Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Bác Hồ và người con gái nước Pháp

 

Chúng ta chiến đấu, hi sinh, không khuất phục bất kỳ kẻ xâm lược nào, dù chúng nó giàu đến đâu, mạnh đến đâu, hung ác đến cỡ nào. Nhưng chúng ta không để mình cô lập. Bác Hồ dạy: “Phải thêm bạn, bớt thù”. Và Bác Hồ là người mẫu mực nhất, chân thật nhất thực hiện phương châm ấy.

Chuyện là, năm 1945, thủy thủ Henri Martin, cựu chiến sĩ kháng chiến Pháp chống phát xít Đức được điều sang Việt Nam. Ông tưởng sang để đánh phát xít Nhật. Nhưng quân Nhật đã bị tước vũ khí. Thực tế là quân xâm lược Pháp bắn giết người dân xứ này. Ông quay về Pháp phát động phong trào tố cáo nhà cầm quyền Pháp, biến thành một phong trào phản chiến mạnh mẽ.

Tháng 3/1950, ông bị bắt, bị kết tội xúc phạm tinh thần Pháp và phá hoại… và bị kết án 5 năm tù. Dư luận Pháp, nhất là giới trí thức và văn nghệ sĩ phản đối dữ dội. Cho nên ông được trả tự do năm 1953.

Tháng 1/1950, bà Raymon Dien tham gia cuộc biểu tình ở nhà ga mà một đoàn tàu chở xe bọc thép và quân trang quân dụng cho đội quân xâm lược Pháp ở Đông Dương sắp chuyển bánh. Bà cùng một số người nằm xuống chắn ngang đoàn tàu. Chỉ một mình bà bị bắt và bỏ tù, vì bà là cộng sản. Thế mới biết, bọn thực dân Pháp gian manh như thế nào. Ai chống xâm lược đều bị chúng kết tội, bỏ tù. Và những người Pháp chống lại chúng, là những người Pháp chân chính nhất, là những người bạn của nhân dân Việt Nam ta.

Raymon Dien và Henri Martin suốt từ đó hoạt động không mệt mỏi chống thực dân và chiến tranh phi nghĩa. Họ được cả thế giới xưng tụng và tri ân. Raymon Dien được người Nga dựng tượng.

Xuan2020--Anh-minh-hoa--Bac-Ho-va-nguoi-con-gai-nuoc-Phap
Bác Hồ trong một lần đón tiếp nhà báo Madeleine Riffaud.

Người con gái khác mà chúng tôi muốn nhắc tới đây là Madeleine Riffaud, sinh năm 1924, một đảng viên cộng sản, một chiến sĩ kháng chiến chống phát xít kiên cường và dũng cảm. Chị từng bắn chết một tên sĩ quan phát xít Đức giữa thanh thiên bạch nhật để cảnh cáo bọn xâm lược và bị bắt, tra tấn dã man đồng thời kết án tử hình. Trong thời gian chờ bị bắn, chị làm thơ “Bài ca sự sống” nói về cái chết của mình, có những câu rất nhân văn, được người ta chuyền tay nhau đọc mãi:

“Những con người này sẽ giết tôi
Nhưng chiến hữu ơi, xin đừng giết họ
Khi họ thua, như con chồn vào rọ
Tối nay tôi xiết đỗi bồi hồi
Tim chỉ còn tình yêu
Ôi tình yêu khôn tỏ…”

Những tâm hồn cao thượng như chị thì khó mà chết. Cho nên chị được cứu sống một cách thần kỳ.

Chị vừa làm thơ, vừa viết lời cho ca khúc vừa bắt đầu viết báo, viết cho tờ Chiều nay của thi hào cộng sản Louis Aragon (1897 – 1982). Sau đó là tờ Đời thợ. Chính trên hai tờ này, chị góp phần khiến không chỉ nước Pháp rung động về cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu mà thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương và Việt Nam.

Sau khi rời hai tờ báo nói trên, Madeleine Riffaud trở thành phóng viên của báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp. Chị thường sang Algérie nhiều đợt, bị ám sát hụt nhiều lần, nhưng cống hiến lớn lao cho công cuộc giành độc lập của đất nước đó.

Nhưng duyên nợ của chị với Việt Nam còn lớn hơn nhiều. Cuộc kháng chiến của Việt Nam là thân thương nhất đối với Madeleine Riffaud. Năm 1946, chị được gặp Bác Hồ ở Pháp. Gặp chị, Bác đã thốt lên: “Đây là cô gái Paris dũng cảm!”. Và Bác nói: “Làm báo là một sự nghiệp thật sự. Bây giờ con còn học tập. Khi nào thành nhà báo thuần thục, con hãy sang Việt Nam”.

Năm 1954, chị sang Việt Nam để phản ánh với thế giới công cuộc xây dựng lại đất nước của Việt Nam, được Bác tặng hai tấm lụa, chị đem một tấm may chiếc áo bà ba và thường hay mặc, như mình là người Việt Nam. Tấm thứ hai, chị may tiếp một chiếc áo như thế và mặc trong chuyến về lại Việt Nam.

Năm 1958, chị công bố truyện “Con mèo quái lạ”, như một truyện cổ tích về người Việt Nam dí dỏm, khiêm nhường và thiết thực. Cuốn sách được tái bản năm 1978 và tiếp tục in lại gần đây.

Năm 1964, chị cùng nhà báo nổi tiếng người Úc Wilfred Burchett, từ Campuchia bí mật sang miền Nam Việt Nam và lăn lộn ở các chiến khu của các chiến sĩ quân giải phóng như một chiến sĩ đích thực, với chiếc áo lụa bà ba. Chị được anh em quân giải phóng miền Nam gọi là “Chị Tám”, một cái tên thân thiết mà chị rất thích.

Năm 1965, tác phẩm viết từ cuộc sống sinh động trong các “bưng biền Việt cộng” của chị thành công vang dội, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Chị gởi sách cho Bác, với lời đề tặng cung kính nhất: “Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh với lòng biết ơn vô hạn và tình yêu sâu nặng mà con dành cho Người và Dân tộc của Người, Dân tộc sẽ chiến thắng những tên phát xít mới”. Bác đọc kỹ, ghi “chú ý” bên lề nhiều trang, gấp nếp, đánh dấu nhiều trang khác để tìm đọc lại.

Tiếp đó, chị quay lại miền Bắc Việt Nam, ghi lại tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại, cũng như cuộc chống trả anh dũng của quân dân ta. Thật kinh ngạc trước sự quả cảm lạ lùng của chị trước bom rơi đạn nổ. Chị là phóng viên nước ngoài duy nhất luôn luôn có mặt ở những nơi máy bay Mỹ đang trút bom xuống như nhà ga, bệnh viện, trường học.

Năm 1967, chị kịp ra mắt cuốn “Ở Bắc Việt Nam, viết dưới bom đạn”, như một thu hoạch đi thực tế sôi nổi và hào sảng. Đặc biệt, những trang chị viết về Bác: “Hầu như sáng nào tôi cũng muốn phỏng vấn Bác, nhưng không được. Tôi là nhà báo lại bị Bác phỏng vấn, phải liên tiếp trả lời Người về miền Nam mà từ lâu Người không tới được, về Đảng Cộng sản Pháp, về những người bạn Pháp và châu Âu của Người”.

Năm 1968, chị dịch sang tiếng Pháp cuốn tiểu thuyết “Mặt trận trên cao” (Le front du ciel) của Nguyễn Đình Thi.

Ngày 21/9/1969, báo Nhân đạo đăng bài viết của chị khi Bác ra đi giữa mùa thu với nhiều kỷ niệm. Bác từng bảo: “Nếu con muốn Bác vui, hãy gởi cho Bác những ca khúc của Maurice Chevalier mà Bác thường nghe hồi bên ấy, khi con chưa chào đời. (Chị đã gởi đủ 6 đĩa của danh ca này. Bác nghe rất thích). Nhiều đêm khuya, công việc xong đâu vào đấy, Người ngả lưng trên giường, mở đài bán dẫn nghe các buổi phát thanh nước ngoài. Có ai nhắc Người đi ngủ, Người mỉm cười đáp: “Tôi đang nghe tiếng nói của nhân loại”.

Báo Nhân đạo cũng đăng bản dịch Di chúc của Người, do chị tham gia dịch, hiệu đính và giới thiệu.

Trong lễ truy điệu Người ở Paris, chị mặc áo bà ba, đội khăn tang, khóc cúi lạy Bác như một con em Việt Nam ruột đau chín chiều, vĩnh biệt Người Cha vĩ đại… Có thể nói, Madeleine Riffaud yêu Việt Nam như yêu chính mình. Được như vậy là do cuộc chiến đấu quá anh dũng của một dân tộc bất khuất và được sự nâng đỡ của hai con người thân thiết nhất đối với chị. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và người bạn thân đặc biệt của chị là nhà văn Nguyễn Đình Thi.

(Viết theo tư liệu của Trần Bích Nga, Báo An ninh Thế giới)

Hoàng Xuân Huy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2020

Ý Kiến bạn đọc