Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với cha con Vua H’Mông Đồng Văn

Đồng Văn là huyện miền núi biên giới tỉnh Hà Giang, cực Bắc của Tổ quốc, địa hình toàn núi đá tai mèo, vách cao dựng đứng, vô cùng hiểm trở, ngăn cách bởi các thung lũng và khe sâu. Nơi đây rất hiếm đất canh tác và thiếu nước, thời tiết khí hậu khô lạnh, quanh năm mây mù bao phủ trên các đỉnh núi cao. Đời sống chung của nhân dân địa phương, nhất là vào thời Pháp thuộc vô cùng nghèo khổ, lạc hậu và tăm tối.

Ong-Vuong-Chinh-Duc-cung-gia-dinh
Ông VƯƠNG CHÍNH ĐỨC cùng gia đình.

Người dân tộc H’Mông chiếm tuyệt đại đa số ở Đồng Văn, có nguồn gốc xa xưa từ Trung Quốc. Sau cuộc khởi nghĩa của người H’Mông chống triều đình nhà Thanh bị thất bại, người H’Mông bị đàn áp, truy sát và có nguy cơ bị diệt chủng, nên phải trốn chạy về miền Nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), rồi tiếp tục sang ẩn náu và cư trú ở Đồng Văn – Hà Giang. Nhưng họ vẫn bị người dân tộc Hán (Trung Quốc) phát hiện, tiếp tục nhiều lần truy đuổi, gây bao đau thương tang tóc, tạo nên mối thâm thù truyền kiếp, buộc các dòng họ H’Mông phải liên kết chặt chẽ với nhau để tồn tại và hình thành xã hội người H’Mông riêng biệt, xa cách cộng đồng xã hội. Để tiếp tục đấu tranh và phát triển, các dòng họ H’Mông Đồng Văn bao đời nay đã cử ra một người có uy tín, tài đức vẹn toàn làm thủ lĩnh đứng đầu, quyết định tất cả mọi vấn đề xã hội của các dòng họ, trực tiếp tổ chức và chỉ huy các lực lượng vũ trang H’Mông sẵn sàng chiến đấu bảo vệ lãnh địa và dân tộc H’Mông Đồng Văn.

Năm 1900, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm Đồng Văn. Lực lượng vũ trang H’Mông tuy nhỏ bé nhưng vẫn quyết tâm kháng cự được một thời gian ngắn, rồi thua trận. Nhưng tinh thần và ý chí chiến đấu không hề giảm sút, họ rút lực lượng vũ trang vào rừng sâu, núi cao và hang động để củng cố, tiếp tục chiến đấu du kích nhỏ lẻ, chờ đợi thời cơ khởi nghĩa. Năm 1909, Thủ lĩnh Vương Chính Đức chỉ huy lực lượng vũ trang H’Mông khởi nghĩa đánh lui quân Pháp ra khỏi địa phận Đồng Văn và buộc Pháp phải ký hòa ước Pháp – H’Mông (10-1913) thừa nhận Khu tự trị người H’Mông Đồng Văn và phong chức cho Thủ lĩnh Vương Chính Đức làm Chánh Quan H’Mông cai quản Đồng Văn. Đổi lại, người H’Mông đã ký hợp đồng cho Công ty Việt Điền của Pháp được độc quyền khai thác và thu mua thuốc phiện ở đây, với sản lượng trung bình 20 tấn/năm, mang lại nguồn lợi rất lớn từ thuốc phiện cho Pháp ở Đông Dương. Từ đó Khu tự trị H’Mông Đồng Văn tạm thời yên ổn. Thủ lĩnh Vương Chính Đức rảnh tay củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, mua sắm vũ khí trang bị, xây dựng thế trận phòng thủ, sẵn sàng đối phó với các thế lực thù địch ở phía bên kia biên giới vẫn toan rắp tâm tiến công tiêu diệt người H’Mông Đồng Văn.

Ong-Vuong-Chinh-Thanh.
Ông VƯƠNG CHÍ THÀNH.

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp rồi tiến công lên Hà Giang. Người H’Mông Đồng Văn kiên quyết chiến đấu, vừa chống cả quân Tưởng ở biên giới phía Bắc đánh xuống, vừa chống cả quân Nhật ở thị xã Hà Giang phía Nam đánh lên. Trong thế trận gần như bị bao vây, mắc kẹt, các thế lực thù địch ra sức dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa, Thủ lĩnh Vương Chính Đức tỏ ra bối rối, lúng túng trước nguy cơ hoặc phải đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Giữa lúc khó khăn nguy hiểm đó, người H’Mông Đồng Văn được phong trào Việt Minh ủng hộ giúp đỡ kịp thời. Từ chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ nghe tin, đã cử một đoàn cán bộ đại diện Việt Minh gồm 3 ông: Hoàng Việt Hưng, Sơn Tùng và Thất Tinh, mang theo kế hoạch 8 điểm của Hồ Chủ tịch trao cho Thủ lĩnh Vương Chính Đức, nhằm giúp người H’Mông Đồng Văn chống giặc thắng lợi. Trong cuộc tiếp kiến tại dinh thự họ Vương ở Sà Phìn, các đại diện dòng họ H’Mông Đồng Văn đã được nghe đại diện Việt Minh nói về tôn chỉ, mục đích và sự phát triển lớn mạnh của phong trào Việt Minh, chuẩn bị thời cơ tiến tới tổng khởi nghĩa, nhằm lật đổ thực dân phong kiến, áp bức bóc lột, phá bỏ xích xiềng nô lệ, giành lại chính quyền về tay nhân dân, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, bác ái cho đồng bào các dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, lần đầu tiên họ được hiểu biết về thân thế, sự nghiệp, đạo đức, tác phong và quan điểm tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Bác Hồ. Người luôn coi trọng Đồng Văn là mảnh đất thiêng liêng của đất nước, người H’Mông Đồng Văn là anh em một nhà trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cho nên Việt Minh phải có nghĩa vụ hỗ trợ, giúp đỡ mọi mặt cho cuộc chiến đấu chống kẻ thù của người H’Mông Đồng Văn giành thắng lợi hoàn toàn. Để tăng cường lực lượng và sức mạnh, Bác Hồ chỉ thị sát nhập 4 huyện cao nguyên đá Hà Giang gồm: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ thành Châu Thường Kiệt, do Thủ lĩnh Vương Chính Đức đứng đầu. Bác Hồ còn cử ông Hoàng Việt Hưng ở lại trực tiếp làm tham mưu giúp đỡ người H’Mông Đồng Văn tổ chức chiến đấu. Nghe đại diện Việt Minh nói xong, các dòng họ H’Mông Đồng Văn đều rất phấn khởi tin tưởng, mọi khó khăn đã được tháo dỡ. Thủ lĩnh Vương Chính Đức sung sướng ngửa mặt lên trời nói: “Người H’Mông ta xưa nay khắc đánh kẻ thù mà không ai giúp đỡ. Nay có Việt Minh, có Cụ Hồ tới giúp. Ta còn mong gì hơn nữa”. Rồi Thủ lĩnh Vương Chính Đức nhìn các thuộc hạ và khoát tay lớn tiếng nói tiếp: “Việt Nam ta giờ có Vua là Cụ Hồ. Ta phải theo Cụ Hồ từ đây”. Đó cũng là lời thề của các dòng họ H’Mông Đồng Văn như dao chém đá, như đinh đóng cột, một lòng một dạ đi theo Bác Hồ quyết không thay đổi. Từ đó, cuộc chiến đấu của người H’Mông Đồng Văn đã có mục tiêu, lý tưởng to lớn hơn, tạo thành sức mạnh vô địch liên tiếp chiến đấu giành nhiều thắng lợi, bảo vệ vững chắc chủ quyền Đồng Văn, hòa vào cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch kính yêu.

Để bày tỏ lòng thành kính biết ơn Bác Hồ và Việt Minh, hưởng ứng tuần lễ vàng của Chính phủ phát động, ngày 4-9-1945, Thủ lĩnh Vương Chính Đức đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng và 9kg vàng vào ngân khố Quốc gia.

Sau cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Hồ Chủ tịch đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đứng trước tình hình đất nước cực kỳ cam go, thù trong giặc ngoài, đe dọa nền độc lập dân tộc của Nhà nước ta non trẻ, việc đầu tiên Hồ Chủ tịch nghĩ tới là thành lập Chính phủ lâm thời để điều hành đất nước. Bác Hồ chủ trương thành lập Chính phủ lâm thời trên cơ sở tập hợp được mọi lực lượng yêu nước, có thể tranh thủ, hợp tác, gồm nhiều thành phần, tầng lớp xã hội khác nhau, trong đó có đại biểu các dân tộc thiểu số miền núi cao Hà Giang. Một trong số đại biểu ấy là cụ Vương Chính Đức – người Thủ lĩnh H’Mông Đồng Văn nổi tiếng với những chiến tích đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Tưởng, giữ vững vùng đất Đồng Văn và một phần biên cương Tổ quốc suốt mấy chục năm qua. Với lòng trân trọng, Bác Hồ viết thư rồi cử người lên Đồng Văn mời cụ Vương Chính Đức về Hà Nội để bàn việc nước. Cụ Vương Chính Đức xem xong thư vô cùng cảm động, nhận thấy đây là cử chỉ vô cùng cao thượng của Bác Hồ, nhưng vì tuổi cao sức yếu, cụ đã 81 tuổi, không thể đi xa được, nên đã ủy quyền cho con trai là Vương Chí Sình (Vương Chí Thành) đi thay về Hà Nội tiếp kiến Cụ Hồ. Nhờ các cán bộ Việt Minh tận tình giúp đỡ, ông Vương Chí Sình mới vượt qua được vòng vây và sự uy hiếp của bè lũ Quốc dân Đảng Hoàng Quốc Chính ở thị xã Hà Giang, về được tới Hà Nội an toàn. Trong buổi đi đến Phủ Chủ tịch để tiếp kiến Bác Hồ, ông Vương Chí Sình còn mang theo 2 người cháu ruột là Vương Quỳnh Sơn và Vương Quỳnh Anh đang học ở Hà Nội cùng đến dự. Ông Vương Chí Sình mang theo tâm trạng vô cùng hồi hộp vì đây là lần đầu tiên được tiếp kiến Bác Hồ, Người mà người H’Mông Đồng Văn và đồng bào cả nước vô cùng kính trọng, mang nặng công ơn. Trước khi về Hà Nội, cha ông đã căn dặn ông phải giữ đúng đạo thần dân, đạo làm tôi với Vua, con dân với lãnh tụ, không được tỏ ra bất cứ điều gì thất kính, làm ảnh hưởng đến uy tín của cha ông ở nhà và danh dự của người H’Mông Đồng Văn. Khi chú cháu ông Vương được đưa đến tiền sảnh Phủ Chủ tịch, ông vẫn còn lúng túng, ngập ngừng, chân không dám bước vào. Thấy vậy, Bác Hồ liền đứng dậy, Người tươi cười đi ra chào đón, bắt tay nồng nhiệt, bá vai ông Vương hỏi han và dìu vào phòng khách. Người cố xua đi ngăn cách trên dưới, thấp cao, tạo bầu không khí vui vẻ, nhẹ nhàng, tình cảm tự nhiên, gần gũi, thân mật. Bác Hồ chủ động hỏi thăm ông Vương Chí Sình về tình hình sức khỏe cụ Vương Chính Đức, cuộc sống, chiến đấu của người H’Mông ở Đồng Văn, những khó khăn vất vả hiểm nguy trên chặng đường ông Vương đi từ Hà Giang về Hà Nội. Nghe mỗi câu hỏi của Bác Hồ, ông Vương lại chắp tay, cung kính, khấu đầu và trả lời: “Dạ! Thưa Cụ Chủ tịch nước…”, nghe có phần khách sáo, lễ nghi nặng nề khi giao tiếp với Bác Hồ. Bỗng Bác Hồ mỉm cười và thân mật hỏi: “Ông Vương tuổi gì?”. Ông Vương Chí Sình liền khúm núm đáp: “Dạ! Thưa Cụ Chủ tịch nước, tôi tuổi Hợi ạ!” (1887 – Đinh Hợi). Bác Hồ liền đứng dậy, chìa tay ra bắt tay ông Vương Chí Sình và tươi cười nói: “Vậy là ông hơn tôi 3 tuổi rồi, từ giờ trở đi ông đừng gọi tôi là cụ nữa. Chúng ta là anh em nhé!”. Nghe Bác Hồ nói xong, ông Vương Chí Sình cảm động rơi nước mắt…! Chao ôi! Một người dân tộc thiểu số vùng cao xa xôi hẻo lánh như ông lại được Bác Hồ – Vị lãnh tụ tối cao của dân tộc nhận là anh em, thì còn vinh dự và sung sướng nào hơn. Đối với người H’Mông, một khi ai đó đã nhận nhau là anh em, thì từ đó coi nhau như tình cảm ruột thịt, vô cùng ý nghĩa và thiêng liêng cao cả. Câu nói thân mật này của Bác Hồ về sau được truyền tụng khắp người H’Mông Đồng Văn, cùng đồng bào các dân tộc trong cả nước biết đến. Nhiều người còn khuếch trương tin đồn: Nào là Bác Hồ nhận ông Vương Chí Sình làm anh em kết nghĩa, nào là ông Vương Chí Sình từ đó đổi họ Vương thành họ Hồ của Bác. Dù sao những tin đồn ấy vẫn có tác dụng nâng cao thêm uy tín và sức mạnh cho ông Vương Chí Sình, có lợi cho phong trào kháng chiến của người H’Mông Đồng Văn, nên Nhà nước ta cũng không cải chính. Sau cuộc hội kiến này, Bác Hồ đã giới thiệu ông Vương Chí Sình ra ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa I năm 1946 và khi cụ Vương Chính Đức từ trần đầu năm 1947, hưởng thọ 82 tuổi, ông Vương Chí Sình được thay cha làm Thủ lĩnh các dòng họ H’Mông Đồng Văn, đồng thời giữ chức Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Đồng Văn. Từ đó, ông Vương Chí Sình được đồng bào H’Mông suy tôn như “Vua H’Mông”. Cũng trong buổi tiếp kiến này, theo chỉ thị của Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giao nhiệm vụ cho Vương Quỳnh Sơn làm công tác thanh vận, giới thiệu vào học Trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Đầu năm 1948, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn chính quy D350 – Đồng Văn, trên cơ sở lực lượng vũ trang H’Mông Đồng Văn (cũ), đã bổ nhiệm ông Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn trưởng và ông Mã Chính Lâm làm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn này. Riêng ông Mã Chính Lâm đã phấn đấu hết mình, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, từng bước trưởng thành trong quân đội, ông trở thành lớp người con ưu tú của đồng bào dân tộc H’Mông Đồng Văn.

Kết thúc buổi nói chuyện, ông Mã Chính Lâm nở nụ cười hiền hậu, với chất giọng thật thà chất phác nói:

- Đồng bào H’Mông mình luôn giữ trọn lời thề và ghi nhớ công ơn của Đảng, Bác Hồ, nguyện cùng nhau đoàn kết phấn đấu xây dựng và bảo vệ cao nguyên đá Đồng Văn, xứng đáng là địa đầu nơi biên cương Tổ quốc.

Bùi Ngọc Quế
(Hội LHVHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 388

Ý Kiến bạn đọc