Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với Giáo sư Nguyễn Văn Huyên

GS.TS Nguyễn Văn Huyên sinh ngày 16-11-1908 tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội, nguyên quán tại xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Cha ông là công chức nhỏ cho chính quyền thuộc địa Pháp và mất khi ông mới 8 tuổi, mẹ làm nội trợ. Chị gái ông là Nguyễn Thị Mão (sau này là vợ Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại), tốt nghiệp khóa 1924 – 1927 Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, là nữ giáo viên đầu tiên của Việt Nam. Bà dạy toán nhiều năm tại Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Trường Trưng Vương, Hà Nội ngày nay), hưởng lương theo ngạch Tây nên rất cao, nhờ vậy mới có tiền giúp hai em trai du học.

Năm 18 tuổi, ông và người em trai là Nguyễn Văn Hưởng sang Pháp du học. Ông học Tú tài rồi Cử nhân Văn khoa năm 1929, Cử nhân Luật năm 1931 tại Trường Đại học Sorbonne, Paris. Trong thời gian nghiên cứu Tiến sĩ ở Pháp, ông dạy học tại Trường Ngôn ngữ Đông Phương. Năm 1934, ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Đại học Sorbonne. Luận án của ông được xếp hạng xuất sắc và được Hội đồng giám khảo đánh giá là “một sự kiện đáng nhớ” trong lịch sử nhà trường.

Năm 1936, ông về nước, khước từ làm quan, dạy học tại Trường Bưởi (Trường Bảo hộ), Ban Tú tài bản xứ. Năm 1936, ông kết hôn với tiểu thư Kim Ngọc, con gái Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định. Năm 1938, ông tham gia Hội truyền bá chữ quốc ngữ và chuyển sang Trường Viễn Đông Bác cổ với chức danh Ủy viên thường trực. Năm 1941, ông là Ủy viên Hội đồng nghiên cứu khoa học Đông Dương. Năm 1938, ông giúp thành lập bộ môn Lịch sử văn minh Việt Nam tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Ông tham gia các hoạt động của Đảng Xã hội Việt Nam.

Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông là một trong những người đại diện trí thức Thủ đô cùng với Ngụy Như Kon Tum, Nguyễn Xiển, Hồ Hữu Tường ký bức điện yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị, nhường quyền kiểm soát đất nước cho nhân dân qua Chính phủ Cách mạng. Ông vô cùng sung sướng, vì ông cho rằng Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã giải phóng cho dân tộc một cách kỳ diệu và ông đã hòa nhập rất nhanh vào dòng thác cách mạng lúc bấy giờ. Ông phát biểu trong các buổi mít tinh của sinh viên và thanh niên học sinh ở Đông Dương học xá là nhiều người trí thức chúng tôi đều đồng thanh ủng hộ Việt Minh. Ông nói lên những cảm xúc của mình khi đứng tại quảng trường Ba Đình lịch sử nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. “Không phải đến lúc đó tôi mới nghe mấy tiếng “Độc lập, Tự do”, nhưng cũng chỉ từ phút đó tôi mới càng thấm thía ý nghĩa sâu sắc của hai từ đó”.

So-511--Bac-Ho-voi-Giao-su-Nguyen-Van-Huyen
GS. Nguyễn Văn Huyên (thứ 2 từ trái sang) tháp tùng Bác Hồ đến thăm 1 lớp học phổ thông ở Hà Nội.
(nguồn: www.nguyenvanhuyen.org.vn)

Ông được cử làm Giám đốc Đại học Vụ, Bộ Quốc gia Giáo dục kiêm Giám đốc Viện Bác cổ.

Cuối tháng 8-1945, Bác Hồ mời ông Huyên và ông Ngụy Như Kon Tum lên gặp Bác. Trong buổi gặp này, Bác Hồ nêu vấn đề dạy tiếng Việt trong các trường. Bác nói rõ đó là nhu cầu cấp bách và là nguyện vọng thiết tha của quần chúng.

Bác căn dặn: “Phải tiến hành nhanh chóng nhưng thận trọng, dựa vào khả năng mọi người cũng như thầy trò để làm. Không phiêu lưu mà cũng tránh dè dặt. Có khó khăn phải kiên trì mà thuyết phục, thì dù khó khăn đến mấy cũng thành”.

Bác còn chỉ thị nhanh chóng mở trường đại học của nước ta.

GS. Nguyễn Văn Huyên và ông Ngụy Như Kon Tum đã tích cực thực hiện chỉ thị của Bác Hồ.

Tạp chí Tiền Phong số 2, ngày 1-2-1945, đăng một tin quan trọng: Trường đại học khai giảng. “Sáng ngày 15-11-1945, tại Hà Nội đã làm lễ khai giảng trường đại học. Tới dự có Hồ Chủ tịch, nhiều quan khách Trung Hoa và nhân viên Chính phủ. Ông Nguyễn Văn Huyên, Giám đốc Đại học Vụ, đọc diễn văn khai mạc. Ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nói về các nhiệm vụ của trường đại học lúc này. Sau cùng là cuộc phát bằng cho các bác sĩ tân khoa, những bằng cấp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.

Trong diễn văn khai mạc, GS. Nguyễn Văn Huyên nhấn mạnh: “… buổi lễ hôm nay, anh em giáo sư và sinh viên chúng tôi muốn là một dịp để tỏ cho thế giới biết trong giờ phút nghiêm trọng của tiền đồ Tổ quốc này, dân tộc Việt Nam ngoài công cuộc đấu tranh bằng xương máu trên chiến địa cũng nỗ lực tham gia vào công cuộc tiến triển văn hóa của nhân loại. Chúng tôi muốn rằng nền đại học mới này là một lực lượng mạnh trong những lực lượng chiến đấu của dân tộc Việt Nam”.

Hồ Chủ tịch đã lựa chọn, cử ông tham gia đoàn đại biểu Chính phủ ta đàm phán với đoàn đại biểu Chính phủ Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô vào tháng 7, 8 năm 1946.

Hôm Bác và đoàn đại biểu của nước ta lên đường đi Pháp, Bác ngạc nhiên thấy đồng chí Phạm Văn Đồng bế một cháu bé gái nhỏ khoảng 4 tuổi. Bác rất vui khi biết cháu là con của GS. Nguyễn Văn Huyên. Bác đón lấy cháu và bế cháu một lát. Bác hỏi biết tên cháu là Hiếu (chính là con thứ ba của Giáo sư, họ tên đầy đủ là Nguyễn Kim Nữ Hiếu). Bác ước mong mang lại hạnh phúc cho các cháu nhi đồng trong đó có bé Hiếu, con của GS. Nguyễn Văn Huyên.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, khi chưa đầy 10 tuổi, cháu Hiếu bị ốm liệt giường vì bệnh lao xương. Bác biết tin đã cho người tìm thuốc và cao hổ đưa cho “chú Huyên” chạy chữa cho bé Hiếu. Mỗi lần họp Hội đồng Chính phủ, Bác lại hỏi thăm “chú Huyên” về cháu Hiếu.

Bác Hồ biết tin cháu Hiếu sắp lên đường sang Trung Quốc học, Bác nhờ chú Huyên mang về cho Hiếu một hộp sữa và một miếng vải kaki màu vàng. GS. Huyên nói với vợ: “Bác Hồ gửi cho Hiếu sữa, vải. Bác bảo em may áo cho Hiếu đi học bên Trung Quốc”.

Tháng 11-1946, GS. Nguyễn Văn Huyên nhận được tấm danh thiếp của Hồ Chủ tịch mời lên gặp. Trong lần này, Bác giao cho GS. Nguyễn Văn Huyên đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Ông Huyên băn khoăn thưa với Bác là chưa tham gia công tác cách mạng bao giờ. Bác Hồ đã ân cần động viên: “Chú cứ làm đi rồi sẽ làm được, khó Bác giúp, nghiên cứu cùng làm, quyết tâm là được”.

Lời động viên thân ái ấy của Bác Hồ là nguồn sức mạnh to lớn giúp Giáo sư đem hết tâm trí ra góp phần xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục của nước ta.

Trong những năm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, mọi khó khăn về vật chất đều được khắc phục, nhưng một số khó khăn về tinh thần không ít lần làm ông Nguyễn Văn Huyên nản chí. Trong công tác, vì là trí thức không phải đảng viên cộng sản nên ông gặp nhiều trở ngại trên cương vị quản lý, một số người có chức trách còn tỏ thái độ phân biệt đối xử. Nhiều người cho rằng phải là đảng viên mới có thể lãnh đạo quần chúng. Nghe được những điều này, ông đã rất trăn trở và đi đến quyết định… xin thôi giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Lý do của ông là vì… chưa phải là đảng viên nên có thể gặp khó khăn trong chỉ đạo công tác ngành, xin để người khác giữ chức quan trọng này.

Ông gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh xin thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục để làm công tác chuyên môn. Nhận được lá đơn ấy, ngay lập tức Hồ Chủ tịch đã gặp ông, ân cần giải thích và khuyên ông cứ tiếp tục công việc: “Chú đã làm việc rất tốt, điều đó chứng tỏ không phải cứ là đảng viên thì mới làm việc hiệu quả. Vấn đề cốt yếu là có tư tưởng yêu nước, thương dân, có phương pháp làm việc đúng, nhiệt tình và công tác tích cực thì sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chú có đủ những yếu tố đó, vì vậy, Bác khuyên chú cứ tiếp tục giữ trọng trách mà Chính phủ giao. Đây cũng là chú làm việc vì dân, vì nước”. Người nhấn mạnh: “Không cốt là đảng viên cộng sản hay không đảng viên, mà cốt là làm việc có tốt hay kém, có hiệu quả hay không có hiệu quả, điều đó mới quan trọng”. Nghe lời Hồ Chủ tịch, ông vẫn tiếp tục đảm trách chức vụ Bộ trưởng. Sau đó, Hồ Chủ tịch đã cho gọi một số đảng viên lãnh đạo ngành Giáo dục đến gặp Người nhắc nhở, phê bình họ về một bài học vỡ lòng mà Mác đã dạy: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng viên chỉ là một số ít, người ngoài Đảng thì hàng triệu, hàng chục triệu, đoàn kết với nhau mới đưa cách mạng đến thắng lợi”.

GS. Nguyễn Văn Huyên đã giữ chức vụ này từ tháng 11-1946 cho đến khi ông mất, tháng 10-1975, vừa đúng 29 năm, dù không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Phụ tá cho ông các thời kỳ có các Thứ trưởng: Nguyễn Khánh Toàn, Võ Thuần Nho (em trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp), Hồ Trúc, Lê Liêm.

29 năm hoạt động gắn bó với sự nghiệp giáo dục, GS. Nguyễn Văn Huyên đã có nhiều đóng góp to lớn, được Nhà nước ghi công, nhân dân ghi nhớ, các thế hệ các nhà giáo và các nhà khoa học khâm phục, noi gương và tiếp nối sự nghiệp của ông. 

Chẳng những vậy, Giáo sư còn đặt nền móng cho ngành nghiên cứu Văn hóa Việt Nam. Từ năm 1944, GS. Nguyễn Văn Huyên đã cho ra mắt công trình “Văn minh Việt Nam”. Những luận điểm của công trình “Văn minh Việt Nam” cho đến ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó.

Ông được giới chuyên môn Việt Nam đánh giá là người đã cùng học giả Đào Duy Anh đặt nền móng cho nghiên cứu văn hóa văn minh Việt Nam. Các nghiên cứu của ông khẳng định người Việt Nam có tín ngưỡng của riêng mình thể hiện qua việc thờ thành hoàng như Phù Đổng, Tản Viên, Chử Đồng Tử. Thông qua các nghiên cứu với phương pháp và cách tiếp cận khoa học của Nguyễn Văn Huyên về văn học dân gian, lễ hội truyền thống, kiến trúc, địa lý, lịch sử, cấu trúc giai tầng trong xã hội, người ta có thể nhận thấy tinh thần, tâm lý dân tộc Việt Nam. Nhà sử học Trần Quốc Vượng đã viết: “Ông là một nhà khoa học nhân văn lớn và hiện đại đầu tiên ở nửa thế kỷ đầu thế kỷ XX này”… “Giới nghiên cứu trẻ/già hôm nay còn được học và phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể vừa tổng thể”.

Có một chi tiết rất quan trọng mà ít người được biết là năm 1960, khi đó tròn 30 năm thành lập Đảng Lao động Việt Nam, Đảng có chủ trương kết nạp “lớp đảng viên 6 tháng Giêng”. Chi bộ Văn phòng cơ quan Bộ Giáo dục nhất trí kết nạp Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đảng ủy cơ quan Bộ Giáo dục và Đảng ủy Dân chính Trung ương đồng ý. Nhưng GS. Nguyễn Văn Huyên là Bộ trưởng, một trí thức lớn nên phải xin ý kiến Ban Bí thư và Bác Hồ.

Biết được tin này, Bác chỉ thị cho ông: “Chú cần đứng ngoài Đảng để giữ chức Bộ trưởng Giáo dục trong Chính phủ. Đó là yêu cầu của Đảng. Đất nước chưa thống nhất, Đảng cần người như chú”.

Do đó, cho đến khi ông mất, ông vẫn là một trí thức ngoài Đảng, nhưng là một trí thức lớn, giàu lòng yêu nước, rất mực trung thành với lý tưởng cao đẹp của dân tộc, của Bác Hồ. PGS.TS Nguyễn Văn Huy (con trai út của cố GS. Nguyễn Văn Huyên) đánh giá quyết định của Bác Hồ có ý nghĩa rất quan trọng. Đất nước chia cắt hai miền, rất cần người trong Đảng, ngoài Đảng, các đảng phái khác cùng tham gia Chính quyền để thành một mặt trận thống nhất, đoàn kết cả nước”. Gần đây ông Huy và một số ít người mới được biết vào thời điểm đó Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về việc này. Trong đó có quyết định không kết nạp một số trí thức cao cấp không thuộc đảng phái nào, để “ở ngoài có lợi hơn”.

Mang danh phận ở ngoài Đảng, nhưng trong mọi sinh hoạt của Đảng, chi bộ, Đảng bộ, Đảng Đoàn ông đều được mời tham dự. Đại hội Đảng toàn quốc, ông là đại biểu mời. Có nghĩa ông chẳng khác nào đảng viên của Đảng, chỉ khác biệt không tham gia biểu quyết. Chính do sự “bí ẩn” này, nhiều năm sau các con của ông dù đi bộ đội, phấn đấu nhiều năm nhưng chưa thể vào Đảng.

“Vì họ thấy trong gia đình tôi không có ai là đảng viên, thành phần giai cấp lại rất đặc biệt” – Ông Huy lý giải.

Nhưng đó cũng không phải chuyện bất biến. Năm 1972, ông Huy công tác tại Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Khi cân nhắc kết nạp ông vào Đảng, tổ chức đã cẩn thận đến Bộ Giáo dục hỏi rõ chuyện Bộ trưởng ngoài Đảng của cha ông và được giải thích rõ việc này.

Hai chị gái của ông sau đó cũng lần lượt trở thành đảng viên Cộng sản Việt Nam.

Năm 1975, sau 30 năm cách mạng thành công, nhân kỷ niệm 85 năm ngày sinh của Bác Hồ, GS. Nguyễn Văn Huyên viết bài đăng trên báo Tổ Quốc (đó cũng là bài viết cuối cùng của GS. Nguyễn Văn Huyên trước lúc đi xa).

“Trong gần 30 năm phục vụ sự nghiệp xây dựng ngành Giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng, vinh dự lớn nhất cũng là hạnh phúc lớn nhất đối với tôi và đó cũng là vinh dự lớn nhất đối với tất cả những người làm công tác Giáo dục là được sự quan tâm của Bác Hồ, một sự quan tâm thường xuyên, liên tục, cụ thể, một sự quan tâm hết sức đặc biệt”.

Cũng năm 1975, ngày 3-2. Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đã viết thư gửi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có đoạn:

“Ngành Giáo dục chúng tôi, trong những ngày vui mừng này, càng ngẫm nghĩ càng thấy ơn sâu của Bác Hồ vĩ đại và các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã luôn luôn chỉ dắt, uốn nắn, xây dựng cho nhà trường đi đúng đường lối của Đảng.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay vô cùng xúc động tỏ lòng biết ơn sâu sắc các đồng chí lãnh đạo Đảng đã giúp đỡ, giáo dục bản thân phát huy phần nhỏ bé của mình trong hàng ngũ nhà giáo đông đảo và ngày càng vững chắc. Từ một thanh niên, trước Cách mạng chỉ có tham vọng cho mình một vị trí trong một nền khoa học dân tộc, được Bác Hồ và Đảng tin cậy, thương yêu dìu dắt vào một con đường cách mạng vĩ đại của dân tộc, suốt 30 năm, tôi được vinh dự phấn đấu trong ngành Giáo dục từ chỗ “chia chữ” với đồng bào như Bác Hồ trìu mến dạy tôi cho đến nhà trường phát triển vững mạnh như ngày nay dưới lá cờ vinh quang của Đảng…”.

Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 2 (năm 2000) về Khoa học xã hội và Nhân văn; huân chương Độc lập hạng nhất. Tên của ông được đặt cho một số trường học và một con đường chạy qua Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (tại Hà Nội), nơi người con trai của ông là PGS.TS Nguyễn Văn Huy từng là Giám đốc.

Gần 30 năm đảm trách cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Đại biểu Quốc hội từ khóa 2 đến khóa 6, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đã có nhiều đóng góp chấn hưng nền giáo dục, văn hóa của nước nhà. Ông là tấm gương đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…

GS. Nguyễn Lân Dũng, người con rể của GS.TS Nguyễn Văn Huyên kể: Cả cuộc đời cụ rất trong sáng. Sau khi cụ mất gia đình mới biết, ở cơ quan Bộ có ngăn tủ đựng những món quà những lần đi công tác nước ngoài phía bạn tặng như máy ảnh, máy ghi âm… Tất cả cụ để ở cơ quan Bộ, vì cụ cho rằng đây là quà người ta tặng Bộ trưởng chứ không phải tặng cá nhân cụ. Cụ sử dụng những món quà này để tặng lại các địa phương hoặc tặng những giáo viên nghèo. Không chỉ những món quà bằng hiện vật mà kể cả tiền nhuận bút, duyệt sách, phụ cấp đại biểu Quốc hội, cụ cũng để lại dành làm quà tặng…”. Như Bác Hồ từng làm vậy.

Nguyễn Xuân Ba (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ số 511

————————-
Ghi chú thêm:
GS. Nguyễn Văn Huyên có 4 người con:
1. Nguyễn Kim Nữ Hạnh (1937 – 2010), hay Nguyễn Kim Hạnh, nguyên kỹ sư thông tin của Tổng cục Đường sắt, tác giả cuốn hồi ký “Tiếp bước chân cha”.
2. Nguyễn Kim Bích Hà, hay Nguyễn Bích Hà, PGS.TS Hóa học, Hiệu trưởng Trường dân lập Nguyễn Văn Huyên (Hà Nội).
3. Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Đại tá, PGS.TS Y khoa, Thầy thuốc Nhân dân, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Chồng bà là GS.TS – Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng.
4. Nguyễn Văn Huy, GS.TS, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Ý Kiến bạn đọc