Truyện ngắn

Bà Thanh Kiu

Tôi vào viếng mộ bà Thanh Kiu ở Nghĩa địa Cồn Ma. Mộ bà nằm ở rẻo đất cuối chân đồi. Tiết cuối thu, cỏ chuyển mầu vàng úa, nằm rạp xuống, che kín cả ngôi mộ, trông xa như thể cái kén tằm. Tôi nhẹ bước tới, ngồi xuống bên mộ bà, nước mắt rưng rưng. Ôi bà Thanh Kiu! Chẳng lẽ đây là cái kết cục bi thảm của một cuộc đời lương thiện sao? Bà ơi! Khi sống, bà xót thương cả những con rắn, con chẫu chuộc bị lũ trẻ vô cớ giết chết. Vậy mà tên thất đức kia đã đang tâm sát hại bà. Cả đời bà, lúc nào bà cũng ân cần và giúp đỡ mọi người và lúc nào bà cũng cám ơn mọi người. Bà cám ơn không phải vì họ mang lợi lộc cho bà mà bà cám ơn cả khi họ cần bà giúp đỡ. Cháu là đứa trẻ mồ côi cha từ bé, đáng lẽ cháu phải cám ơn bà vì những bát mì tôm quý giá đã cứu giúp cháu khỏi đói trong những giờ lên lớp với chiếc dạ dày rỗng không thì bà lại cám ơn cháu. Bà luôn dành sự cám ơn cho người khác và mình tự nhận là người chịu ơn. Vậy mà…!

*
Ngày ấy, tôi đang còn là đứa trẻ học trung học cơ sở. Đường từ nhà tôi đến trường phải đi qua một cánh đồng lúa, dài non cây số. Quãng đường đủ thời gian cho lũ trẻ chúng tôi kể hết với nhau những chuyện xẩy ra trong ngày, chuyện gặp ma cà rồng trong giấc mơ đêm qua. Sau mỗi trận mưa đổ xuống, con đường ngập ngụa bùn đất, chỗ thấp chỗ cao bởi những chiếc xe trâu chở phân chở củi suốt ngày đi lại. Chúng tôi kéo quần quá gối, lội bì bà bì bõm. Đến cổng trường, cả bọn kéo nhau sang cầu ao nhà bà Thanh Kiu rửa cho sạch hết bùn đất rồi mới vào lớp.

Kế bên tường rào của trường là khu vườn nhà bà Thanh Kiu. Bà mở một quán hàng nhỏ, chủ yếu phục vụ học trò, mặt ngoảnh ra đường. Phía nách, sát tường bên trái, còn có một lỗ nhỏ vừa đầu người chui, thông sang sân trường. Chúng tôi đứa nào bỏ quên bút, hết vở, chỉ cần xin phép ra ngoài, đưa tiền qua lỗ cửa đó là có ngay một quyển vở kẻ ô ly, hay cái bút bi mới. Quán hàng của bà, ngoài bút bi, vở học trò, là mấy thùng mì tôm xếp chồng lên nhau. Mì tôm vẫn là món ăn xa xỉ với những đứa trò nghèo như tôi. Mì tôm mua chợ 3 ngàn một gói, pha với nước sôi cho chúng tôi ăn, bà cũng chỉ lấy 3 ngàn. Bà bảo: – Vườn nhà bà có đầy củi khô, bà chỉ đun nước sôi giúp các cháu thôi. Tội nghiệp! Bà thấy đứa nào cũng đói. Bà chỉ nhìn vào ánh mắt háu đói của chúng mày là bà biết. Khi nhận tiền, bao giờ bà cũng nói một câu: – Cám ơn cháu!

Tuoi-gia-co-doc---Thu-Ba
Tuổi già cô độc. Ảnh: Thu Ba

Nhà tôi ngày ấy nghèo rớt. Cha tôi mất sớm, mẹ tôi ốm đau liên miên, thi thoảng bà ngoại tôi đến thăm mới móc túi cho vài nghìn bạc lẻ. Nghèo thì đói. Các cụ nói cấm có sai. Cái bụng lép kẹp của tôi lúc nào cũng réo sôi ùng ục. Đói quá hóa liều. Tôi thường ăn chịu mì tôm ở quán nhà bà Thanh Kiu. Mỗi lần lấy mì pha, bà nhìn tôi, cười rồi nói: – Ăn nhanh đi con, rồi còn vào học. Bà cám ơn nhé! Bà thường gọi chúng tôi bằng con. Nghe cách nói của bà, cứ như bà đẻ ra của chúng tôi vậy. Không biết bà có cái tên là bà Thanh Kiu từ bao giờ, nhưng tôi dám chắc, đó không phải là tên thật của bà. Có lẽ vì bà gặp ai và nói với ai cũng không quên lời cám ơn mà các anh chị lớp trước đặt cho bà cái tên bà Thanh Kiu chăng? Tôi thì tôi nghĩ, đến quán mua chịu, bà cũng cám ơn, vào vườn bà xin ổi, bà cho ổi, lúc chào ra về, bà cũng cám ơn. Cái gì bà cũng cám ơn! Thế thì không phải bà Thanh Kiu thì là bà gì?

Chúng tôi tranh thủ giờ nghỉ giữa hai tiết học, kéo đến quán bà Thanh Kiu. Giờ học nào trống do thầy hay cô ốm, là dịp chúng tôi vào quấy quả quán bà. Có tiền cũng ăn mà không có cũng ăn. Bà vẫn cho mấy đứa tôi ăn chịu, khi nào có tiền thì trả cho bà. Bọn tôi dạo trong vườn trèo bưởi, hái na, hái ổi dưới vòm cây xanh mát, líu lô tiếng chào mào, chích chòe, chèo bẻo. Chót vót trên ngọn cây, mấy con cò trắng sau khi mò cua bắt ốc dưới ruộng no nê bay về đậu, thấy động, chấp chới đôi cánh trắng, nghe ngóng xem có gì nguy hiểm không, thấy yên bình, chúng lại thụt cổ xuống. Hoa quả vườn nhà, bà Thanh Kiu không bán, lũ trẻ chúng tôi ăn thỏa thích. Dạo một vòng quanh vườn rồi cả lũ tụm lại, đứng trên bờ ngắm hoa sen trong ao nhà bà. Mặt ao rộng lăn tăn sóng gợn, gió thổi hiu hiu. Từng đóa hoa sen nhẹ đưa. Thi thoảng một tàu sen nghiêng chao, những giọt sương đọng lại từ đêm, lõm bõm rơi xuống, trong ánh nắng rực rỡ ban mai, long lanh như những hạt ngọc, mặt ao sủi bong bóng, trong suốt, phát ra tiếng kêu lóc bóc.

Giữa mặt ao bỗng xuất hiện một con rắn nước đang uốn éo bơi. Toàn thân nó chìm dưới nước, vừa làm thuyền, vừa làm mái chèo, chỉ nhô cái đầu nhỏ tẹo bằng quả táo dại, hai bên thân mình nó gợn lên làn sóng li ti. Lũ chúng tôi thích thú nhặt đất đá ném theo tùm tùm. Con rắn bơi gần đến bờ, bị một hòn đất ném chắn, nó vội vàng bơi trở lại, rồi bị ném, nó lại vòng ra mặt ao. Thằng Thành Mốc ngứa mắt, rút liền trong túi quần cây giàn thun giương lên. Phạch! Con rắn nước bị bắn trúng đầu, quằn quại mấy vòng trên mặt nước rồi nổi phềnh, phơi cái bụng vừa trắng vừa xanh như nõn chuối. Bọn tôi vỗ tay đôm đốp phục tài nó. Thằng Thành mốc mũi ửng lên, phổng như quả cà chua chín. Hắn chỉ tay vào con chẫu chuộc đang ngồi chồm hỗm trên tàu lá sen: – Chúng mày xem cái tài của tao đây! Phạch! Con chẫu chuộc bị bắn trúng giữa lưng ngã ngửa ra, từ từ rơi xuống nước, trương cái bụng xanh rớt, lớp da mỏng tang, nổi lềnh phềnh. Chúng tôi thích thú reo hò. Bà Thanh Kiu đã có mặt chứng kiến từ lúc nào không biết, chỉ thấy vẻ mặt bà không vui. Bà vào nhà lấy cây sào có móc sắt ở đầu thường ngày dùng để hái trái cây trong vườn. Bà khều xác hai con vật lên bờ rồi bảo tôi lấy xẻng đào một hố đất dưới gốc cây khế ngọt. Bà bảo: – Vô cớ giết chết những con vật hiền lành là có tội đấy các cháu ạ!

Bà chỉ nói có thế thôi mà những lần sau vào nhà bà, tôi không thấy thằng Thành Mốc mang theo cây giàn thun nữa. Trước đó, đi đâu cái giàn thun cũng kè kè trong cái túi quần vá đít của hắn. Vào trong vườn, kiểu gì hắn cũng bắn rụng một vài con chim sâu hay chích chòe. Hình như hắn cũng sợ mắc tội như câu nói của bà Thanh Kiu. Sau này, cứ mỗi lần nhớ về ngôi trường cũ, trước mắt tôi lại hiện lên vẻ mặt hiền hậu, ánh mắt u buồn, thánh thiện của bà Thanh Kiu và ngôi mộ chôn chung con rắn nước với con chẫu chuộc dưới gốc cây khế ngọt.

Tôi ăn chịu mì tôm của bà nhiều đến nỗi không còn dám đến quán bà nữa. Thà chịu đói còn hơn mắc nợ, nợ lấy tiền đâu mà trả? Mà bà Thanh Kiu có giầu có gì cho cam? Một hôm, thằng Thành Mốc bảo tôi: Bà Thanh Kiu bảo lâu nay mày ốm hay sao mà không thấy đến quán bà. Bà gửi cho mày cái này này. Hắn đưa cho tôi một bọc giấy báo, cầm lên nghe lạo sạo – Đó là 5 gói mì tôm hiệu Hảo Hảo. Nước miếng từ miệng tôi chực ứa ra. Đói quá, tôi bảo thằng Thành Mốc: – Tao với mày ăn sống đi (ăn sống tức là không pha nước sôi). Chúng tôi nhai nuốt một cách thích thú. Sau này, chưa bao giờ tôi có được cảm giác sung sướng như khi nhận 5 gói mì tôm của bà Thanh Kiu và hương vị ngọt ngào khi nhai nuốt từng sợi mì tôm như thế…

Học hết bậc phổ thông, tôi vào lính, để lại món nợ đầu đời ở quán bà Thanh Kiu. Trước khi đi, tôi cố tình quên không vào chào bà. Tôi sợ bà nhớ món nợ cũ. Nhưng tôi thầm nhủ: Nhất định có ngày tôi trở lại trả nợ cho bà. Không phải số tiền nợ ấy mà phải gấp trăm gấp nghìn lần. Bà Thanh Kiu ơi! Bà ở lại khỏe nhé! Cháu sẽ quay về. Cháu hứa đấy!

Khi rời quân ngũ trở về nhà, tôi mua hai hộp sâm, ý định vào trả nợ cho bà Thanh Kiu và tặng bà để bà bồi dưỡng tuổi già thì hỡi ôi, bà Thanh Kiu đã bị hai kẻ nghiện ma túy sát hại rồi. Chúng cướp đi của bà cái rương gỗ nhỏ, nơi bà đựng những đồng tiền của những đứa trẻ nọ rồi nuôi đứa trẻ kia. Khi bà Thanh Kiu bị giết, cả trường cũng không ai biết. Đến khi lũ trẻ sang quán mua mì tôm, thấy đã hai ngày rồi mà quán bà không mở cửa, chúng mới trèo qua cổng mà vào vì nghĩ bà bị ốm. Không ngờ khi vào nhà, thấy bà nằm gục, trên tay còn nắm gói mì tôm bóc dở, trên vũng máu bầm đen dưới bục cửa. Đứa nào đứa nấy mặt mũi xanh như voạc, hớt hãi chạy ra hô hoán gọi người lớn, báo tin bà Thanh Kiu bị giết chết rồi.

Chỉ trong một ngày đêm, cơ quan điều tra đã tóm gọn hai kẻ sát nhân. Đó là hai con nghiện ma túy, chúng đã từng học trong trường và ăn nợ mì tôm ở quán bà Thanh Kiu. Khi bị bắt, cả hai đứa còn đang phê, ôm nhau nằm trong một cái lò gạch cũ giữa cánh đồng, trên tay và áo quần còn nguyên vết máu. Chúng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là do không có tiền mua ma túy để dùng, chúng bàn nhau vào nhà bà Thanh Kiu. Ban đầu thì chỉ định vào nhà bà ăn mì tôm chịu. Nhưng khi thấy cái rương gỗ của bà để dưới gầm giường, chúng chắc mẩm có rất nhiều tiền, lòng tham cùng cơn nghiện ma túy nổi lên. Nhân lúc bà Thanh Kiu đang cúi xuống, một thằng đã dùng dao nhọn đâm bà từ phía sau. Khi mở hộp gỗ, chúng không ngờ trong ấy chỉ có hơn trăm ngàn tiền lẻ. Chúng dùng hết số tiền đó mua ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Chưa dứt cơn say thì bị bắt.

*
Tôi đặt tập tiền âm phủ có mệnh giá 500 ngàn lên mộ bà rồi lặng lẽ thắp hương. Làn khói thơm ngát bay là là quanh ngôi mộ của bà như quyến luyến, vuốt ve, an ủi linh hồn bà. Có cái gì đó nghẹn trong cuống họng đang làm tôi nghẹt thở. Giờ thì bà cần gì những đồng tiền giả của tôi? Đáng lẽ khi bà còn sống, tôi nên dành thời gian vào thăm bà, giúp đỡ bà chặt củi, nhóm bếp, trồng cây, hoặc canh chừng kẻ xấu làm hại bà, bây giờ trong lòng tôi có phải thanh thản hơn không? Tôi là kẻ chậm chân, thằng ăn quỵt. Xét cho cùng, tôi cũng như bao nhiêu kẻ giả nhân giả nghĩa khác, xấu xa, đang tồn tại trên thế gian này.

Trên đường từ nghĩa địa về nhà, tôi ghé qua quán hàng của bà Thanh Kiu, lòng bùi ngùi xúc động với bao nhiêu kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. Tôi ngạc nhiên khi thấy cửa nhà bà vẫn mở. Chủ nhân bây giờ lại là bác Lãm bảo vệ của trường. Thấy tôi vào, bác Lãm nhận ra ngay: – Toản đó cháu? Về hôm nào? Ngồi nói chuyện, bác Lãm kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của bà Thanh Kiu. Bác bảo: – Tên thật của bà là Lê Thị Lợi, quê chính mãi huyện Ý Yên, Nam Hà. Bà vào đây vỡ hoang khu đất này từ những năm 65 của thế kỷ trước. Ngày còn trẻ, bà Thanh Kiu cũng có chồng hẳn hoi. Vợ chồng bà chung sống với nhau mười mấy năm nhưng không có con. Lão chồng bỏ bà đi theo một người phụ nữ khác. Bây giờ lão cũng đã già lắm rồi. Hôm bà Thanh Kiu chết, lão cũng về nhưng không phải vì thương xót người vợ cũ mà lão đòi lấy khu đất của bà. Chính quyền xã không cho phép, bởi lão không có di chúc thừa kế của chủ đất. Trích lục đỏ do bà đứng tên. Người ta tìm thấy trong ruột gối của bà, bản di chúc viết tay, nội dung khi bà qua đời, bà tự nguyện hiến khu vườn cho nhà trường làm nơi vui chơi cho lũ trẻ. Khu vườn liền kề, rộng có đến 5 sào đất. Nay mai nhà trường sẽ xây một thư viện, lấy tên: “Thư viện Bà Thanh Kiu”. Toàn bộ khu đất sẽ là vườn thực nghiệm sinh học…

Theo con đường ngày xưa đi học, nay đã đổ bê tông, tôi trở về nhà. Hai bên đường, ruộng đồng đang vào vụ cày cấy. Xa xa, miên man những thửa ruộng đang cấy dở hiện lên mờ ảo trong bóng chiều cuối thu ảm đạm, lổ loang như những mảnh vá trên lưng áo bạc màu. Bà Thanh Kiu ơi! Bà ra đi nhưng bà vẫn để lại trên đời một cái tên. Mãi mãi về sau, các thế hệ học trò tiếp nối vẫn yêu mến gọi bà bằng cái tên Thanh Kiu, gần gũi và thân thiết. Cuộc đời vẫn đẹp biết bao bởi vẫn còn những con người, với những tấm lòng nhân hậu, vô tư dâng hiến cho một xã hội ngày thêm tốt đẹp như bà…

1-2017

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 438

Ý Kiến bạn đọc