Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ với Bác Tôn Cụ Huỳnh Thúc Kháng

Bác Hồ với Bác Tôn Đức Thắng: Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Tôn từ Côn Đảo trở về Nam bộ cùng các cán bộ của Đảng tham gia kháng chiến, được bầu làm đại biểu Quốc hội. Sau đó ra Bắc làm Phó ban rồi Trưởng ban thường trực Quốc hội. Về Chính quyền là Bộ trưởng Nội vụ (5/1947 – 11/1947).

Sau Hiệp định Genève, Bác Hồ, Bác Tôn trở về Hà Nội, Bác Tôn làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác Hồ, Bác Tôn không chỉ gần gũi khi làm việc chung mà cả trong đời sống, sinh hoạt hai Cụ có nhiều điểm giống nhau. Cụ Hồ giản dị, Cụ Tôn cũng vậy. Với bản chất người công nhân, Bác Tôn sống thanh cao, Bác thường dùng xe đạp, tự sửa chữa lấy như một người dân thường chứ không nhờ cấp dưới giúp đỡ.

Bác Hồ luôn quan tâm đến Bác Tôn trên tinh thần đồng chí, cùng người cao tuổi với nhau, Bác Hồ thường mời Bác Tôn dùng cơm với mình và mỗi khi mời Bác Tôn, Bác Hồ luôn mời Bác Tôn gái cùng đi với Bác Tôn.

Bac-Ho-va-Cu-Huynh-Thuc-Khang-trong-Chinh-phu-dau-tien-nuoc-Viet-Nam-Dan-chu-Cong-hoa
Bác Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thật xúc động khi chúng ta xem bức ảnh Bác Hồ và Bác Tôn chụp chung, hai Cụ rất thân thiết, tình cảm sâu đậm của lãnh tụ đối với nhau. Đây là tấm gương để cho các thế hệ con cháu học tập, noi theo cách cư xử, cuộc đời trong sáng của hai Bác kính yêu.

Bác Hồ với Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Là một nhà nho yêu nước từng làm chủ tờ báo Tiếng Dân nổi tiếng ở miền Trung chống Pháp bị bắt đi đày nhưng ông luôn thể hiện chí khí của một chí sĩ yêu nước kiên cường. Sau ngày 2-9-1954, Bác Hồ mời Cụ Huỳnh ra đóng góp cho đất nước. Lần đầu Cụ Huỳnh từ chối vì tuổi già sức yếu không đi. Bác Hồ tiếp tục mời lần thứ hai, và cả đồng chí Võ Nguyên Giáp, người từng cộng tác làm báo Tiếng Dân với Cụ, cũng gửi thư mời Cụ Huỳnh. Ban đầu Cụ Huỳnh định ra Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết rồi về chứ không nhận nhiệm vụ. Nhưng với lời mời thiết tha của Bác Hồ, Cụ đã nhận lời làm việc trong bối cảnh ở miền Nam Pháp trở lại xâm chiếm lần nữa, ở miền Bắc Tàu Tưởng vào giải giáp quân phiệt Nhật với âm mưu thâm hiểm sẽ “Diệt Cộng cầm Hồ”, các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh theo Tàu Tưởng về nước ráo riết chống phá ta…

Tại cuộc họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2-3-1946, khi giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp để Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày: “Bộ Nội vụ: một người đạo đức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng”.

Sau đó Cụ Huỳnh được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt).

Sáng 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi Paris để mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp. Sân bay Gia Lâm hôm ấy đông nghịt người ra tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi một vòng chào các đại biểu và đồng bào. Đồng bào vẫy cờ, vỗ tay hoan hô và chen lấn nhau ra phía trước để được nhìn rõ Người.

Sắp tới giờ lên máy bay, Bác tới nắm tay Cụ Huỳnh nói:

- Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không biến để đối phó với muôn sự thay đổi). Cụ Huỳnh rất cảm động, cầm tay Bác hồi lâu, Bác đã ủy nhiệm Cụ Huỳnh làm Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi vắng.

Giải thích về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Cụ Huỳnh nói: “Hội đồng Chính phủ không bán nước!.. Tôi xin tuyên bố vắn tắt với anh em, đó chẳng qua là một nước cờ của Hồ Chủ tịch với cả nước Pháp lẫn Tưởng Giới Thạch. Hồ Chủ tịch là một tay cao cờ. Tôi chắc chắn là anh em cứ đinh ninh rồi đây thế nào mình cũng thắng thế”.

Cụ Huỳnh được cử đi kinh lý miền Trung và miền Nam Trung bộ với danh nghĩa đại diện Chính phủ Trung ương. Cuối năm 1946, khi về thăm quê hương Tiên Phước, Cụ Huỳnh tâm tình với bà con: “Tôi đã vào loại sáng nhưng Cụ Hồ lại sáng hơn tôi nhiều. Cụ Hồ có những người giúp việc thông minh lắm, giỏi lắm, tin tưởng lắm. Cụ Hồ rất vĩ đại, dưới có đội ngũ giúp việc tài năng, nhất định sẽ đưa dân tộc ta đến toàn thắng. Ở Hà Nội, Hồ Chủ tịch tiết kiệm lắm. Mỗi bữa cơm, Cụ Hồ chỉ dùng có một quả trứng…”.

Đầu năm 1947, với danh nghĩa Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Cụ Huỳnh viết bức thư dài bằng chữ Hán (thể phú) nhan đề: “Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư”. Bức thư có đoạn:

“Người thân yêu, kính mến nhất của đồng bào quốc dân ta là Hồ Chí Minh tiên sinh. Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia, chân đi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm…”.

Đầu tháng 4-1947, tại Quảng Nam, trong một buổi nói chuyện với các thân hào nhân sĩ, có người lên tiếng hỏi Cụ Huỳnh: “Tôi thuở nay nghe biết tên nhiều nhà cách mạng hoạt động ở trong nước cũng như ở nước ngoài, nhưng chưa từng nghe tiếng ông Hồ Chí Minh. Vậy cụ Hồ Chí Minh là ai?”.

Cụ Huỳnh trả lời:

Ông Hồ Chí Minh là con cụ Phó bảng Sắc ở Nghệ An, suýt soát lớp ông và tôi. Ông Hồ hoạt động chính trị ở nhiều nước Âu, Á, Phi và hoạt động bí mật, tất nhiên là thay tên đổi họ luôn luôn để tránh màng lưới mật thám quốc tế. Nhưng cái tên làm chấn động thế giới là Nguyễn Ái Quốc. Chắc ông biết, nhiều người biết”.

Cụ Huỳnh nhận xét: “Ông Hồ không phải như nhiều người khác mượn tai tiếng cách mạng để rồi làm giàu hoặc làm to như các ông tưởng đâu. Ông Hồ không có một xu dính túi. Nói về bằng cấp thì ông Hồ không là tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta không ai bì kịp.

Sự hiểu biết của ông Hồ rất xa, rất rộng, chẳng những việc trong nước mà cả việc thế giới nữa. Nước này tương lai sẽ đi về đâu? Nước kia rồi đây sẽ như thế nào? Ông nói rất rành rọt, mạch lạc, nghe không chán”.

Bác Hồ đối với Cụ Huỳnh như đối với người thân. Nhiều chi tiết nhỏ trong quan hệ giữa Bác và Cụ nói lên điều này. Có một chai tương Nam Đàn do bà Nguyễn Thị Thanh (chị gái của Bác) đem ra làm quà, Bác cũng mời Cụ Huỳnh đến dùng cơm để cùng thưởng thức hương vị quê hương xứ Nghệ. Lại có lần nhân dân Thái Bình gửi biếu hai chai mắm tôm đặc sản, Bác cũng viết thư gửi biếu Cụ một chai. Cả trong chuyện thường ngày của hai người cũng hóm hỉnh thân tình. Có một lần vào năm 1946, gặp Bác, Cụ Huỳnh ứng tác hai câu thơ nhắc nhở:

Năm mươi sáu tuổi vẫn chưa già
Cụ ông thấy, cụ bà không?

Lúc ấy Bác chỉ cười, nhưng rồi trong thời gian sang Pháp, bên cạnh những bức điện văn hỏi tình hình và thăm Cụ Huỳnh, Bác còn có riêng một bài thơ gửi Cụ:

Nghĩ chẳng ra thơ để trả lời
Nhớ ơn Cụ lắm Cụ Huỳnh ơi
Non sông một mối chung nhau gánh
Độc lập xong rồi cưới vợ thôi.

Tháng 4-1947, Cụ Huỳnh bị ốm nặng. Từ Quảng Ngãi, trên giường bệnh, ngày 14-4-1947, Cụ Huỳnh đọc cho người thư ký riêng của mình ghi bức thư gửi Hồ Chủ tịch:

Kính gửi Hồ Chủ tịch

Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả.

Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân trên đường vinh quang hạnh phúc.

Chào vĩnh quyết

Rất thương tiếc và đau buồn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư cho đồng bào cả nước:

Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế.

Hỡi đồng bào yêu quý,

Vị chiến sĩ lão tiền bối Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân vừa tạ thế.

Trước sự đau xót đó, Chính phủ ta đã ra lệnh làm Quốc tang.

Nhân dịp này, tôi có vài lời báo cáo cùng đồng bào.

Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước, mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đẩy cụ ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh, chẳng những không sờn lại thêm cương quyết.

Cụ Huỳnh mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.

Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc”.

Nay chẳng may cụ Huỳnh sớm tạ thế, trước khi thấy kháng chiến thành công.

Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta.

Hỡi đồng bào yêu quý,

Chúng ta thương tiếc cụ Huỳnh vô cùng. Nhưng chúng ta không nên thương tiếc bằng cách than khóc rầu rĩ. Chúng ta thương tiếc cụ bằng cách: càng đoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến; bằng cách theo gương dũng cảm, nối chí quật cường của cụ bằng cách: hoàn thành sự nghiệp yêu nước, cứu dân mà cụ đã theo đuổi suốt đời. Chúng ta phải đồng thanh thề trước tiên linh của cụ Huỳnh rằng:

Đồng bào Việt Nam
quyết theo gương kiên quyết của cụ.
Con Rồng cháu Tiên
quyết không làm nô lệ.
Tinh thần kháng chiến
của cụ Huỳnh sống mãi.
Việt Nam thống nhất
và độc lập muôn năm!

Ngày 29 tháng 4 năm 1947
Hồ Chí Minh”

Những lời Cụ Huỳnh dành cho Bác Hồ, Bác Hồ dành cho Cụ Huỳnh trên đây cho chúng ta nhận rõ sự kính trọng nhau giữa hai vị cao niên có chung mục đích cao cả: yêu nước. Tình của hai Bác thật tuyệt vời!

Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một nhân sĩ yêu nước ngoài Đảng được Bác Hồ rất mực kính trọng đặc biệt. Bác Hồ cũng dành sự tôn trọng đối với những nhân sĩ, trí thức có tấm lòng với đất nước. Điều này cho mọi người hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ luôn đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết. Người thực hiện đúng như lời Người nói: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng luôn luôn coi lợi ích của dân tộc, Đảng không có quyền lợi nào ngoài lợi ích của nhân dân.

Cung cách cư xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Bác Tôn – một người chiến sĩ Cách mạng cùng lý tưởng trong Đảng với nhau, so với cách cư xử với Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhân sĩ yêu nước, ngoài Đảng, chúng ta thấy không khác nhau. Điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh coi trọng nhân tài, cần người vì dân vì nước, vì dân tộc như thế nào.

Chính tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thay đổi ý nghĩ của Cụ Huỳnh lúc đầu chỉ định ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh chứ không nhận công việc, chức vụ. Trong thời gian làm việc, tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với cái nhìn sắc sảo của một trí thức yêu nước, Cụ Huỳnh đã thấy rõ Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thiên tài – như Cụ nói với các cụ phụ lão khi về lại quê nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có phong cách cư xử rất tình cảm không chỉ với Bác Tôn, Cụ Huỳnh Thúc Kháng mà với tất cả mọi người cùng tham gia kháng chiến hay sau 1954 về Hà Nội, có dịp vinh dự gặp Bác, từ đứa trẻ tới cụ già, từ người chiến sĩ tới anh công nhân, nông dân, cô du kích… người trong nước hay người nước ngoài, dù chỉ gặp một lần, thậm chí chưa gặp lần nào vẫn dành cho Người sự kính yêu vô bờ.

Nguyễn Xuân Ba
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 396

Ý Kiến bạn đọc