Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với nhà khoa học Đặng Văn Ngữ

Chúng ta cần nhiều thuốc để chữa cho thương binh, chú nên cố gắng.

Giáo sư dược sĩ Đặng Văn Ngữ nhận được lời chỉ bảo ấy của Hồ Chủ tịch khi ông vừa lên chiến khu Việt Bắc.

Ông sinh năm 1910 tại Thừa Thiên – Huế, tốt nghiệp bác sĩ năm 1937 tại Đại học Y khoa Đông Dương (Hà Nội) rồi được ở lại trường, làm trợ lý cho vị giáo sư (người Pháp) Galia (Henry Galliard) là Chủ nhiệm giảng dạy bộ môn Ký sinh trùng. Năm 1942, Đặng Văn Ngữ làm Trưởng phòng Ký sinh trùng của nhà trường. Năm 1943, ông du học tại Nhật Bản. Khi đó Chiến tranh thế giới lần thứ hai đang diễn ra dữ dội rồi phe Phát-xít bị Đồng minh đánh bại. Chiến trận không diễn ra trên đất Nhật nhưng khi sự thắng thua đã phân định thì Mỹ cho ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, khiến hai thành phố ấy thành tro bụi, 160.000 người chết ngay sau lúc bom nổ, và để lại hậu quả nặng nề, dài lâu cho đất nước và nhân dân Nhật. Chuyện ấy Đặng Văn Ngữ biết rất rõ. Còn ở nước nhà, Cách mạng Tháng 8 đã thành công nhưng rồi Pháp trở lại mong tái chiếm Đông Dương mà họ càng đánh càng thua và Mỹ đang tìm cách để can thiệp sâu vào cuộc chiến.

Theo tiếng gọi của Tổ quốc, năm 1949, nhà bào chế thuốc kháng sinh Đặng Văn Ngữ về nước, làm việc một thời gian tại Liên khu IV rồi lên Việt Bắc.

Những người đầu tiên mà ông được gặp tại “Chiến khu gió ngàn” là Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Giám đốc Đại học Y – Dược Hồ Đắc Di, Thứ trưởng Bộ Y tế bác sĩ Tôn Thất Tùng… Sau vài câu chuyện hàn huyên, Đặng Văn Ngữ trình bày ý kiến là muốn điều chế Penicilin (Pénicilline) ở thể bột và nói lên sự lo ngại của mình, rằng ở Việt Bắc lúc bấy giờ không có dụng cụ, máy móc để làm thứ thuốc kháng sinh mạnh ở dạng ấy. Bác sĩ Tôn Thất Tùng nói:

- Ở đây không có nhiều tiện nghi như tại Liên khu IV nhưng anh sẽ nhận được sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chính phủ, lại có tập thể chúng tôi và nhân dân giúp đỡ, nếu cố gắng hết sức chắc anh sẽ thành công.

So-509--Bac-ho-voi-nha-khoa-hoc-Dang-Van-Ngu
GS. Đặng Văn Ngữ giới thiệu với Bác Hồ về công việc của bộ môn Ký sinh trùng (Đại học Y – Dược)
(nguồn: tiasang.com.vn).

Lại thêm hai ngày đường trèo đèo lội suối, nhà bào chế Đặng Văn Ngữ theo giáo sư Huyên và bác sĩ Tùng bước đến một ngôi nhà sàn rộng. Còn quen với phong thái ở bên Nhật, vả trời Việt Bắc buổi ấy cũng đã lạnh nên ông có thắt chiếc cà vạt. Tới nơi, thấy đã có khoảng 14, 15 người ngồi quanh bếp lửa chuyện trò với nhau trông vui vẻ và cẩn trọng. Qua lời giới thiệu, ông Ngữ biết đó là các vị Bộ và Thứ trưởng trong Chính phủ. Một lúc sau thì Hồ Chủ tịch đến. Tất cả cùng niềm nỡ, đứng dậy chào. Chủ tịch ân cần, bắt tay lần lượt. Lúc đứng trước giáo sư Ngữ, Người chỉ vào chiếc cà vạt, vừa cười vừa nói:

- A, chú Ngữ đã đến, không cần phải giới thiệu, nhìn cái cà vạt ở cổ thì biết ngay là người mới ở ngoại quốc về.

Câu nói đó làm cho không khí buổi gặp thêm ấm cúng, hòa hợp. Rồi Người cho tất cả xem tập ảnh do Đoàn đại biểu ta đi dự Liên hoan văn nghệ quốc tế ở Vácsava mang về tặng. Qua chuyện trò, ông Ngữ tự thấy không còn bối rối, lo sợ như mình đã tưởng tượng mà có ngay tại đây bầu không khí thân mật, trong đó mình như một đứa con đi xa lâu ngày, nay trở về và được gặp lại người cha yêu quý. Mà có được cái không khí ấy là bởi sự bình dị, hòa hợp lạ thường của vị Chủ tịch nước.

Sau bữa cơm trưa, giáo sư lại được gặp riêng Người và được nghe lời chỉ bảo:

- Ở các mặt trận đang cần nhiều thuốc để chữa cho thương binh, ta phải cố gắng giúp vào việc đó. Nghe nói chú biết làm Penicilin, lên đây chắc chú đã có dự định.

- Dạ có!

Nhà bào chế đáp lời như vậy rồi lấy từ trong túi, trình lên Người một bản kế hoạch đã có sự tham gia ý kiến của bác sĩ Tùng và bác sĩ Di. Trong đó ông đề nghị thành lập cơ quan nghiên cứu Trung ương và các phòng ở địa phương mà ở những nơi cơ sở ấy chủ yếu là huấn luyện việc làm nước lọc cho các trạm phẫu thuật tiền tuyến. Nghe trình bày xong, Cụ Hồ tỏ ý vui lòng và bảo:

- Ta nên chú trọng phần huấn luyện cán bộ để có nhiều y tá với những thứ thuốc cần thiết đi phục vụ ngay ở các mặt trận. Các phòng nghiên cứu cũng cần thiết nhưng chú sẽ có thì giờ làm sau.

Nhà bào chế thấy lời Người chỉ bảo là rất phải, rồi trình bày với ý đã nhận ra sự khẩn thiết là mình phải sản xuất được Penicilin dạng bột, đồng thời đào tạo sẵn đội ngũ làm nước lọc để khi có thuốc thì kịp đưa ra các mặt trận. Cả việc sản xuất chai lọ, nếu làm được chai dạng bẹt thì càng tốt.

Cụ Hồ lắng nghe, suy nghĩ một lát rồi cho mời các ông: Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Quốc Việt (Chủ tịch Tổng Công đoàn), Vũ Văn Cẩn (Cục trưởng Cục Quân y) và ông Lê Văn Hiến (Bộ trưởng Bộ Tài chính) tới. Người đề nghị các vị ấy giúp đỡ để việc làm của giáo sư Ngữ sớm có hiệu quả.

Cuối cùng, Người lưu ý giáo sư là phải hiểu thêm về môi trường, khí hậu của nước mình ở vùng chiến khu này để làm cho tốt công việc bào chế.

Sự quan tâm đó đặt trách nhiệm cho giáo sư Ngữ là phải nhanh chóng điều chế được Penicilin để cung ứng cho các trạm quân y tiền phương. Nhưng với hoàn cảnh ở Việt Bắc, nếu có chế được Penicilin bột thì số lượng sản xuất ra trong một tháng có thể cũng chỉ đủ để chữa cho một vài thương binh, vả mình cũng chỉ làm ra được thứ bột màu vàng, cho nên phải điều chế ra thứ ở dạng nước, gọi là nước lọc Penicilin.

Về đến nơi làm việc của mình, mở gói nấm dành để làm Penicilin ra xem lại thì thấy nấm không còn công hiệu nữa. Những thứ nấm khác, là tạp chất đã lẫn lộn vào các con giống của mình.

Không dùng được nữa chăng các con nấm mà giáo sư Ngữ đã mất bao nhiêu công đưa từ Nhật, qua Băng Cốc, về nước, dừng lại ở Khu Tư rồi đưa lên đây! Mà trước khi đi họp để gặp Cụ Hồ ông đã cẩn trọng để chúng vào chỗ sạch, nơi phòng mổ của bác sĩ Tôn Thất Tùng. Hỏi các đồng nghiệp thì biết, môi trường không khí ở xứ sở ta dễ có nhiều tạp nấm lắm nên không điều chế được Penicilin. Ngay ở Viện Pasteur, nơi có đủ phương tiện là vậy mà tại đó, các nhà điều chế người Pháp cũng không nuôi nổi thứ nấm ấy.

Nhưng Hồ Chủ tịch, Chính phủ, anh em thương binh ngoài mặt trận đang trông đợi Penicilin từng giờ! Giáo sư Ngữ nghĩ như vậy rồi không ngừng trăn trở, cố tìm cách làm sạch nấm của mình.

Thế rồi, việc làm nấm để chế ra nước lọc Penicilin cứ không ngừng đeo đuổi, khiến ông không đêm nào ngủ thẳng giấc, luôn ra sức mằn mò, cố gắng hết sức trong việc tìm cách khử các vi trùng là tạp chất ra khỏi nấm của mình. Nhưng cố gắng rất cao mà ông chưa thấy có kết quả, nên lại điều chỉnh cách thức làm. Rồi một hôm thức dậy từ 3 giờ sáng, lấy nấm ra xem thì giáo sư bỗng trào nước mắt bởi nhận ra, tất cả các con nấm mình đang nuôi đều có công hiệu, không còn một con vi trùng nào mọc lên được. Bấy giờ giáo sư mới hiểu về lý do thất bại vừa rồi của mình. Vì cái tủ ấm mà giáo sư dùng trước đó chỉ là một chiếc thùng sắt đốt với ngọn đèn dầu không đủ nhiệt nên sức kháng cự vi trùng của nấm chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn, sau đó chúng mọc mạnh dần lên thì nấm Penicilin không chống lại để phát triển được nữa. Nhận ra như vậy, giáo sư hiểu là nấm của mình chưa hoàn toàn mất. Ông đã nắm được quy luật tác dụng chống vi trùng của nấm. Cứ điều chỉnh lại cách tủ ấm thì nhất định sẽ loại trừ được các tạp chất ra khỏi nấm Penicilin của mình. Giáo sư nghĩ như vậy nên đã thực hiện rồi theo dõi nấm mọc từng giờ trong mỗi đêm, từng ngày. Sau một tuần lễ thực nghiệm, điều chỉnh, ông đã có được giống nấm tốt trở lại, mạnh như cũ. Ông mừng rỡ, sung sướng vô cùng vì như thế là sẽ mau chóng có nước lọc Penicilin tốt để cung cấp cho các nơi, trước tiên là những trạm Quân y tiền phương như Cụ Hồ và các chiến sĩ bị thương đang mong chờ.

Bấy giờ giáo sư lo huấn luyện đội ngũ những người nuôi và cấy nấm Penicilin. Cục Quân y gửi sang 20 người để được đào tạo về công việc ấy. Trong đó có một số là sinh viên Dược khoa như anh Tiến, anh Thiều. Thầy trò họ lại đã phát hiện ra một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rất dễ tìm là nước lấy từ thân cây ngô. Họ có thể xin các gia đình nông dân sau khi họ đã thu hoạch xong các bắp của loại cây ấy. Bấy giờ bên Tổng Liên đoàn Lao động và Cục Quân y sau một thời gian mò mẫm vất vả, họ cũng đã sản xuất ra được thứ chai dẹt để bảo vệ thuốc được an toàn hơn.

Tiếp đó, ta mở chiến dịch, từ Nghĩa Lộ và Yên Bái, nhiều bộ đội không may bị trúng đạn của địch, phải chuyển về các trạm Quân y tiền phương. Có nhiều trường hợp, với vết thương như thế, trước kia là bị cắt bỏ thì nay, nhờ chữa bằng nước lọc Penicilin mà đã mau lành lại được. Các bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Hữu Cánh đã xác nhận: “Thứ nước lọc Penicilin do tập thể của giáo sư Ngữ điều chế ra đem chữa các vết thương, nó có công hiệu hơn hẳn so với thuốc Sulfamid”.

Đinh ninh về lời căn dặn của Hồ Chủ tịch và cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, giáo sư Đặng Văn Ngữ tiếp tục nỗ lực trau dồi và ngày một nâng cao hơn kỹ thuật điều chế thuốc Penicilin. Theo Quyết định của Chủ tịch nước, năm 1955, ông sáng lập ra Viện Sốt rét – Ký sinh trùng của Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng.

Năm 1967, không may giáo sư Đặng Văn Ngữ đã hy sinh trong một trận Mỹ ném bom xuống chiến trường Thừa Thiên – Huế khi đang cứu chữa và tìm cách phòng ngừa căn bệnh sốt rét của nhân dân và bộ đội ở vùng ấy.

Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh lần thứ nhất về lĩnh vực Y – Dược học.

Tên của ông được đặt cho một số con đường tại Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh.

Chu Trọng Huyến
(TP. Vinh – tỉnh Nghệ An)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 509

Ý Kiến bạn đọc