Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với Giáo sư Trần Hữu Tước

GS. Trần Hữu Tước là một trong những vị giáo sư đầu ngành của nền y học Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1913 tại làng Bạch Mai, xã Hoàng Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Tốt nghiệp trung học phổ thông, ông được học bổng sang Pháp học. Tại Pháp, thi đỗ vào Trường Đại học Y khoa Paris, bảo vệ luận án bác sĩ xuất sắc năm 1940, ông được giữ lại trường làm bác sĩ Tai – Mũi – Họng (TMH) giỏi có tín nhiệm ở Pháp.

Trong 10 năm, 1936 – 1946, ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về TMH trên các tạp chí chuyên ngành ở Pháp, có công trình được đưa vào bách khoa toàn thư y học Pháp. Ông cũng là một trong những người đầu tiên mổ điếc theo phương pháp Lempert ở Paris.

Năm 1946, do thiết tha mong muốn được đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, bác sĩ Trần Hữu Tước tình nguyện trở về nước phục vụ Tổ quốc. Ngày 16-9-1946, sau khi Hội nghị Fontainebleau thất bại, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Paris, đi tàu hỏa xuống quân cảng Toulon, trở về nước trên chiếc thông báo hạm Dumont d’Urville của hải quân Pháp. Cùng về với Bác Hồ, có một số trí thức Việt kiều yêu nước: Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quý Huân…

Ngay từ tháng 11-1946, vừa mới về tới Hà Nội, ông đã bắt tay xây dựng chuyên ngành TMH của Trường Đại học Y Hà Nội, do GS. Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Ông chứng kiến những ngày đầu toàn quốc kháng chiến nổ ra tại Hà Nội, tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn Thủ đô, và ghi lại thiên bút ký rất chân thật và cảm động nhan đề “Thủ đô kháng chiến”.

Rời Thủ đô, chỉ mang theo 30 ký dụng cụ y tế, BS. Trần Hữu Tước đi tham gia cuộc kháng chiến 3.000 ngày, lúc ở liên khu III, liên khu IV, khi ở Việt Bắc, đi đầu xây dựng nền móng cho ngành TMH ở nước ta.

Năm 1946, khi từ Paris về tới Hà Nội, bác sĩ nặng 75 ký, đến năm 1951 chỉ còn nặng 42 ký vì bị bệnh đường ruột rất nặng! Năm 1949, cấp trên có ý đưa ông bí mật vào Hà Nội chữa bệnh một thời gian, nhưng ông kiên quyết từ chối. “Có ra sao thì cũng ở trên mảnh đất tư do, thật chưa bao giờ tâm hồn thảnh thơi như vậy, chỉ hơi chút bực vì mình bị bệnh, chưa làm được gì như ý muốn”, BS. Trần Hữu Tước ghi lại. Cũng năm đó, Pháp thành lập “chính phủ quốc gia” ở vùng tạm chiếm đưa Nguyễn Văn Tâm lên làm “thủ tướng”. Ông này có con là Nguyễn Văn Hinh, thiếu tướng “quân đội quốc gia”, có quen với BS. Trần Hữu Tước hồi còn ở Pháp, tìm cách cho người đến Thanh Hóa liên lạc, mời bác sĩ trở về thành “phục vụ quốc gia”, nhưng ông kiên quyết từ chối.

GS-BS. Võ Tấn người học trò của BS. Trần Hữu Tước năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến bị kẹt lại Hà Nội, xúc động tự hỏi: Không biết cách mạng có gì cao quý, hấp dẫn làm cho một đại trí thức như BS. Trần Hữu Tước đam mê đến mức thà hy sinh mạng sống, chứ không chịu rời bỏ cách mạng! Từ đó, BS. Tấn âm thầm tìm hiểu mục tiêu lớn lao của cách mạng, cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ, người có ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn con đường đi của BS. Tước.

So-505--Bac-Ho-voi-Giao-su-Tran-Huu-Tuoc
Bác Hồ nói chuyện với GS. Trần Hữu Tước và các đại biểu trí thức là đại biểu Quốc hội – 1964.
(nguồn: tonghoiyhoc.vn)

Sau trận Điện Biên Phủ, rồi Hiệp nghị Geneva, ở Hà Nội, chính quyền thân Pháp ra sức lôi kéo trí thức vào Nam. Một số bác sĩ dao động, khi gặp nhau, câu hỏi cửa miệng của họ là: “Cậu đi hay ở lại?”. Có người trả lời ngay: “Tước, nó còn ở được, tại sao chúng mình không ở được?”.

Ý nói, BS. Tước sống sung sướng bên Pháp như thế, mà còn chịu gian khổ được, thì tại sao chúng ta lại không bằng anh ấy? Và thế là nhiều bác sĩ ở lại Hà Nội, và sau đó họ đã góp phần xứng đáng vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ.

GS. Võ Tấn viết tiếp: “Nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta thấy Bác Hồ có con mắt thật tinh tường, biết đánh giá thực chất con người (…). Thời trai trẻ, GS. Trần Hữu Tước có bề ngoài hào nhoáng của một trang phong lưu công tử rất sành ăn diện, nhưng bên trong lại ấp ủ một trái tim yêu nước nồng nàn, dám bỏ hết những thứ xa hoa phù phiếm, quyết chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, cống hiến trọn đời cho nhân dân, không so đo tính toán thiệt hơn cho cá nhân mình.

GS. Trần Hữu Tước xứng đáng là người Anh, người Thầy của chúng tôi và còn là một tấm gương trong sáng cho thế hệ mai sau noi theo”.

GS. Võ Tấn cũng như giới y học của nước ta, thì GS. Trần Hữu Tước chính là vị sư tổ của chuyên khoa TMH hiện đại ở Việt Nam, tuy rằng trước đó ở ngoài Bắc đã có GS. Đỗ Xuân Hợp và trong Nam có BS. Cao Văn Trí, BS. Cao Văn Lộc chuyên điều trị các bệnh TMH, nhưng các vị ấy không làm công tác đào tạo, không xây dựng mạng lưới điều trị.

Kể từ ngày đầu về nước cùng Bác Hồ mùa thu 1946, bắt đầu giảng dạy ở Trường Y cho đến khi qua đời, GS. Trần Hữu Tước đã đào tạo hơn 500 bác sĩ, y sĩ chuyên khoa TMH, trong số đó nhiều người về sau đã trở thành phó giáo sư, giáo sư.

Sau đó, những học trò ưu tú của GS. Tước lại đào tạo thêm 1.000 thầy thuốc TMH nữa. Ông cũng đã cùng học trò đông đảo xây dựng mạng lưới điều trị TMH trong cả nước, đến cấp quận huyện, phường xã. Ông đúng với danh hiệu “Lương y như từ mẫu”.

Sau khi quân Pháp thất bại nặng trong cuộc tiến công chiến khu Việt Bắc cuối năm 1947, đội y tế thầy Tước đi vào huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Thầy Tước cùng thầy Hoàng Đình Cầu, Đặng Vũ Hỷ… xây dựng Trường Y sĩ liên khu III, IV ở thôn Giáp, bên ngọn núi Nưa. Những lớp đầu tiên đào tạo chuyên khoa TMH mở ra từ đây. Thầy Tước đã cứu nhiều bệnh nhân về TMH ở nơi thầy công tác.

GS. Trần Hữu Tước là người gắn bó với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày Bác ở Paris và trên tàu binh của Pháp hành trình trở về nước. Ông kể lại những ngày gần Bác ở Paris cũng như khi đi dạo vườn hoa với Bác ở thủ phủ Kandy, Ceylan (nay là Sri Lanka): “Làm thế nào để đồng bào có đủ cơm ăn, áo mặc; các cháu bé không bị toét mắt, bụng ỏng, chân còng, tò lò mũi xanh, cháu nào cũng được đi học”.

Trân trọng giới thiệu sau đây một đoạn trích trong thiên hồi ký dài của GS. Trần Hữu Tước kể lại sự săn sóc nghĩa nặng tình sâu của Bác Hồ dành cho ông trong những ngày bị bệnh giày vò: “Mấy lần Trung ương và Bác điện vào Thanh Hóa, giục tôi lên Việt Bắc để ra nước ngoài điều trị. Khó nghĩ làm sao! Đi thế nào từ Nông Cống lên châu Tự Do (tức huyện Sơn Dương, Tuyên Quang hiện nay). Lại điện nữa, giục đi. Thôi, quyết ra đi, dù khó nhọc nhưng mấy năm nay rồi chưa gặp Bác, có lẽ là dịp hiếm có, nên thu xếp để đi. Đi bộ, mỗi ngày 5 – 6 cây số, chỉ đi buổi sớm hay chiều vì suốt ngày Pháp cho máy bay bắn phá các đường giao thông chính. Kể cũng ung dung, tranh thủ mệt thì nghỉ, khỏe lên tý chút thì lại đi. Nhiều quãng đường thật đẹp, hấp dẫn, nên thơ.

Dốc Đoan Hùng sao mà cao và trơn thế! Đã đến Việt Bắc, sắp sửa được gặp Bác. Bao nhiêu vất vả, đường trường gần như giảm nhẹ. Bắt đầu đi vào những con đường rậm rạp, quanh co, khó có thể tưởng tượng được, ngoặt trái, rẽ phải, lại đi chếch, lội suối, rồi trèo đèo… Một chặng rừng âm u!

Một cái máy bay “Bà Già” vè vè trên đầu, đang thòng móc xuống để tìm phá đường dây điện thoại của ta. Rồi một máy bay khu trục “Nhả Lửa” đột nhiên xuất hiện, nhào xuống xả một băng đạn. Cứ nấp vào một gốc cây to và theo dõi. Chúng quay lại, thì ta chạy quanh gốc cây cổ thụ. Chán rồi, chúng bỏ đi. Ta lại thủng thẳng lần bước.

Vào ATK, một buổi chiều. Một ngôi nhà tre nứa, nhưng khá đàng hoàng, bên bờ suối, ẩn hiện dưới tàng cây vài ba chục thước cao! Từ mấy năm nay, chưa bao giờ nhìn thấy một căn nhà cao ráo, thoáng rộng như vậy. Cái giường tre nứa cũng dài rộng, đơn sơ nhưng ra vẻ khang trang. Trên mặt bàn vuông lát nứa, thấy có mấy chai rượu vang trắng, đỏ, lại có cả rượu mạnh, cùng một số đồ hộp chiến lợi phẩm Bác gửi sang cho.

Đêm hôm đó, tuy như xong một cuộc hành trình kéo dài gần một tháng rưỡi, thấm mệt, nhưng không sao ngủ ngay được, trằn trọc với biết bao cảm xúc và suy nghĩ. Chắc Bác cũng ở gần đâu đây, có lẽ ngày hôm sau sẽ được gặp. Trời đã về khuya, nước suối chảy ngay bên, rì rào trong thanh vắng, và như to dần về sáng…

Rừng bao phủ xung quanh, tạt rào cơn gió sớm đột nhiên thủ thỉ thù thì như trò chuyện riêng tư dưới tán rừng Việt Bắc. Tôi vừa bước vào một khoảng sân nhỏ, thì Bác đã nhanh nhẹn từ trong một cái nhà gần đấy đi ra! Chắc Bác ngạc nhiên lắm khi thấy tôi nay chỉ còn đôi mắt kính cận gọng đen, với một cái cổ dài lêu nghêu, chân tay da bọc xương trong bộ quần áo nâu rộng!

Bác giơ tay bắt, mà còn ôm lấy! Phút khó quên và đôi chút nghẹn ngào. Bác bớt gầy hơn mùa đông năm 1946, và rất nhanh, mạnh. Vẫn đôi mắt sáng chói, dịu hiền, nhưng râu tóc đã thoáng nhiều sợi bạc. Giọng ấm áp, ân cần, Bác hỏi kỹ về bệnh tật, về công tác phát triển chuyên khoa TMH. Bác đùa, nếu làm tốt thì TMH sẽ là Thế Mà Hay, nếu làm kém, thì lại Thế Mà Hỏng!

- Nhưng thôi – Bác nói – Chú cứ yên tâm đi chữa cho khỏi bệnh, rồi lúc trở về, sẽ cố lo cho … Thế Mà Hay!

Những ngày nằm chờ thu xếp, làm thủ tục xuất cảnh và chuẩn bị phương tiện để ra đi, thật thanh thản! Đọc một số báo chí trong và ngoài nước, vài cuốn sách ngoại văn.

Anh Tô một buổi tối mời tôi đến ăn cơm, nhưng chỉ nói chuyện được một lúc, sau cơn đau dội lên, ôm bụng đi về, không sao ngồi ăn được nữa.

Chiều hôm đó, từ trong rừng Việt Bắc, còn ánh mặt trời trên đầu ngọn cây, lại ra đi lần nữa… Sau bao nhiêu năm, lại nhìn thấy chiếc xe Jeep nhỏ ở giữa rừng âm u, cây cỏ um tùm. Sắp lên xe để ngồi cạnh anh lái xe, bỗng nghe vang lại tiếng ngựa phi nhịp nhàng đang phi nước đại…

Trời! Bác đến tiễn tôi đi Trung Quốc chữa bệnh!

Cũng có lẽ Bác thấy tôi gầy còm như vậy, chắc gì có ngày gặp lại, nên Bác đến. Cảm động nghẹn ngào!

Bác trao cho tôi phong thư do chính tay Bác viết bằng chữ Hán để chuyển cho một cán bộ đại diện Chính phủ ta ở nước bạn. Bác dặn tôi chớ nói mình là thầy thuốc và ân cần khuyên luôn cố gắng yên tâm chữa bệnh.

Thấy tôi dô cả xương mà chỗ ngồi, chỗ tựa, ghế xe Jeep rất cứng, Bác gọi lấy hai cái gối cỏ để chèn cho khỏi xóc đường trường. Rồi thấy đầu tôi dễ sa vào khung sắt nơi mui xe, Bác lấy ngay cái mũ vàng của Bác chụp lên đầu tôi, và lần nữa Bác dặn phải chú ý!

Xe chuyển bánh. Bác đứng một lúc, vẫy tay theo. Rồi Bác nhảy lên ngựa. Lúc ngoái đầu lại, tôi chỉ còn thoáng thấy bóng con ngựa hồng trong ánh chiều tỏa rạng. Và trên lưng con ngựa đang phóng, Bác gò cương phi về phía trước, tóc bạc tung bay ra phía sau, trong trùng điệp của núi rừng Tổ quốc thiêng liêng. Đó là một cảnh đẹp tuyệt vời! Bác phi ngựa hồng trong chiều tà Việt Bắc như một ảo ảnh huyền bí nhiều lần hiện lên trong óc tôi trước khi chìm vào giấc ngủ, thuốc mê, trong ca mổ cắt một đoạn ruột tại Hiệp Hòa y viện ở thủ đô Bắc Kinh.

Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh…”.

GS. Hoàng Gia Tử, Giám đốc y viện, trực tiếp mổ cho BS. Trần Hữu Tước, cắt bỏ khối u cùng một đoạn ruột. Sau đó, chỗ nối vẫn gây cho ông nhiều cơn đau quặn ruột, và phải trở lại y viện này điều trị lần thứ hai.

Sau khi mổ cắt khối u ở Bắc Kinh, sức khỏe khá hơn nhiều, ông trở về Việt Bắc, bắt tay xây dựng Bệnh khoa TMH trung ương giữa rừng sâu, thế mà vẫn khang trang, với khu điều trị 60 giường và 4 ghế khám, có nhà ăn liền ngay bờ suối. Chỉ tre nứa lá, nhưng cũng đủ bàn ghế, giá sách, giường ngủ, phòng khách, phòng họp, nhà bếp, lò sưởi…

Bệnh khoa vừa là nơi chữa bệnh cho cán bộ, bộ đội và nhân dân, vừa là chỗ cho sinh viên Trường Y đến kiến tập, thực hành. Bệnh khoa mở ở Ghềnh Quýt, bên bờ sông Lô, không xa Lang Quán, huyện Yên Sơn, nơi Trường Y đóng. BS Trần Hữu Tước ghi lại: “Cả gia đình Tai – Mũi – Họng sum vầy ấm cúng. Đêm đêm lửa reo sáng rực, thơm nức mùi sắn nướng. Thi thoảng Bác Hồ lại gửi cho mấy quả trứng gà hay một ít rau cải xoong Bác trồng bên bờ suối gần nhà Bác”.

“Kháng chiến có kéo dài đến bao năm nữa, cũng chẳng sao!”.

Sau năm 1954, trở về Hà Nội, BS. Trần Hữu Tước làm Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai (từ 1958 đến 1969) và Phó Chủ tịch Hội Y học Việt Nam tới năm 1983, tới khi GS từ trần (Chủ tịch Hội Y học là GS. Hồ Đắc Di).

GS. Trần Hữu Tước đã lâm bệnh và tạ thế ngày 23-10-1983, thọ 71 tuổi.

Nguyễn Xuân Ba (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 505

—————————
Chú thích:
BS. Trần Hữu Tước được phong GS – Anh hùng lao động. Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (Chủ tịch Lê Đức Anh ký quyết định số 991 ngày 10 tháng 9 năm 1996). Riêng lĩnh vực Khoa học y – dược có 13 người gồm: GS. Hồ Đắc Di, GS. Nguyễn Văn Hưởng, GS. Đặng Vũ Hỷ, BS. Phạm Ngọc Thạch, GS. Tôn Thất Tùng, GS. Đỗ Xuân Hợp, GS. Đặng Văn Ngữ, GS. Đặng Văn Chung, GS. Trần Hữu Tước, GS. Nguyễn Xuân Nguyên, GS. Trương Công Quyền, GS.TS. Đỗ Tất Lợi, BS. Hoàng Tích Minh.

Ý Kiến bạn đọc