Cuối cùng chúng thấy thật là đau nên phải thôi cái trò chơi chữ ấy. Nhiều câu chuyện của Bác hồi đó nay đã trở thành giai thoại diệu kỳ.

(Còn tiếp)

Nguyễn Hải Phú (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 424

Ý Kiến bạn đọc


Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

Các Mác, Ăng-ghen, Lê-nin – những lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới đều là những người giỏi nhiều ngoại ngữ.

Mác biết thành thạo nhiều ngoại ngữ, “đã đọc hầu hết các sách quan trọng của thời đại mình”, đọc được tài liệu bằng tất cả các thứ tiếng châu Âu, còn tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh đều viết rất giỏi.

Ăng-ghen biết đến 21 thứ tiếng trong đó có cả những tiếng cổ như tiếng Pháp cổ, tiếng Tây Ban Nha cổ.

Mác và Ăng-ghen khi trên 50 tuổi, do yêu cầu phải nghiên cứu những vấn đề về nước Nga mà hai ông đã học thêm tiếng Nga. Chỉ trong thời gian ngắn, hai ông đã đọc được nhiều tài liệu và tác phẩm văn học từ nguyên gốc Nga.

Ben-suoi-Le-Nin-ngoai-hang-Pac-Bo
Bên suối Lê Nin, ngoài hang Pác Bó. Tại bàn đá này Bác đã dịch cuốn Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô làm tài liệu cho chúng tôi học tập…
(Vũ Anh – Đầu nguồn – NXB VH 1977) – Ảnh: caobang.gov.vn

Còn Lê-nin thì biết thành thạo, đọc và dịch được tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp, đọc được tiếng Ba Lan và tiếng Ý.

Các ông đều là những tấm gương lớn về trau dồi ngoại ngữ, công cụ giao tiếp quan trọng nhất của nhân loại.

Bác Hồ của chúng ta cũng là tấm gương học tập tiếng nước ngoài thành công trong điều kiện vô cùng gian khổ và thiếu thốn.

Hoàn cảnh có khác nhau nhưng các ông đều có chung một mục đích đấu tranh cách mạng giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột; vì một xã hội văn minh, vì tình hữu nghị lâu dài giữa các dân tộc. Các ông đều giống nhau ở ý chí tự học không bao giờ ngừng.

Dưới đây là những câu chuyện về tấm gương Bác Hồ học tập và sử dụng tiếng nước ngoài.

Bác hồ với tiếng hán cổ và hiện đại

Tháng 9-1942, Bác có việc sang Trung Quốc, thì bị bọn Quốc dân đảng bắt. Chúng trói, giải đi suốt 18 nhà tù, từ trại giam này đến trại giam khác, chúng đưa Bác về giam ở Liễu Châu. Đấy không phải là một trại giam chính cống, mà chỉ là một “cấm bế thất”, một phòng giam nhỏ hẹp ngay bên cạnh đội cảnh vệ của tướng Trương Phát Khuê. Chỉ một mình Bác bị nhốt ở đó. Lâu lâu mới có một vài sĩ quan Quốc dân đảng bị phạt vào đó năm bảy ngày. Bác lợi dụng những dịp đó để học tiếng “quan”. Trong thời gian 14 tháng bị giam cầm ở Quảng Tây, Bác đã viết Nhật ký trong tù. Cuốn sổ nhật ký đó to bằng bàn tay, dày 47 trang. Trên trang đầu ghi 4 chữ Hán Ngục trung nhật ký, kèm theo 4 câu thơ và hình vẽ người tù hai cổ tay bị xích. Nhật ký gồm hơn 100 bài thơ chữ Hán bất hủ. Với Bác, đó chỉ là một việc làm bằng tay trái, là một sản phẩm bất đắc dĩ vì “trong ngục tối biết làm chi đây”, nhưng lại là một tác phẩm nổi tiếng trên thế giới. Năm 1960, Nhật ký trong tù được chính thức ra mắt bạn đọc trong và ngoài nước. Mấy chục năm qua, tập thơ được in lại nhiều lần ở trong nước, trên thế giới, nó được dịch ra nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức…Ở Mỹ, ngày 11-8-1971, một nhà xuất bản chuyên ấn hành loại sách phổ cập đã đặt in 50 vạn cuốn Nhật ký trong tù. Một tập thơ được xuất bản số lượng lớn như vậy là điều chưa từng thấy ở Mỹ. Nhiều chiến sĩ đấu tranh chống xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, bị giam trong các nhà tù của Mỹ, cũng đã thuộc lòng một số bài thơ của Bác. Chẳng phải bây giờ người ta mới thuộc mà trước khi chúng ta xuất bản rộng rãi tập thơ đó, một số đồng chí Trung Quốc đã nhớ nhiều bài trong tập thơ này.

Quách Mạt Nhược, nhà học giả nổi tiếng của Trung Quốc, nhận xét:

“… Có một số thơ rất hay, nếu xếp chung vào tập thơ Đường, Tống, e rằng cũng không dễ gì nhận ra”. Theo Lỗ Tấn, thơ theo kiểu cổ, đến nay phần nhiều mất hết sức sống, “tất cả những bài thơ hay đến đời Đường đã làm hết rồi” thì đủ thấy trình độ Hán học cũng như thi tài của Bác uyên thâm xuất sắc đến mức nào rồi.

Ngoài Nhật ký trong tù, Bác còn làm nhiều thơ bằng chữ Hán, Bác xen vào nhiều bạch thoại, có khi sửa lại câu thơ xưa cho hợp với hiện thực ngày nay. Điều đó chứng tỏ Bác nhớ nhiều và nhớ lâu văn chương cổ điển của Việt Nam, Trung Quốc và vận dụng độc đáo, sáng tạo, linh hoạt trong tác phẩm của mình. Và cũng như trong nhật ký, ngòi bút của Bác chẳng bao giờ ngừng nghỉ, dù là viết chữ Hán đòi hỏi trí nhớ cao. Có thể nói là Bác đã “xuất khẩu thành thơ”. Mẫu chuyện nhỏ sau đây chứng tỏ điều đó.

Sau khi kết thúc cuộc đi thăm 10 nước Cộng hòa Xô viết, 19 thành phố và thủ đô trong một tháng trời, sáng ngày 1-8-1959, Bác sang thăm Trung Quốc. Trên máy bay, Bác thanh thản đọc sách và ngắm cảnh. Khi bay qua biển cát, đến núi Thiên San thấy phong cảnh nên thơ, Bác đã làm ngay một bài tứ tuyệt như sau:

Vọng Thiên San

Dao vọng Thiên San phong cảnh hảo
Tử hà bạch tuyết bảo thanh san
Triệu dương sơ xuất xích như hỏa
Vạn đạo hồng quang chiếu thế gian.

Trông núi Thiên San

Xa xa trông núi Thiên San, phong cảnh đẹp
Ráng tía, tuyết trắng ôm lấyngọn núi xanh
Mặt trời buổi sáng ló ra đỏ rực như lửa
Muôn tía ánh hồng soi khắp thế gian.

Bài thơ đã được Bác tạm dịch như sau:

Xa trông cảnh đẹp núi Thiên San
Ráng đỏ vây quanh tuyết trắng ngàn
Sáng dậy mặt trời như lửa tía
Muôn hào quang đỏ, chiếu nhân gian.

Bác đã dịch, biên dịch hoặc biên soạn được biết bao nhiêu tư liệu quý báu nhằm phục vụ kịp thời cho cách mạng. Sau 30 năm trời xa đất nước, Bác lại trở về. Trong chiếc va li mây của Bác (hiện trưng bày ở Viện Bảo tàng Cách mạng) chỉ vỏn vẹn có mấy thứ, trong đó có quyển Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô bằng tiếng Hán, Bác lược dịch quyển này làm tài liệu huấn luyện cán bộ. Trên chiếc bàn đá gần suối Lê-nin, dưới vòm dương xỉ xanh, ngày ngày Bác ngồi cặm cụi dịch quyển này và từ đấy Tức cảnh Pác Bó ra đời:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Bác còn lược dịch những điểm cơ bản trong tư tưởng chiến lược, chiến thuật quân sự của Tôn Tử, nhà quân sự nổi tiếng 2000 năm trước đây của Trung Quốc, nhằm bồi dưỡng kiến thức quân sự cho mọi người. Và thế là quyển Phép dùng binh của Tôn Tử (Binh thư Tôn Tử) ra đời. Quyển này do Việt Minh xuất bản vào tháng 2-1945, nhưng nó đã được dịch từ trước đó khá lâu.

Bác còn biên soạn quyển Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh. Quyển này có đề ở ngoài bìa: “Hồ Chí Minh biên dịch và bình luận”, nói về tiêu chuẩn đức tài, tư cách đạo đức và phép dùng binh cơ bản của một người tướng. Khổng Minh là nhà quân sự nổi tiếng thời Tam Quốc.

Về nghe và nói, Bác cũng thành thạo, cho nên ứng đối tài tình với kẻ địch, khiến chúng bối rối. Tiếng Hán (dù là xưa hay nay) ở trong tay Bác đã trở thành một công cụ lợi hại, với kẻ thù là một vũ khí sắc bén “quất vào mặt chúng những làn roi cháy bỏng”, như có người nước ngoài đã nhận xét, nhưng với bạn bè, anh em thì đó lại là phương tiện mầu nhiệm, là chiếc cầu hữu nghị để hiểu nhau hơn, cảm thông với nhau hơn, phục vụ nhiều hơn cho sự nghiệp chung của cách mạng.

(Còn tiếp)

Nguyễn Hải Phú (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 423

Ý Kiến bạn đọc