Người tốt - Việc tốt

Bác Hồ chăm sóc cán bộ, chiến sĩ

 

Tấm lòng Bác Hồ với chiến sĩ

Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác):

- Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14 ly 5, ụ rất sơ sài, nếu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm. Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

- Các đồng chí có nước ngọt uống không?

- Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

- Dưới hội trường thấy có nước ngọt cơ mà!

- Đấy là dành cho các “ông bà” đến họp mới được uống, còn bọn tôi lấy đâu ra!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác.

Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng:

- Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu.

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu. Lương của Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ chi tiêu. Mọi chi phí sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả. Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết bài nhiều, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm cho Bác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp Tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan xung quanh Bác, mua lợn để đón xuân. Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

- Thưa Bác, còn lại tất cả 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng).

Bác bảo:

- Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Về sau, Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân báo cáo lại cho văn phòng Phủ Chủ tịch biết: số tiền của Bác đủ mua nước uống cho bộ đội Phòng không – Không quân một tuần.

Bát cháo chia ba

Thời chống Pháp, một chiều mùa hè năm 1952, Bác đến thăm Trường huấn luyện chính trị Trung ương. Bấy giờ trường mới chuyển tới bản Lời, gần quán Vuông, Thái Nguyên. Sau khi nói chuyện với các học viên, Bác về “nhà khách”, một túp lều tre nứa, lợp lá, nghỉ đêm để sáng mai đi sớm. Bí thư Đảng ủy trường là đồng chí Võ Hồng Cương cùng đồng chí phụ trách bảo vệ đem chăn màn đến ngủ sát bên nhau, hẹn cùng dậy sớm lo bữa ăn sáng để Bác dùng trước khi lên đường, vì họ không biết Bác sẽ về đâu, xa hay gần. Bàn bạc mãi cả hai mới quyết định thịt một con gà giò “tăng gia” để nấu cháo gà (gà to sợ Bác phê bình, gà bé quá lại không đành lòng). Hai quan “hỏa đầu quân” tán chuyện mãi, ngủ quên lúc nào không biết. Chẳng có giờ chính xác, nên cứ mổ gà sớm, vo gạo, đặt lên bếp. Khoảng gần một giờ sau nồi cháo đã chín. Đồng chí Cương cời than ủ nồi cháo cho nhừ. Chờ mãi, chờ mãi trời vẫn chưa sáng. Hai anh không dám đi nằm, sợ ngủ quên bèn dựa lưng vào nhau gật gà gật gù. Bỗng đồng chí cảnh vệ của Bác lay lay. Bây giờ “anh nuôi” mới choàng dậy. Nhìn vào nồi cháo thì ôi thôi nồi cháo đã cạn, chỉ còn độ một bát. Không biết tính toán sao đây thì đồng chí cảnh vệ mách đồng chí Cương:

- Anh cứ mang bát cháo này lên, mời Bác dùng và bảo chúng tôi đã ăn dưới này với các anh rồi.

Bí thư mừng quá:

- Thật là sáng kiến…

Anh bưng tô cháo, một cái bát con, một thìa nhỏ và một lọ muối tiêu lên nhà khách.

Bác hỏi:

- Còn hai chú kia đâu?

Đồng chí Cương thưa với Bác theo như mưu mẹo đã bàn…

Bác cười bảo:

- Chú xuống lấy thêm cho Bác hai cái bát, hai cái thìa, rồi bảo hai chú lên ăn với Bác. Có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít, cùng nhau ăn cho ấm bụng.

Bí thư đỏ mặt, đành nói dối tiếp:

- Thưa Bác, hai đồng chí kia đang ăn.

Bác lại cười, lắc đầu nói:

- Cháo này là các chú chắc ngủ quên, để cạn nên chỉ còn chừng này thôi. Chú gọi hộ Bác hai chú cảnh vệ đi.

Hai đồng chí cảnh vệ phải lên… Bác sẻ bát cháo đặc chia 3 phần đều nhau rồi nhận một bát ăn ngon lành.

Đứng dựa cột nhà khách, chủ nhà, cấp dưỡng, đồng chí Cương nhìn Bác mà nước mắt rưng rưng…

So-613--Bac-Ho-cham-soc-can-bo-chien-si---Anh-1
Bác Hồ thăm một đơn vị bộ đội thuộc Quân khu 4 (năm 1961).
(Nguồn: tanphu.hochiminhcity.gov.vn).

Tặng tiêu chuẩn cho chiến sĩ

Năm 1952, khi vùng tự do được mở rộng sau nhiều chiến dịch lớn, các đại đoàn chủ lực đã được thành lập. Chính sách thuế nông nghiệp được ban hành, nhân dân nhiều vùng ra sức đóng góp thuế nông nghiệp để nuôi quân. Bác đề nghị tăng gấp đôi tiêu chuẩn cho bộ đội (lúc đó chiến sĩ được tiêu chuẩn 1 ký gạo/ngày, kể cả ăn và tiêu vặt, cán bộ thì được hơn). Chủ trương đó được phổ biến tới Tổng cục Hậu cần và Cục quân lương. Các đồng chí quân lương nhiều lần làm đề án trình Bác, căn cứ vào thực tế thóc có trong kho và tính toán cân đối với Bộ Tài chính, thì tăng gấp đôi cho cán bộ từ trung đội trở lên, còn chiến sĩ chỉ thêm được 2 lạng tức là mỗi ngày được tiêu chuẩn 1,2 kg gạo. Tôi (Ma Văn Trường) thấy nhiều đêm Bác thao thức về việc này. Có lần đến phiên tôi trực, Bác hỏi:

- Sức trai như chú mỗi bữa ăn mấy bát cơm thì no?

Lúc ấy ăn uống thức ăn chẳng có gì, chủ yếu là ăn cơm. Tôi hiểu tâm trạng Bác hỏi là có ý, nên đã thưa thực lòng:

- Thưa Bác, như sức cháu mỗi bữa ăn 5 bát mới no.

- Năm bát cơm phải một bơ đầy gạolà 0,33kg, ngày ba bữa, riêng ăn đã là 1 kg rồi.

Vào một đêm tháng Chạp năm đó, trời rét như cắt thịt. Tôi thu mình trong chiếc áo dạ chiến lợi phẩm đứng dưới nhà sàn của Bác. Ánh đèn trên nhà vẫn sáng. Khoảng 1 giờ sáng, có tiếng lẹp xẹp trên sàn nứa, tôi đoán Bác lại suy tư điều gì, xuống hỏi tôi đây.

Đúng như dự đoán, chỉ hơn một phút sau Bác đã đứng cạnh tôi. Bác đưa cho tôi một điếu thuốc lá hút cho đỡ rét rồi hỏi:

- Chú ăn cơm chiều lúc mấy giờ?

- Thưa Bác, lúc 5 giờ rưỡi ạ!

- Chú đã đói chưa?

Biết là không thể nói dối Bác được, tôi nói thật:

- Thưa Bác, đói rồi ạ!

Bác vui hẳn lên như tìm ra một vật quý và nói giọng đầy thương yêu:

- Đúng rồi, chú bảo vệ ở hậu phương mà lúc này đói, thì các chiến sĩ công đồn, phục kích quân địch, vào lúc này chắc sẽ đói gấp đôi. Vậy mỗi chú chỉ có 1,2 kg gạo thì đánh giặc sao nổi.

Bác lên sàn rồi quay lại rất nhanh đưa cho tôi một bắp ngô nếp luộc rất to.

- Phần của chú đây, chú ăn đi cho đỡ đói để làm nhiệm vụ.

Tôi biết không thể từ chối, nên cầm bắp ngô ăn, trong bụng vẫn băn khoăn không biết đêm nay Bác đã ăn gì chưa?

Khi nhà sàn tắt đèn, tôi liếc nhìn đồng hồ thì đã 2 giờ sáng. Những gì diễn ra tiếp đó thì tôi không được rõ, chỉ biết rằng đầu tháng sau các chiến sĩ bảo vệ chúng tôi cũng được tăng tiêu chuẩn 2 kg gạo/ngày.

Chiếc áo trấn thủ Bác cho

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cơ quan Trung ương lại chuyển lên Việt Bắc. Năm sau tôi từ Tuyên Quang về nhà ăn Tết. Chưa hết Tết thì đã có người đến nhà gặp tôi. Người đó cầm theo một bức thư của anh Văn. Bức thư anh Văn nói Trung ương cần người, nên điều động tôi về làm việc. Khi đến Tuyên Quang, anh Văn hỏi tôi:

- Còn nhớ “Ông Cụ” không?

- Nhớ chứ – Tôi nói.

Chúng tôi cùng cười, vì tôi với anh Văn đều nhắc lại hai tiếng “Ông Cụ” vốn dùng để gọi Bác trong thời kỳ bí mật. Bây giờ mọi người đã quen gọi Hồ Chủ tịch là Bác rồi. Anh Văn nói tiếp:

- Đoàn thể tin anh. Biết anh đã ở với Bác, nên muốn anh sang làm việc bên Bác. Anh thấy thế nào?

Đoàn thể phân công đâu thì tôi ở đó. Được sang làm việc với Bác thì còn gì bằng!

Thế là tôi lại gặp Bác. Bấy giờ tóc Bác đã lốm đốm bạc, nhưng Bác rất khỏe mạnh, béo hơn trước, tôi rất mừng. Mừng hơn nữa là thấy có bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Bác. Thấy tôi Bác cũng mừng lắm:

- Chú vẫn khỏe chứ?

- Thưa Bác, cháu khỏe ạ.

- Về đây chú có đồng ý không?

- Thưa Bác, cháu rất muốn được gần Bác ạ.

- Chú đã học thêm được nhiều chưa?

- Cháu đã viết được nhanh hơn, đọc cũng nhanh hơn. Nhưng vẫn chưa làm thạo 4 phép tính.

- Chú về đây nên chịu khó học tập.

Lần nào gặp, Bác cũng nhắc tôi cố gắng học tập. Nghe lời Bác, tôi ra sức học, vì hiểu rằng không học tập nâng mình lên thì không công tác được.

Bọn thực dân Pháp nhảy dù xuống Việt Bắc. Bác và Trung ương đã biết trước âm mưu của chúng. Sau khi hội ý với Trung ương Đảng, bàn bạc kế hoạch với Bộ Tổng tư lệnh, Bác cho lệnh dời chỗ ở. Nhiều người hỏi Bác về tình hình, Bác bảo:

- Cái ô mạnh ở những cái gọng, gọng mà gãy thì cái ô sẽ cụp xuống. Chỉ tiếc là ta chưa đủ lực lượng để thò tay vào bấm chốt trong ô nên Bác cháu ta phải vất vả một thời gian nữa. Ta trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi.

Bác đã lấy 8 chữ của khẩu hiệu chiến lược đó đặt tên cho chúng tôi, những người giúp việc Bác. Tôi được Bác đặt là Thắng: Triệu Hồng Thắng (*) .

Đêm đó, Bác cùng cơ quan chuyển địa điểm. Sau nhiều đêm vất vả, Bác cùng chúng tôi đến địa điểm mới, nhưng rồi chúng tôi lại thu xếp tiếp tục chuyển cơ quan. 3 giờ sáng, Bác cùng chúng tôi lên đường. Vì cần đi gấp, Bác ra lệnh cho đi cả đêm lẫn ngày, đi lẻ từng nhóm hai, ba người một. Tôi được đi cùng nhóm với Bác. Trời về sáng, sương xuống càng dày đặc, lại phải vượt nhiều đèo dốc. Nhưng Bác vẫn giữ đều tốc độ. Trên đường đi Bác thấy có một cái lều bỏ trống. Bác bảo nghỉ một lát cho đỡ mệt. Biết Bác nghiện thuốc lá, tôi thưa với Bác:

- Bác châm thuốc lá hút, Bác ạ. Cháu che lửa cho.

Bác bảo:

- Bác rất thèm hút, nhưng mà phải cố giữ. Một đốm lửa có thể thiêu cả khu rừng! Kỷ luật đi đường cần phải nghiêm.

Sáng dậy, tiếp tục lên đường, và trưa hôm đó, chúng tôi dừng lại ở bên bờ suối. Đang ăn cơm thì nghe tin bọn Pháp nhảy dù xuống chiếm cơ quan vừa mới dọn đi. Cơm nước xong, Bác trải bạt nằm nghỉ ngay dưới gốc cây to. Sau mấy ngày băng rừng vất vả Bác thiếp đi. Nhưng đến địa điểm mới vài hôm, bọn địch lại đánh rộng ra gần đấy. Bác lại ra lệnh dời cơ quan…

Mỗi ngày sống bên Bác là mỗi ngày tôi được thêm những bài học vô cùng quý báu. Bác chỉ bảo từng ly từng tý. Một kỷ niệm mà mỗi khi nhắc lại tôi thường bồi hồi xúc động, đó là chuyện Bác cho tôi chiếc áo trấn thủ. Mùa đông năm ấy, Việt Bắc rét hơn mọi năm. Chúng tôi sống trong hang đá, lại càng rét. Sáng ra sương muối dày đặc, làm cóng buốt chân tay. Khi mới về công tác với Bác, tôi chỉ có một bộ quần áo vải mộc. Mấy hôm liền, tôi đi công tác, ngực bị lạnh, làm tôi ho luôn. Hôm ấy vào đưa thư cho Bác, tôi đã cố nhịn ho nhưng không sao chịu được. Thấy tôi ho, Bác hỏi:

- Chú ốm à, chú Thắng?

- Thưa Bác, không ạ!

Bác nhìn tôi:

- Sao trông người chú khác thế?

- Không ạ…

Chưa nói xong tôi đã ho rũ ra. Bác liền đứng dậy:

- Chú không có áo rét à?

Bấy giờ cán bộ còn nghèo. Tôi ngần ngừ định không nói thật, nhưng rồi không dám dối Bác. Trả lời xong, tôi quay ra thì Bác gọi lại và đến đầu giường lật tấm chăn mỏng, lấy ra chiếc áo trấn thủ màu ngả vàng Bác vẫn thường mặc, đưa cho tôi, Bác nói:

- Chú mặc tạm cái này cho đỡ lạnh. Mùa đông cốt nhất phải giữ ngực cho ấm.

Tôi không dám cầm. Mùa rét, Bác cũng chỉ có một chiếc áo trấn thủ và một chiếc áo khoác ngoài. Mà Bác đã già rồi, ít chịu được rét. Thấy tôi chần chừ, Bác bảo:

- Chú mặc đi, cho đỡ rét.

- Thưa Bác…

- Chú cứ mặc vào.

Nhìn đôi mắt trìu mến của Bác, tôi không dám từ chối nữa. Bác giúp tôi cài cẩn thận từng cúc áo một. Có chiếc áo của Bác, ngực tôi ấm dần. Ấm bằng hơi ấm của bông và cả bằng tình thương của Bác. Nhờ có chiếc áo trấn thủ, tôi dần dần khỏi ho. Tôi giữ gìn chiếc áo Bác cho rất cẩn thận. Chỉ những lúc thật rét mới mặc. Tôi có ý định giữ chiếc áo đó làm kỷ niệm, nhưng tôi không thực hiện được ý định. Một năm, tôi về nhà ăn Tết, dân tộc Dao chúng tôi sống du canh du cư, làm ăn thất thường, nên đời sống đói khổ. Trời rất rét, bố tôi vẫn chỉ có một manh áo mỏng. Thương bố quá, tôi đã biếu bố chiếc áo trấn thủ. Chiếc áo trấn thủ đã sờn, nhưng là chiếc áo ấm đầu tiên trong đời bố tôi được mặc. Bố tôi vui lắm. Nếu biết là chiếc áo của Bác Hồ cho, chắc bố tôi sẽ vui sướng biết chừng nào! Nhưng vì nguyên tắc bí mật, tôi không dám nói.

Bố tôi mặc cho đến mấy năm chiếc áo vẫn còn tốt.

Theo phong tục người Dao, khi chết, người ta chôn theo tất cả những đồ quý giá của người đó lúc sống đã dùng. Bố tôi chết, gia đình cũng đã bỏ chiếc áo trấn thủ chôn theo. Chiếc áo trấn thủ của Bác cho đã làm ấm ngực tôi, sưởi ấm ngực bố tôi, nay bố tôi đã mất, chiếc áo lại theo xuống suối vàng mãi mãi sưởi ấm cho linh hồn bố tôi. Phải chăng đó cũng là một niềm vinh hạnh cho gia đình chúng tôi?

Nguyễn Xuân Ba (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 613

—————–
(*) Triệu Hồng Thắng, nguyên Phó Chủ tịch UBHC Khu tự trị Việt Bắc.

Ý Kiến bạn đọc