Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ “trong mắt tôi”

(Từ sách Bác Hồ với Văn nghệ sĩ – NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)

… “Bác Hồ ơi những xế chiều
Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu”…
Tố Hữu

Đồng Tháp Mười năm 1949, một năm sau khi bộ phim Chiến trận Mộc Hóa” ra mắt đồng bào Nam bộ, Chánh ủy Khu 8 Nguyễn Văn Vịnh có chuyển cho tôi một tập truyện ngắn “Giấc ngủ 10 năm” in giấy sáp của Trần Lực. Trong kháng chiến chống Pháp, chúng tôi rất thiếu sách báo, nên khi nhận được tập truyện ngắn này tôi mừng lắm vội đọc ngay. Câu chuyện rất đơn giản diễn tả cuộc đời của anh vệ quốc quân bị thương trong chiến đấu tại đèo Bông Lau. Người ta khiêng anh về quân y viện để điều trị nhưng anh bị hôn mê vì vết thương trầm trọng. Các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng anh vẫn bị hôn mê suốt 10 năm. Anh có một đứa con gái lên 10 tuổi được phép vào ở quân y viện để chăm sóc anh. Mười năm sau anh được hồi tỉnh, sống dậy như bình thường. Nhưng anh đã già đi và choáng váng vì cảnh con người chung quanh anh khác trước nhiều quá. Cô y tá chăm sóc anh chính là người con gái của anh mà anh chưa nhận ra. Cô y tá bắt đầu kể cho anh nghe những gì đã xảy ra trong 10 năm qua như: cuộc kháng chiến của quân dân ta rất anh dũng được sự ủng hộ của nhân dân thế giới, nhất là nhân dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp đấu tranh đòi Chánh phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký kết hòa ước với Chánh phủ ta. Anh say sưa ngồi nghe, nhìn đứa con gái của mình, nhìn quang cảnh xung quanh quân y viện, tất cả đều trưởng thành theo bước đi lên của cách mạng, mà lòng anh xiết bao cảm động…

Bac-Ho-voi-cac-nghe-si-dien-anh---Anh-2
Bác Hồ với các nghệ sĩ điện ảnh – Ảnh tư liệu

Tôi bị lôi cuốn vào tập truyện ngắn, đọc đi rồi đọc lại hai, ba lần. Bởi lẽ tập truyện rất giàu hình ảnh, bố cục gọn giống như một cuốn phim vậy. Một cuốn phim đã gây cho tôi một chất lãng mạn như mình đã hình dung được trước mắt kết quả cuộc kháng chiến mà mình đang là một thành viên. Tôi mơ ước một ngày không xa truyện ngắn “Giấc ngủ 10 năm” sẽ được Điện ảnh khu 8 quay thành phim để nói lên toàn bộ cuộc hành trình kháng chiến và kiến quốc của Mặt trận Liên Việt. Tôi muốn tìm tác giả nhưng không ai rõ tác giả là ai và hiện ở đâu.

Về sau, vào giữa năm 1950, một phái đoàn thanh tra của Bộ Tổng Tư lệnh vào Nam bộ do đồng chí Trần Mạnh Quỳ hướng dẫn; trong câu chuyện tình cờ đã cho tôi biết tác giả Trần Lực chính là Bác Hồ. Tôi chưa được gặp Bác. Nhưng qua “Giấc ngủ mười năm” tôi đoán chắc Bác phải là người rất am hiểu nghệ thuật điện ảnh. Và tự nhiên tôi có cái cảm nhận ở mức độ nào đó, máu nghề nghiệp giữa Bác và chúng tôi những người làm điện ảnh cách mạng tại Nam bộ.

Quả thật vậy, đầu năm 1951, do đồng chí Trần Mạnh Quỳ đề nghị với Bộ Tư lệnh Quân khu 8 cử một bộ phận nhỏ của tổ Điện nhiếp ảnh khu 8 ra tăng cường cho Bộ Tổng Tư lệnh để làm điện ảnh. Một đội điện ảnh gồm 4 người: Nguyễn Phụ Cấn, Võ Thành Tắc, Nguyễn Công Sơn và tôi phụ trách, theo đoàn đồng chí Trần Mạnh Quỳ ra Trung ương.

Lần đầu tiên, tôi được gặp Hồ Chủ tịch tại Hội nghị quân sự. Lần đó tôi chỉ ngắm nhìn Bác từ dáng dấp, đi đứng đến cách ăn mặc rất giản dị. Bác rất hoạt bát, thấy như gần gũi với mọi người, thật khác với trí tưởng tượng của tôi. Tôi không còn nhớ Bác nói gì trong lần gặp đó.

Lần thứ hai. Tôi được đưa về Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng và phân công về Phòng 5 của Nha Thông tin Tuyên truyền (Phòng 5 là Phòng Nhiếp ảnh). Tôi và Phạm Văn Khoa được phân công đi quay phim cuộc họp của Bộ Chính trị (một đoạn phim cần thiết cho bộ phim Việt Nam kháng chiến do ta và Trung Quốc hợp tác làm). Lần này tôi chủ động dàn dựng cảnh họp. Việt Bắc đang mùa mưa, độ ẩm và sương mù rất nặng. Tôi đo đồng hồ ánh sáng rất thấp, đành phải dỡ mái nhà cho sáng thêm. Bác đến. Tôi bấm máy. Khi Bác ra sân nói chuyện với đồng chí Trường Chinh, tôi theo dõi thấy đẹp quá. Tôi đề nghị Bác ngồi trên băng ghế cạnh gốc cây nói chuyện với đồng chí Trường Chinh. Bác nhìn xung quanh thấy sáng sủa, Bác gật đầu cười đồng ý với cảnh trí ăn ảnh này, Bác kéo tay anh Trường Chinh lại ngồi gần. Tôi loay hoay lo lắng toát cả mồ hôi vì ánh sáng quá yếu, phải mở hết ống kính may ra mới đủ ánh sáng. Tôi nhờ anh Phạm Văn Khoa kéo hộ tôi cái thước dây đo từ ống kính đến chỗ Bác ngồi. Tôi đọc bằng tiếng Pháp: “Quinze feet” (15 feet). Bỗng tôi giật mình nghe tiếng Bác: “Chú không nói được 15 thước à? Sao lại Quinze feet. Ta có tiếng của ta lại đi dùng tiếng ngoại quốc thế là còn đầu óc nô dịch”. Thấy tôi sửng sốt, Bác lại ôn tồn cười: “Chú không nói được quay phim đâu. Chú nói “oai” phim phải không?”. Tôi dạ và tiếp tục bấm máy. Quay xong, Bác cười: “Thôi bây giờ chú phải payer cho artiste chứ! (phải trả tiền cho tài tử). Xong Bác rút thuốc thơm tặng cho Phạm Văn Khoa và tôi mỗi người một điếu. Về sau, trên màn dựng cảnh này rất sinh động và tự nhiên.

Lần thứ ba. Lúc phái đoàn anh Hoàng Quốc Việt đi thăm Triều Tiên về báo cáo lên Hội đồng Chánh phủ, Bác tới dự, tôi được phân công quay phim. Lần này tôi bị hóc máy. Khi nghe tiếng máy bị hóc, Bác chủ động đề nghị ngưng một tí chờ nhà quay phim sửa lại máy. Tôi thầm cảm ơn Bác. Chỉ vì độ ẩm quá cao máy kéo không nổi phim.

Bac-Ho-voi-cac-nghe-si-dien-anh---Anh-1
Bác Hồ với các nghệ sĩ điện ảnh – Ảnh tư liệu

Và những lần tiếp theo sau đó, chúng tôi luôn luôn được Bác thăm hỏi. Thậm chí làm phiền Bác như: có lần ở Hội nghị Chiến sĩ thi đua lần thứ nhất, khí trời rất nóng bức. Bác bận bộ quần áo nâu mỏng. Chúng tôi đề nghị Bác thay chiếc áo cán bộ cho ra vẻ đàng hoàng, Bác không bằng lòng. Bác nói: “Bác bận thế này thôi. Các chú có quay phim thì quay, không quay thì thôi. Đất nước đang kháng chiến còn nghèo, ăn bận thế này là phải rồi còn đòi gì nữa”. Thấy chúng tôi có vẻ buồn, Bác an ủi: “Thôi được, Bác sẽ thay áo, các chú phải quay nhanh lên…”. Quay xong, Bác lại thay áo nâu để tiếp tục Hội nghị. Về sau chúng tôi mới thấy được ý nghĩa chân thực trong cuộc sống và làm việc của Bác và Bác không bằng lòng phô trương hình thức… Nhất là khi cùng với Roman Karmen quay Bác trong bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi”, thấy hình ảnh của Bác xuất hiện trong các cuộc họp, trên bàn làm việc rất tự nhiên như công việc hàng ngày của Bác.

Sau Hiệp định Genève, tôi được trở về Nam bộ quay phim chuyển quân tập kết ra Bắc, tôi có mang trở về một máy quay phim Arriflex mua tại Sài Gòn, loại máy quay phim hiện đại lúc bấy giờ.

Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng. Bác về Thủ đô, duyệt binh ngày 2 tháng 9 tại Quảng trường Ba Đình. Những người quay phim chúng tôi với ý muốn phô trương lực lượng để tuyên truyền. Chúng tôi đề nghị Ban tổ chức cho cưa tất cả hàng cây trước quảng trường. Nghe việc ấy, Bác không cho và nói: “Các chú mới về Hà Nội đã trồng được bao nhiêu cây chưa mà nay đòi cưa cây để quay phim cho đẹp”.

Đầu năm 1955, một phái đoàn hòa bình Pháp đầu tiên sang Việt Nam do bà Yves Farge dẫn đầu. Bác tiếp tại Phủ Chủ tịch. Lần này Bác bận bộ đồ cán bộ. Tôi được phân công quay phim. Lúc hòa bình mới lập lại còn thiếu thốn, tôi có máy quay phim mới đem ra từ Nam bộ. Nhưng không có đèn, tôi chỉ mượn được hai cây đèn có chân, bố trí ánh sáng không đủ cho phòng tiếp khách. Tôi lo sợ Bác đi ra không đúng chỗ đặt đèn, hình ảnh Bác sẽ tối không đẹp. Tôi đề nghị anh Vũ Kỳ cho phép tôi được vào báo cáo với Bác chỗ đặt đèn. Anh Vũ Kỳ vào và trở ra nói: “Bác bảo chú Mai Lộc yên tâm, Bác biết rồi”. Và đúng là Bác biết rồi. Bác đi, Bác bắt tay và chủ động mời khách ngồi đúng theo luồng ánh sáng đã định sẵn như một đạo diễn điện ảnh tại trường quay. Tôi vui sướng biết bao khi nhìn vào ống ngắm của máy quay.

Năm 1953, Bác ký sắc lệnh thành lập ngành chụp ảnh và chiếu bóng, tiền thân của ngành nghệ thuật điện ảnh Việt Nam ngày nay. Năm 1954, anh em điện ảnh miền Nam chúng tôi tập kết ra Bắc, góp sức cùng với các bạn đồng nghiệp miền Bắc xây dựng một ngành nghệ thuật điện ảnh tổng hợp dân tộc và hiện đại làm cơ sở vững chắc cho điện ảnh giải phóng miền Nam trong thời chiến tranh chống đế quốc Mỹ.

Những mẩu chuyện Bác săn sóc chăm lo những mầm non của điện ảnh dân tộc từ trong rừng rậm của Việt Bắc, từ buổi khó khăn gian khổ của hai cuộc kháng chiến đã hun đúc tinh thần, khắc phục khó khăn giúp anh em điện ảnh giải phóng ở miền Nam làm ra những bộ phim tài liệu chiến tranh chống Mỹ được thế giới hoan nghênh tặng những giải thưởng cao thật là xứng đáng. Có thể nói, không có bộ phim nào của điện ảnh giải phóng gửi ra miền Bắc làm hậu kỳ mà Bác không xem.

Cuộn phim “Chiến thắng Tây Ninh” (1967), Bác đã già yếu rồi nhưng Bác vẫn xem và nhận xét bộ phim đạt yêu cầu.

Ngày Bác ra đi, ngày 3-9-1969, cả Nam bộ sửng sốt, tim như ngừng đập. Tất cả các cơ quan Trung ương Cục trong rừng đau đớn thẫn thờ suốt mấy ngày. Nỗi đau thương mất mát này không gì hàn gắn được. Anh chị em điện ảnh chúng tôi sau những ngày ngẩn ngơ về tin Bác ra đi cố gắng biến đau thương thành sức mạnh bám chân anh giải phóng xung phong diệt thù, đem về những thước phim nóng bỏng để dâng lên truy điệu Bác.

Ngày 30-4-1975, chiến dịch mang tên Bác, chúng tôi lại theo chân giải phóng quân quét sạch quân thù giải phóng toàn bộ miền Nam, thống nhất đất nước. Cả nước reo vui một niềm vui trọn vẹn. Nhưng thiếu vắng Bác, nỗi đau này lại nhói lên trong tim can chúng tôi. Đúng vào ngày 1-5, năm ấy cả rừng người đổ về Dinh Độc Lập, Ủy ban Quân quản ra mắt đồng bào Sài Gòn. Chúng tôi lại nhớ những câu thơ Tố Hữu:

… Miền Nam đang thắng mơ ngày Hội
Rước Bác vào thăm thấy Bác cười.

Miền Nam đã sạch bóng quân thù, tranh in Bác Hồ cười còn đó. Nhưng tiếc thay! Bác đã ra đi lâu rồi.

Đối với anh chị em điện ảnh miền Nam dù có vinh dự gặp Bác hay chưa cũng đều tâm niệm: Bác đã sắp xếp cho những người làm nghệ thuật điện ảnh dân tộc có được chỗ đứng dưới ánh sáng mặt trời: là thành viên của ngành thì nguyện phấn đấu dưới mái tóc, hàm râu, đôi mắt, nụ cười và vầng trán cao mênh mông của Bác.

Mai Lộc
(Hội Điện ảnh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 444

Ý Kiến bạn đọc