Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với gia đình

Bác Hồ gặp chị ruột

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con, họ hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở làng Hoàng Trù thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An nửa tin nửa ngờ, “Phải chăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn Sinh Coong?”.

Để hiểu rõ sự thật, bà con cử bà Thanh tên thật là Nguyễn Thị Bạch Liên ra Hà Nội vào khoảng tháng 10/1945.

Bà Thanh mang theo hai con vịt và hai chục trứng gà cho em trai nếu đúng là Nguyễn Sinh Coong. Bà ra Hà Nội, đến 12 Ngô Quyền, Bắc bộ Phủ.

Ba-Nguyen-Thi-Thanh-chi-gai-Chu-tich-Ho-Chi-Minh
Bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nguồn: hochiminh.vn

Người lính gác bước đến hỏi:

- Bà cần gặp ai?

- Tôi là chị ruột của Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ một lát.

Người lính gác báo cáo với đồng chí Vũ Đình Huỳnh, lúc này là thư ký của Bác.

Đồng chí Vũ Đình Huỳnh lên gặp Bác. Lúc này Bác đang bàn với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam và ông Hoàng Minh Giám về việc bọn Lư Hán, Tiêu Văn đòi gặp Hồ Chí Minh.

Đồng chí Vũ Đình Huỳnh đến bên Bác, thưa với Bác: “Bà Thanh ở Nghệ An ra thăm Bác. Cháu đã đón bà vào phòng khách”.

Nghe tin, mắt Bác Hồ ngấn lệ, hai tay níu chặt lấy chiếc bàn nhỏ. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam và ông Hoàng Minh Giám rất thông cảm với Bác và chia sẻ nỗi niềm xúc động bất ngờ của Bác. Sau giây lát, Bác điềm đạm dặn đồng chí Vũ Đình Huỳnh:

- Bốn chục năm rồi, bây giờ chị em mới có điều kiện gặp lại. Tôi nhớ chị tôi, nhưng phải nén nhịn. Tôi gặp chị tôi tại đây ngay bây giờ e có điều bất lợi cho công việc chung. Chú Huỳnh xuống gặp chị tôi. Chú nói cách nào để chị tôi thông cảm được tình thế ngặt nghèo này. Rồi chú đưa chị tôi về nhà chú Đặng. Gia đình chú Đặng với gia đình tôi vốn có tình thân thiết từ lâu ở Nghệ An. Chị tôi ở đó sẽ thân thuộc như ở nhà. Tôi sẽ về đó, chị em gặp nhau sẽ hàn huyên được nhiều.

Đồng chí Vũ Đình Huỳnh trở lại phòng khách. Bà Thanh nhìn ra cửa sổ, có ý chờ Bác Hồ.

Đồng chí Vũ Đình Huỳnh rót nước mời bà Thanh, để rồi thưa chuyện với bà, nhưng bà hỏi ngay:

- Ông Hồ đi vắng à?

- Dạ, thưa bà, Bác Hồ còn đang dở một công việc hệ trọng. Bác giao trọng trách cho cháu đưa bà về nghỉ ngơi tại gia đình giáo sư Đặng Thai Mai. Bác Hồ sẽ về gặp bà tại đó.

Đồng chí Vũ Đình Huỳnh chưa nói xong, bà Thanh đứng phắt dậy, sải bước đến góc phòng, xách lồng vịt lên, nghiêm giọng:

- Tôi trở về Nghệ An đây. Ông lên nói với ông Hồ là tôi không ngờ đứa em trai Nguyễn Tất Thành của tôi hơn bốn chục năm về trước, hiếu với cha mẹ, thảo hiền với chị với anh trong nhà, kính thầy, yêu bạn, thế mà bây giờ ông là Chủ tịch nước, đã quan dân lễ cách ngay cả với chị gái của mình. Hẹn gặp chị ở chỗ khác vì sợ chị rách rưới, sợ gặp chị ở nơi quyền cao chức trọng này sẽ xấu hổ cho ông chăng?

Đợi bà Thanh nói xong, đồng chí Vũ Đình Huỳnh đến bên bà thì thầm:

- Thưa bà! Được tin bà ra thăm, Bác Hồ mừng đến nỗi chảy cả nước mắt. Bác Hồ muốn chạy xuống ngay gặp bà. Nhưng Bác Hồ phải níu chặt tay vào chiếc bàn nhỏ để nén chịu nỗi nhớ nhung. Vì hiện giờ chính quyền cách mạng còn trứng nước, mà thù trong giặc ngoài lại như kiến cỏ. Chúng đang cố truy tìm ra tung tích Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc không? Vì lẽ đó…

Đồng chí Vũ Đình Huỳnh chưa kịp nói hết câu thì bà Thanh đặt lồng vịt xuống, nắm cánh tay đồng chí Huỳnh, mắt ngấn lệ:

- À, vậy tôi hiểu rồi. Vì việc lớn, đã vì nghĩa lớn mà bấy lâu nay xa cách, gác lại tình riêng… chị em tôi… Thôi, chú đưa tôi về nhà ông Đặng đi. Thân sinh ông Đặng và thân sinh của tôi vốn là bạn đèn sách, cùng hàng Phó bảng triều Thành Thái mà…

Vào buổi trưa cùng ngày, Bác Hồ đến gặp chị.

Bà Thanh ngoảnh mặt vào tường, không ra đón. Bà nghe rõ từng bước chân của người em nhưng vì giận dỗi, bà vẫn không chịu quay mặt ra đón em.

Bác Hồ ngồi khẽ khàng xuống bên mép giường, sát người chị. Hai bàn tay Bác ấp lên vai người chị.

- Chị ơi! Chị nỡ nào giận dỗi với em.

Bà Thanh òa khóc, bà quay ra ôm chặt lấy em. Nhìn em đã hóa ra một ông già tóc muối tiêu, râu lưa thưa dài lòa xòa trước ngực. Bà Thanh càng khóc. Bác Hồ cũng khóc.

Bao nhiêu điều dự định than thở với em sau gần 40 năm xa cách bỗng bay biến mất.

Bác Hồ đứng lên dìu chị ra phòng khách. Hai chị em mừng mừng tủi tủi. Cuộc hàn huyên dồn nén trong 40 năm nay chỉ nói được với nhau ngót một tiếng đồng hồ đã phải chia tay vì trăm công nghìn việc hệ trọng đang chờ Bác.

Bà Thanh chuẩn bị về quê. Do quá bận rộn công việc Bác phải nhờ người đi mua mấy mét vải lãnh để biếu chị may áo.

Theo đồng chí Hoàng Tùng, khi Bác đi Liễu Châu gặp đồng chí Chu Ân Lai, ở quê bà Thanh qua đời. Nhận được điện từ Khu Bốn đánh ra, Bác lại đi vắng, các đồng chí ở nhà lúng túng, không biết giải quyết ra sao. Khi Bác về, đồng chí Hoàng Tùng báo cáo sự việc kể trên với Bác. Bác hỏi:

- Thế các chú có nhân danh Bác điện vào chia buồn và xin lỗi gia đình và địa phương là Bác bận việc không về được không?

- Thưa Bác, không ạ.

- Thế thì các chú ngốc quá!

Bác Hồ gặp anh ruột

Ông cả Khiêm ra thăm em vào tháng 11/1946 ở Bắc bộ Phủ sau gần 40 năm xa cách. Khi gặp Bác Hồ, ông cả Khiêm gọi rất to:

- Chú Coong! Chú Coong! Chú có khỏe không? Chị Thanh về có nói chuyện bảo chú gầy lắm, công việc bận suốt ngày.

Nói rồi ông cả Khiêm mở chiếc va-li đan bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam Xã Đoài cho em.

Ong-Nguyen-Sinh-Khiem-anh-trai-Chu-tich-Ho-Chi-Minh
Ông Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950), anh trai Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nguồn: hochiminh.vn

Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm nước mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào dâng, Bác Hồ đọc luôn mấy câu ca dao:

“Quê ta ngọt mía Nam Đàn
Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài
Ai về ai nhớ chăng ai
Tan như dầu đượm
thắp hoài năm canh”

Rồi Bác đọc tiếp:

“Chốc đà mấy chục năm trời
Còn non còn nước,
còn người hôm nay”

Ông cả Khiêm đáp lại:

“Thỏa lòng mong ước hôm nay
Nước non rợp bóng cờ bay đón Người”

Ngày 9/11/1950, vừa đi chiến dịch về nhận được tin ông cả Khiêm mất, Bác Hồ chỉ gửi điện về nhà: “Gửi họ Nguyễn Sinh:

Nghe tin Anh cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc Anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc Anh tạ thế tôi không thể lo liệu.

Than ôi! Tôi xin chịu tội bất lễ trước linh hồn Anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Hồ Chí Minh”

Chuyện vợ con và những mối tình

Trong kháng chiến chống Pháp, những lúc sum họp cùng anh em đón Tết, Bác Hồ thường hỏi anh em chuyện gia đình, vợ con. Nhân đó, Bác cũng bộc lộ điều thầm kín của lòng mình. Bác nói, những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, Bác đi đến đâu cũng có đôi ba bạn gái để mắt đến Bác và cũng có người muốn chung sống với Bác. Bác cũng là một con người bình thường, chưa có vợ thì có quyền lấy vợ. Nhưng sở dĩ Bác chưa lấy vợ là vì thời kỳ đó xa nhà, xa quê, xa nước. Bác ra đi làm cách mạng để giải phóng Tổ quốc khỏi ách phong kiến, đế quốc, giải phóng đồng bào khỏi ách nô lệ cho nên Bác phải hết lòng, phải hết sức bí mật, phải giữ kín mình để che mắt địch thì mới hoạt động được. Mà đã lấy vợ thì phải để lại địa chỉ, phải có con, phải có trách nhiệm làm chồng, làm cha, như vậy thế nào mật thám Pháp cũng phát hiện ra và bị bắt.

Những năm tháng Bác sống ở Pháp, nhiều bạn bè Pháp như PV. Couturier và M.Moutet cũng khuyên Bác nên lấy vợ cho chắc chân mà hoạt động, nhưng Bác không thể thực hiện được lời khuyên của bạn bè cũng vì lý do kể trên.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị, Mặt trận, Hội Liên hiệp Phụ nữ cũng gợi ý Bác về chuyện lập gia đình và giới thiệu người để Bác hỏi làm vợ. Nhưng Bác nghĩ, trong lúc nước sôi lửa bỏng, cả nước đang dốc lòng kháng chiến chống Pháp, toàn dân, toàn quân hướng về Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy vợ thì người ta sẽ suy nghĩ thế nào và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyết tâm kháng chiến thắng lợi. Chính vì thế, Bác không lấy vợ.

Hòa bình lập lại trên miền Bắc, Bác cùng Trung ương Đảng và Chính phủ bắt tay vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, sau đó lại chỉ đạo nhân dân miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh chống Mỹ – Diệm. Bác không còn thời gian đâu mà nghĩ đến chuyện vợ con. Hơn nữa, lúc đó tuổi Bác cũng đã cao, còn chút trí tuệ, sức lực nào là Bác muốn tập trung cho cách mạng, cho xây dựng miền Bắc, cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam để Bắc Nam chóng sum họp một nhà.

Trước khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ở chiến khu Việt Bắc, Bác nói rất thật lòng với một sĩ quan Mỹ khi hỏi Bác về chuyện vợ con: “Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, nên không dám tính đến chuyện gia đình. Trước khi tôi đi ra nước ngoài, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng tôi phải dừng lại câu chuyện yêu đương vì còn nhiệm vụ. Sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái ấy đi đâu, ở đâu, còn hay mất”.

Bà J. Stenson, người Mỹ, chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam, rất quan tâm tìm hiểu mối tình “đơn phương” của những người con gái nước ngoài với Bác khi Bác hoạt động ở Pháp, ở Nga, ở Trung Quốc. Theo bà J. Stenson thì ở Pháp, bà Laret rất yêu Nguyễn Ái Quốc, theo đuổi Nguyễn Ái Quốc nhiều năm. Trong những đêm đi họp chi bộ về, hai người đi bên nhau trên bờ sông Xen, bà Laret tỏ tình với Bác. Nhưng Bác không mềm lòng vì còn nhiệm vụ lớn lao. Khi bà Laret qua đời, bà để lại cuốn nhật ký viết về tình yêu của bà với Nguyễn Ái Quốc. Bà J. Stenson đã đến Pháp, gặp con gái bà Laret và xin được đọc cuốn nhật ký của bà. Con gái bà Laret nói với bà J. Stenson: “Mẹ tôi yêu Nguyễn Ái Quốc”.

Bà J. Stenson đã sang Nga và được biết một cô gái Nga rất yêu Nguyễn Ái Quốc, yêu đến mức bà ta thề không lấy được Nguyễn Ái Quốc thì ở vậy suốt đời.

Bà J. Stenson còn viết rằng, ở Trung Quốc, có nhà sử học tung tin Nguyễn Ái Quốc đã lấy vợ khi hoạt động ở Trung Quốc, đó là Lý Phương Liên (bí danh) thư ký của Đông Phương bộ Cục Phương Nam.

Bà J. Stenson viết, tôi đã đi Quảng Châu, Trung Quốc để tìm hiểu chuyện này. Thực tiễn cuộc sống có những chuyện nhìn thấy tận mắt nhưng chưa hẳn đã là sự thật. Khi ông Phạm Văn Đồng cùng với một số người trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên sang dự một khóa học chính trị, ở số nhà 13/1 đường Văn Minh, cũng tưởng Phương Liên là vợ của Lý Thụy, sau mới biết sự thật là Lý Thụy giả kết hôn với Lý Phương Liên để che mắt mật thám.

Cuối cùng, bà J. Stenson viết: “Sau khi tôi đã đi đến những nơi có dấu chân Người đi qua, gặp lại những người đã biết về Người và đi đến kết luận rằng, Hồ Chí Minh lúc còn trẻ là một thanh niên rất đẹp trai cho nên hiện giờ tôi cứ mơ ước về Người. Nếu tôi cùng thời thì dứt khoát tôi phải trở thành người tình của Người. Người không chấp nhận, tôi cũng theo đuổi cho bằng được”.

Một buổi chiều tháng Giêng năm 1959, Bác mời bà Giôlana Gôvốttơrôn, vợ Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Đức đến thăm nhà sàn của Bác.

Tại chân cầu thang lên nhà sàn, Bác chỉ ao cá trước nhà, chỉ những khóm cây xanh, tươi cười bảo:

- Đây là cơ ngơi của tôi. Mời thím lên nhà.

Trong câu chuyện thân tình, bà Giôlana hỏi Bác:

- Thưa Bác, vì sao Bác không lập gia đình?

Bác cười bảo:

- Thím ạ! Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc tôi. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi.

Tháng 2-1960, Bác nhận được bức thư của chị Êkatêrina Iôxidôpna gửi cho “vợ Bác Hồ” vì chị tưởng Bác Hồ cũng có vợ như mọi người. Ngày 25-2-1960, Bác viết thư trả lời chị:

“Đồng chí thân mến!

Tôi chân thành cảm ơn đồng chí về bức thư đồng chí gửi cho “vợ tôi”. Hiện nay, tôi rất tiếc là không thể nào chuyển cho bà ấy được. Vì tôi chưa biết bà ấy là ai. Bởi lẽ, lý do rất đơn giản là tôi chưa có gia đình. Tôi đã chuyển thư của đồng chí đến các đồng chí của chúng tôi ở Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”.

(Theo Nguyễn Văn Ân)

Nguyễn Hải Phú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 414

Ý Kiến bạn đọc