Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ chú trọng nâng cao dân đức

Cùng với việc chăm lo mở mang dân trí nhằm đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, Bác Hồ hết sức chú trọng việc nâng cao dân đức. Đức là cái gốc của phẩm giá con người. Vì thế, dân đức không tách rời dân trí. Có khi, do kém dân trí mà dẫn đến thiếu dân đức. Nhưng phần nhiều, và suy cho cùng, do thiếu dân đức mà sinh ra kém dân trí! Vì vậy, nâng cao dân đức là điều Bác Hồ cực kỳ coi trọng – để bồi dưỡng phẩm cách tốt đẹp cho mọi công dân, từ cán bộ, đảng viên (CBĐV) đến các tầng lớp nhân dân, nhằm “làm cho nòi giống ta thêm mạnh” (chữ Bác Hồ dùng), từ đó nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Sau khi nước nhà giành được độc lập (2/9/1945), vấn đề nâng cao dân đức là một nhiệm vụ trọng yếu. Ngày 3/9/1945, Bác Hồ công bố “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước VNDCCH”, trong đó: nhiệm vụ thứ hai – là diệt “nạn dốt”, và nhiệm vụ thứ tư – là nâng cao dân đức. Bác viết: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(“Hồ Chí Minh – Toàn tập”, tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.7). Nghiên cứu, tổng hợp các bài nói, bài viết của Bác Hồ với CBĐV và nhân dân các địa phương, chúng ta thấy lúc nào Bác cũng nhắc nhở mọi người phải thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, đồng thời nâng cao đạo đức cách mạng và đạo đức công dân. Có thể rút ra mấy vấn đề lớn mà Bác Hồ đã chỉ ra trong việc nâng cao dân đức.

Bac-Ho-thu-luoi-va-chung-vui-voi-san-pham-thu-duoc-cua-ngu-dan-xom-Son-Quang-Vinh-Quang-Xuong
Bác Hồ cùng thu lưới và chung vui với sản phẩm thu được của ngư dân xóm Sơn, xã Quảng Vinh, huyện
Quảng Xương, nay là khu phố Vinh Sơn, phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn, ngày 18-7-1960 – Ảnh Internet

Một là – Dân đức biểu hiện ở lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác kêu gọi toàn dân: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc” (19/12/1946). Với cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bác khích lệ đồng bào: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (17/7/1966). Trong hòa bình xây dựng, Bác kêu gọi các tầng lớp nhân dân: “Mỗi người lao động cần có tinh thần dám nghĩ, dám làm, vươn lên hàng đầu, thành người lao động tiên tiến. Công nhân, nông dân ta và người lao động trí óc cần tin rằng chúng ta có đầy đủ sức mạnh, can đảm và thông minh để xây dựng cuộc đời mới của mình” (3/1961).

Hai là – Dân đức biểu hiện ở tinh thần Đoàn kết, xây dựng ý thức cộng đồng dân tộc.

Trong bài “Nên học sử ta” (viết bằng văn xuôi – năm 1942, nhằm giới thiệu cuốn “Sử nước ta” bằng thể lục bát do chính Người viết – năm 1941), Bác nhấn mạnh: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do./ Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn./ Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do” (“Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr. 35). Bác thường căn dặn nhân dân ta: Vừa phải đoàn kết quốc dân, vừa phải đoàn kết với bầu bạn quốc tế . Nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của tinh thần đoàn kết, Bác nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết./ Thành công, thành công, đại thành công”(1951). Bác dạy: Trong đoàn kết, phải có đấu tranh tự phê bình và phê bình “để cùng nhau tiến bộ” (Bài “Đạo đức cách mạng” – 1958).

Ba là – Dân đức biểu hiện ở đạo đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính trong mỗi con người.

Đây là những đức tính cơ bản, tốt đẹp nhất của con người. Bác luôn luôn răn dạy CBĐV và nhân dân phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu tu dưỡng những phẩm chất này. Trong văn bản: “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam DCCH” (tài liệu đã dẫn), Bác nêu rõ: “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính”. Trong bốn đức tính đó, Bác đặc biệt coi trọng chữ “Liêm”. Bác viết: “Liêm là trong sạch, không tham lam” ; và Bác giải thích rõ ràng về chữ “Liêm”: Không tham tiền của, địa vị, danh tiếng; không tham ăn ngon, sống yên; không buôn gian bán lậu bóp hầu bóp cổ đồng bào; không tham ô, lãng phí;… Bác yêu cầu: “Trước hết, cán bộ phải làm gương về thực hiện chữ Liêm để làm kiểu mẫu cho dân”. Và Bác nhấn mạnh: “Một dân tộc biết Cần, Kiệm, biết Liêm sỉ, là một dân tộc giầu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ” (“Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục”, sđd, tr. 87-88).

Bốn là – Có dân đức, tức là mỗi người phải làm tròn bổn phận công dân.

Trong bài “Đạo đức công dân” (Báo Nhân dân, 15/1/1955), Bác viết: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là:/- Tuân theo pháp luật nhà nước./- Tuân theo kỷ luật lao động./- Giữ gìn trật tự chung./- Đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số để xây dựng lợi ích chung./- Hăng hái tham gia công việc chung./ Bảo vệ tài sản công cộng./ – Bảo vệ Tổ quốc”. Trong việc “giáo dục đạo đức công dân” (chữ Bác dùng), Bác nêu rõ: “Giáo dục là chính, nhưng đối với những kẻ ngoan cố không chịu sửa đổi thì chính quyền phải dùng phép luật. Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”.

Trong công cuộc nâng cao dân đức, Bác Hồ hết sức quan tâm việc giáo dục đạo đức cách mạng cho CBĐV. Bởi vì, CBĐV phải làm gương sáng về đạo đức, thì nhân dân mới học tập và noi theo. Những bài viết tâm huyết của Người, như bài phê phán “Chủ nghĩa cá nhân” (1948); hai bài về “Đạo đức cách mạng” (1955 và 1958); bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) – là những lời dạy đạo đức cực kỳ quý báu của Bác đối với CBĐV và toàn dân ta.

Những điều Bác Hồ dạy về nâng cao dân đức đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Nhìn thẳng, nhìn sâu vào hiện thực đời sống đất nước và dám nói lên sự thật, những người có lương tri không thể phủ nhận: Hiện nay, Dân đức của người Việt còn quá nhiều yếu kém: Nạn buôn bán thực phẩm bẩn tràn lan lấy lãi cao, làm suy yếu giống nòi; tệ buôn gian bán lận, trốn thuế, lậu thuế diễn ra khắp nơi; các tệ nạn xã hội (cờ bạc, nghiện ngập ma túy, hiếp dâm, cướp của giết người, côn đồ hung hãn hoành hành,…) ngày càng gia tăng và ngày càng trẻ hóa; tham gia giao thông bát nháo, tai nạn giao thông nghiêm trọng do không tuân thủ luật giao thông; nạn rải đinh trên đường, ném đá lên tàu xe; vứt rác, xả rác, khí thải, nước thải “tự do vô tội vạ” làm ô nhiễm môi trường; khai thác đất đá, cát bừa bãi, gây sạt lở sông ngòi, đổ vỡ nhà cửa; nạn nói tục chửi bậy, ăn nói oang oang giữa chốn đông người; tệ lười biếng làm việc của các cán bộ, nhân viên các công sở; nạn bạo lực học đường; nạn tham nhũng cực kỳ tinh vi, phức tạp; tệ làm “biến dạng” hồ sơ điều tra, tố tụng, gây oan sai cho người dân và để lọt lưới tội phạm; căn “bệnh thành tích”; thói mất đoàn kết xóm phố; thú ăn chơi hưởng lạc của bộ phận không nhỏ cán bộ có chức quyền làm sa đọa đạo đức, lối sống; vấn đề “lợi ích nhóm”;…

Giáo dục đạo đức công dân (bao gồm cả CBĐV) để mỗi con người Việt Nam đều có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, văn minh, nhằm xây dựng nước giầu, dân mạnh, nâng cao vị thế của đất nước và phẩm giá con người Việt Nam ta trên trường quốc tế.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên chính – Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 454

Ý Kiến bạn đọc