Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ tin dùng tướng Nguyễn Bình

Vốn là đảng viên Quốc dân Đảng nhưng tướng Nguyễn Bình lại được Bác Hồ rất tin dùng. Bác Hồ cử ông vào Nam khi ông chưa là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, phong tướng cho ông, vị trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

 

Trung tướng Nguyễn Bình được đánh giá là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công, có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu. Ông nổi tiếng về khả năng tiến hành chiến tranh du kích, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Điều này cũng thể hiện rõ trong những năm tháng ông ở Chiến khu Đông Triều (Đệ tứ chiến khu).

Theo cuốn “Đất chiến khu xưa” (Hội VHNT Đông Triều, năm 2000), Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1908 tại thôn An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm 1925, ông tham gia bãi khóa ở Hải Phòng để phản đối chế độ hà khắc của thực dân Pháp. Năm 1926, ông tiếp tục tham gia lãnh đạo phong trào học sinh ở Hải Phòng để tang cụ Phan Châu Trinh. Sau đó ông lên tàu viễn dương đi Pháp và bị bắt ở Mác-xây. Thực dân Pháp đưa ông về nước kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo.

Trong thời gian ở Côn Đảo ông được tiếp xúc với nhiều chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như: Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt… nên đã chuyển dần từ lập trường Quốc dân Đảng sang lập trường tư tưởng Cộng sản. Chính vì thế sau này, Quốc dân Đảng đã coi ông là kẻ phản bội, chọc mù một mắt của Nguyễn Bình. Khi ông làm lãnh đạo nghĩa quân ở Hải Phòng, Đông Triều, nhân dân vẫn gọi ông là “Độc nhãn tướng quân”.

Năm 1935, Nguyễn Bình ra tù và quay lại hoạt động cách mạng. Cho đến năm 1944, khi đồng chí Nguyễn Văn Tuệ (sư Tuệ) đi gặp Nguyễn Bình mời ông về Đông Triều lập chiến khu. Khi chiến khu được thành lập thì Nguyễn Bình thành tư lệnh của Chiến khu Đông Triều. Nguyễn Bình là người trực tiếp phụ trách công tác quân sự, binh vận và trang bị vũ khí cho nghĩa quân. Theo kế hoạch của Nguyễn Bình, một đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của Đông Triều đã được thành lập bao gồm những chiến sĩ tình nguyện sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng quê hương.

So-612--Bac-Ho-tin-dung-tuong-Nguyen-Binh---Anh-1
Tướng Nguyễn Bình (đứng giữa, hàng sau) trong một lần gặp gỡ Bác Hồ.
(Ảnh tư liệu của Thị ủy Đông Triều) (Nguồn: baoquangninh.com.vn/)

Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Triều” (NXB Chính trị quốc gia, năm 2011), cuối tháng 4-1945, Nguyễn Bình về chùa Bắc Mã, thống nhất thành lập lực lượng vũ trang thoát ly. Sau đó, ông về Hải Phòng vận động anh em binh lính ở các đồn địch về với cách mạng. Ông đã mang về được nhiều vũ khí đạn dược, cả khẩu đại liên, bản đồ đi biển.

Cùng với đó, ông mua sắm súng trường, mìn, tiểu liên, lựu đạn mang về chiến khu. Nguyễn Bình còn thống nhất lực lượng cách mạng ở Đông Triều, Thủy Nguyên, Chí Linh nhằm chiếm lĩnh một địa bàn rộng lớn. Giữa tháng 5-1945, lực lượng vũ trang tập trung được thành lập ở chùa Bắc Mã, bao gồm tự vệ các làng xã, những binh sĩ yêu nước bỏ hàng ngũ địch về với cách mạng, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của tướng Nguyễn Bình. Lực lượng này lớn mạnh nhanh chóng, làm chỗ dựa vững chắc để lập kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 6-6-1945, Nguyễn Bình và các đồng chí lãnh đạo chiến khu đã bàn kế hoạch khởi nghĩa, ấn định vào ngày 8-6. Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy đánh vào huyện lỵ Đông Triều.

Khoảng 5 giờ sáng ngày 8-6, Nguyễn Bình phát lệnh xuất quân. Đi đến đâu đoàn quân Việt Minh cũng được nhân dân chào đón. Nguyễn Bình dẫn quân vào cướp kho súng của địch, bao vây huyện đường, thu giữ tài liệu, giấy tờ, cướp thóc của Nhật. Các mũi tiến công vào Tràng Bạch, Mạo Khê và Chí Linh cũng giành được nhiều thắng lợi. Sau đó, Nguyễn Bình tổ chức mít tinh ngay tại huyện lỵ tuyên bố giải tán chính quyền tay sai của Nhật, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh.

Chiều 8-6, Ủy ban Quân sự cách mạng được thành lập gồm nhiều đồng chí, trong đó, người đứng đầu Ủy ban là Nguyễn Bình. Sáng hôm sau, Ban lãnh đạo đã tuyên bố thành lập chiến khu mang tên “Đệ tứ chiến khu” và thành lập lực lượng vũ trang chiến khu mang tên “Du kích cách mạng quân” và công bố danh sách Ủy ban Quân sự cách mạng. Việc xây dựng chiến khu đã giúp củng cố lực lượng, nhanh chóng phát triển lực lượng ra địa bàn rộng lớn hơn ở duyên hải phía Bắc, đập tan chính quyền tay sai thực dân góp phần làm nên thành công của Cách mạng tháng Tám. Nguyễn Bình đã chỉ huy du kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và cướp vũ khí ở một số huyện.

Khi thực dân Pháp chuẩn bị đánh chiếm trở lại toàn Nam bộ, Nguyễn Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang. Cuối tháng 9-1945, Nguyễn Bình về Bắc bộ phủ để gặp Bác Hồ. Khi đồng chí Nguyễn Bình tới nơi, Bác chỉ hỏi thăm vài lời về sức khỏe rồi đi thẳng vào việc: “Chắc chú Bình đã biết, giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn đêm 29-3. Chúng âm mưu chiếm Nam bộ, làm bàn đạp thôn tính nước ta lần thứ hai. Tình hình Nam bộ hiện nay như nước sôi lửa bỏng, đồng bào và chiến sĩ Nam bộ đang cần một người chỉ huy”.

Lời của Bác là mệnh lệnh Tổ quốc. Nguyễn Bình nghĩ vậy và về Hải Phòng ngay, bàn giao công việc cho Bộ Tư lệnh Quân khu Duyên Hải, rồi tức tốc quay lại Hà Nội gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận nhiệm vụ tài liệu giấy tờ cần thiết rồi ra ga xe lửa đáp tàu vào Nam. Trước khi đi, đồng chí Nguyễn Bình được Hải Phòng tặng cho khẩu súng lục. Đồng chí đã giương cao súng mà thề rằng: “Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ vào giúp miền Nam cho tôi. Hải Phòng tin yêu tặng tôi khẩu súng. Nếu để mất miền Nam tôi sẽ chết cùng khẩu súng này”.

Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, các đơn vị bộ đội Nam bộ được biên chế thống nhất thành các chi đội Vệ quốc đoàn. Tại Hội nghị Quân sự Nam bộ, đồng chí Nguyễn Bình đã được cử làm Tư lệnh quân giải phóng Nam bộ, đồng chí Hoàng Đình Dong làm chính ủy. Đồng chí Nguyễn Bình đã trở thành vị tư lệnh đầu tiên của Lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam bộ.

Xứ ủy lâm thời Nam bộ đã quyết định tổ chức Nam bộ thành 3 khu: khu 7, khu 8 và khu 9. Khu 7 gồm Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh. Bộ Tư lệnh Quân khu do Nguyễn Bình làm khu bộ trưởng, Trần Xuân Độ làm chính ủy. Tướng Nguyễn Bình đã triệu tập cán bộ huấn luyện của trại Vĩnh Cửu về Thủ Dầu Một, tại đây, tướng Nguyễn Bình đã nghĩ ngay đến việc đào tạo cán bộ quân chính. Ông quyết định thành lập Trường Quân chính miền Đông và trực tiếp làm hiệu trưởng của Trường. Khóa học đầu tiên tháng 12-1945, của Trường mang tên Khóa quân chính Hồ Chí Minh. Học viên tốt nghiệp khóa này được tướng Nguyễn Bình phân công về các địa phương để chỉ đạo chiến tranh du kích. Học viên khóa 1 cùng với khóa 2 (khóa Võ Nguyên Giáp) và khóa 3, khóa 4 được đưa về các địa phương thành lập một lực lượng chính quyền cơ sở gọi là Tự vệ Thành.

Năm 1946, đồng chí Nguyễn Bình được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 20-1-1948, ông được phong quân hàm trung tướng và cử làm tổng chỉ huy chiến trường Nam bộ. Khi Bộ Tư lệnh Nam bộ được thành lập vào tháng 10-1948, ông làm Tư lệnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ.

Tháng 9-1951, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới, bị quân Pháp phục kích và hy sinh tại tỉnh Xtung Treng, Campuchia. Trung tướng Nguyễn Bình được truy tặng Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng LLVTND. Điếu văn tiễn đưa trung tướng Nguyễn Bình do thượng tướng Phạm Văn Trà thay mặt Đảng ủy Quân sự Trung ương đọc, có đoạn: “Bản thân khu trưởng Nguyễn Bình đã dũng cảm táo bạo, một mình đột nhập vào tận hang ổ của địch tại Sài Gòn để thị sát nắm bắt tình hình địch, chỉ đạo tác chiến đánh địch vòng ngoài, mặt khác chỉ đạo đưa chiến tranh du kích vào lòng địch”. Thiếu tướng Tô Ký nhận định: “Hồ Chủ tịch gọi Nguyễn Bình về Hà Nội giao nhiệm vụ vào Nam bộ chỉ huy quân sự với tư cách đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh và anh ấy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Nguyễn Bình là con người dũng cảm, gan dạ, mưu trí, quyết đoán nên nhiều lần anh đã tự thoát hiểm. Là người rất hào hiệp, rất chân thành với bạn bè và đồng đội, nhờ vậy mới lãnh đạo được đội quân ô hợp lúc bấy giờ. Nguyễn Bình có công lớn đối với Nam bộ buổi đầu kháng chiến chống Pháp”.

Phạm Học
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 612

Ý Kiến bạn đọc