Văn học nước ngoài

Bà Barbara

 

Bà Barbara thuộc tạng phụ nữ có nét mặt khắc khổ, hằn dấu vết sầu muộn ngay từ thời trẻ, với độ tuổi thực sự rất khó đoán. Giờ đây khi phải nằm bất động một chỗ giữa đống chăn nệm nhàu nát, cặp nhãn cầu vẫn còn nhanh nhạy của bà Barbara bao quát khắp căn phòng quen thuộc, lúc thì hướng lên trần nhà vôi tróc loang lổ, lúc lại dõi theo một con thạch sùng đang bò ngay bức vách sát cửa ra vào. Sau rốt bà nhắm mắt lại hồi tưởng quãng đời đã qua. Những hình ảnh quen thuộc trong tiềm thức sống dậy và chầm chậm lướt đi như một cuốn phim tài liệu…

Barbara mồ côi mẹ khi mới 10 tuổi. Người cha buồn chán lâm vào cảnh bài bạc. Đang làm ăn phát đạt, dần dà của cải lần lượt đội nón ra đi sau những cuộc đỏ đen. Một người đàn ông cao nghều và gầy nhẳng, luôn có thói quen bỏ cả hai tay vào túi quần. Chẳng ai hiểu được động tác cố hữu ấy hàm chứa điều gì? Có thể ông ta muốn trực tiếp cảm nhận được những đồng bạc cuối cùng trước khi… “cháy túi”; hoặc đơn giản hơn là cẩn trọng đề phòng sự quỷ quyệt từ đối thủ cố ý “điều nghiên” xem tiềm lực của con bạc ra sao… Thông thường khi đã hết tiền, ông ấy lại lôi từ trong túi quần ra những món đồ có giá khác như nhẫn cưới, hay đồng hồ quả quýt mạ vàng… hòng rắp tâm gỡ gạc lại mọi thứ đã mất. Nỗi khánh kiệt đã khiến cha đột quỵ ngay tại chiếu bạc, đổ gục xuống sàn nhà trong khi tay vẫn thọc vào túi quần trống rỗng. Barbara nhớ như in hình ảnh người ta khâm liệm cha, với đôi tay níu chặt hai đáy túi không sao gỡ ra được.

Sau khi cha mất Barbara được một người chú họ đón về nuôi. Lúc ấy cô vừa tròn 16 tuổi. Nghề lái heo tạo cho chú một khuôn mặt ưa nhìn, tương phản với bản tính lạnh lùng khó đăm đăm từ bà vợ. Cặp mắt láo liên của thím kiểm soát hết thảy, nhất là khi phải rước thêm một miệng ăn về nhà. Bà thím sai bảo mọi việc hòng biến cô cháu họ thành một con ở thứ thiệt. Barbara làm việc quần quật suốt ngày không ngơi tay, nhưng xem ra vẫn chưa hài lòng bà chủ, hay nói trắng ra là chưa tương xứng với công cưu mang của chú thím.

Tới độ 20 cái xuân xanh, Barbara được chú dắt mối gả cho một tay phó mộc mập ú kiêm chủ tiệm đóng bàn ghế, người từng được thím kêu đến nhà sửa những món đồ gỗ lặt vặt. Đám cưới diễn ra một cách chóng vánh, ngoài viên mục sư nghiệp dư chủ trì hôn lễ, khách mời duy nhất là vợ chồng viên lái heo. Barbara cảm thấy phấn chấn vì sắp được thoát khỏi ánh mắt cú vọ của bà thím, bất chấp vốn sống ít ỏi khiến cô vô cùng bỡ ngỡ khi trở thành gái có chồng. Hiển nhiên có nhiều việc sẽ phải tự lo hơn…

So-554--Anh-minh-hoa---Ba-Barbara---Anh-1

Ông chồng phì nộn y như một súc gỗ sồi không có chút tình cảm gì sất, suốt ngày loay hoay quanh đống bàn ghế rẻ tiền ngoài tiệm, chẳng hề ngó ngàng gì đến cô vợ mới cưới. Kể từ đận đơn phương vượt cạn một mình, Barbara dồn hết tình thương cho đứa trẻ mới sinh. Thằng bé bụ bẫm rất hay cười như muốn xua tan những sầu muộn trong lòng mẹ… Ông chú trong vai người đỡ đầu đã gọi nó là Philip, trùng với tên ông ngoại vắn số.

Tai họa bất ngờ ập đến. Đống gỗ tạp vừa mua chất hỗn độn bỗng dưng đổ ụp xuống người viên phó mộc, Barbara trở thành góa bụa khi chưa đầy 22 tuổi. Trớ trêu thay lại đúng lúc nhan sắc cô phát triển rực rỡ nhất, “gái một con trông mòn con mắt” như người đời thường quan niệm. Bà thím với đôi mắt trắng nhởn thay mặt chồng đến chia buồn, đồng thời đoan chắc rằng cô cháu sẽ tái giá trong một ngày không xa bởi sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” trời phú.

Barbara quyết định bán cửa hiệu bàn ghế để không phải thường xuyên tiếp xúc với đám khách hàng ô hợp, nhất là cánh đàn ông lạ. Cô nhận hàng đan len về nhà đủ chi tiêu tiệm tằn cho hai mẹ con, bởi lúc sinh thời mẹ Barbara đã truyền nghề thêu đan cho cô ngay từ hồi nhỏ. Thằng bé càng lớn càng giống cha nó như đúc, vụng về và thô kệch. Nhưng với Barbara đó là báu vật đẹp nhất trên đời. Cô không rời con lấy nửa bước, vừa đan vừa hát những bài đồng dao dân dã ru cho bé ngủ. Barbara tự nghĩ ra các kiểu phục sức và khâu tay hết thảy mọi đồ con mặc trên người.

Nhu cầu cho đứa trẻ ngày một nhiều hơn, buộc cô phải vắt óc suy nghĩ kiếm tìm nguồn thu nhập mới, trong khi số tiền gửi tiết kiệm do bán cửa tiệm nhỏ nhoi của chồng cứ vơi dần. Barbara chợt nhận ra là mình đang sở hữu ngôi nhà quá ư rộng rãi, cớ sao không cho thuê bớt diện tích thừa. Vậy là cô liền treo tấm bảng dán bằng giấy bồi, ghi những nét chữ nguệch ngoạc ngay ngoài cổng: “Ở đây cho mướn phòng trọ”.

Người có nhu cầu thuê nhà nườm nượp kéo đến, rặt những kẻ lạ hoắc chưa một lần giáp mặt. Hỏi giá, xem xét rồi dè bỉu bỏ đi… Nhưng số trời run rủi, sau rốt vẫn có người dọn tới. Đó là vào dịp cuối tháng 3 đầu mùa tuyết tan, vị khách đầu tiên không ngỏ lời mặc cả đã quyết định thuê phòng. Tên anh ta là Peter Vendelin, hành nghề trợ lý tại một văn phòng luật sư. Cặp mắt ấm áp màu hạt dẻ của Peter đã minh chứng cho kẻ có nhân thân đàng hoàng, góp phần giải tỏa nỗi e ngại của cô chủ nhà xinh đẹp góa chồng.

Khách trọ ắt là một viên chức mẫn cán, đều đặn ra khỏi nhà khi trời còn nhá nhem và trở về lúc nhập nhoạng tối. Ngày nào cũng vậy, cho đến một hôm không thấy anh ta rời phòng trọ, Barbara lấy hết can đảm gõ lên cánh cửa đóng im ỉm.

- Cứ vào – Giọng đàn ông khô khốc vẳng ra.

Peter bị cảm lạnh và sốt cao, không thể đi làm cho dù đã mua thuốc uống ngay từ chiều hôm trước. Cô chủ liền mang tới cho anh một ly sữa nóng, đôi mắt hạt dẻ ánh lên hàm ý biết ơn. Lần đầu tiên Barbara cảm nhận được tình cảm chân thành từ người khác giới, trái tim cô đập rộn rã như vừa nhận được lời tỏ tình…

Rồi tới lúc phải cần đến bàn tay đàn ông. Nguyên do là cái móc treo đèn chùm giữa phòng khách có nguy cơ bị tuột, Barbara muốn nhờ Peter sửa giùm vào ngày nghỉ cuối tuần. Vendelin đặt chiếc ghế đẩu lên trên cái bàn gỗ tạp, rướn người lên chùm đèn trong khi Barbara giữ chặt cạnh bàn sần sùi phía dưới. Công việc xong xuôi, tình cờ Peter choàng tay qua vai cô chủ để nhảy xuống đất. Nhưng khi đã yên vị mà đôi tay anh vẫn không rời “điểm tựa” vừa đặt lên. Hai người khác giới cùng đứng chết trân, bối rối nhìn vào mắt nhau trong vòng vài giây đồng hồ. Sau rốt Peter đột ngột lên tiếng:

- Barbara!

- Vâng… – Cô chủ e thẹn đáp mà tưởng như đang nằm mơ.

Đúng lúc đôi môi họ sắp gặp nhau thình lình Philip hét váng lên: “Má ơi, ơi má!”. Barbara vội vã xô Peter ra, lao tới chỗ con xem thằng bé có chuyện gì? Vendelin ngỡ ngàng buông theo một câu tiếc nuối:

- Tạm biệt em yêu, hẹn mai gặp lại!

Peter quyết định trở lại phòng, nhưng đôi chân cứ lấn cấn nơi bậu cửa… Anh ngoảnh lại bắt gặp cặp mắt chan chứa của cô chủ, vừa nựng con vừa dõi theo bóng người trong mộng. Barbara cứ ôm con ngồi bất động cho đến khi trời tối mịt chẳng màng bật đèn lên. Nàng tràn trề hy vọng, rằng thể nào Vendelin cũng quay trở lại phòng khách để lấy vật gì đó vô tình bỏ quên…

Suốt đêm hôm đó bà chủ trẻ tuổi không hề chợp mắt. Barbara nằm suy nghĩ vẩn vơ… Rõ ràng là nàng đã yêu chàng và Peter cũng đáp ứng thịnh tình ấy. Vendelin hẳn là một người cha tốt sẽ yêu thương Philip như con đẻ. Nhưng nếu lấy chàng thì nàng ắt phải sinh hạ những đứa trẻ khác, không thể tập trung chăm lo vẹn toàn cho Philip… Không, không thể! “Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra khi mình còn sống, mình sẽ quyết giữ báu vật duy nhất tới cùng”, nàng thầm hứa trong lòng. Barbara bỗng bật dậy, mò tìm cuốn vở cùng cây viết trong ngăn kéo đầu giường. Nàng bặm môi tô đậm hàng chữ to như trứng gà mái ghẹ: “Tôi không thể hy sinh con mình!”. Bỏ tờ giấy vừa viết vào một chiếc phong bì lớn, cô chủ rón rén đi dọc hàng lang tối om nhét vào khe cửa phòng khách trọ. Sáng mai anh ấy sẽ đọc và vỡ lẽ mọi điều.

Khi Barbara đẩy xe nôi đưa Philip đi dạo về thì mục kích một bó hoa cùng tấm danh thiếp đính kèm, nghĩa là chàng đã đường đột bỏ đi không một lời giã từ. Đó là một ngày cuối tháng 4 u ám, tim cô chợt nhói đau… Tấm biển nhà có phòng cho thuê lại được treo lên, ố vàng theo năm tháng. Khách trọ đến rồi đi, Philip đã tới tuổi đến trường. Thằng bé luôn mang điểm xuất sắc về nhà, trở thành niềm an ủi duy nhất cho bà mẹ vốn sầu muộn.

Thi thoảng Barbara lại lén mở cuốn sổ nhỏ, nơi cất tấm danh thiếp của Peter Vendelin cùng những cánh hoa ướp khô, mường tượng ra đôi mắt ấm áp màu hạt dẻ… Để có tiền cho con ăn học, Barbara nhận giặt đồ thuê tại gia. Bà rời nhà từ lúc tinh mơ, đến trưa trở về với bọc đồ dơ to tướng trên vai. Sáng hôm sau lại đi giao đồ mới và nhận đồ cũ, công việc cứ vậy mà hút kiệt sức bà cho đến khi Philip chuẩn bị thi đại học. Vốn là một đứa trẻ sáng dạ, báu vật của bà đều đặn qua các cấp học với thành tích loại ưu. Trong thâm tâm Barbara muốn con học nghề y, ngõ hầu chữa chạy những căn bệnh quái ác như mẹ bà từng mắc phải. Philip có cá tính quyết đoán y hệt ông ngoại, nó chỉ thích theo môn thần học để trở thành mục sư. Bó tay, Barbara đành chiều theo ý con. Bà lén chùi nước mắt khi đưa Philip vào học nội trú trong trường dòng.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, Philip đã bước vào năm cuối trong khi người mẹ vẫn hàng ngày vật lộn giữa đám đồ dơ dáy, tích cóp từng đồng giúp con thực hiện hoài bão đang đeo đuổi. Đôi tay Barbara trở nên thô nhám cùng nước da bủng beo do tiếp xúc thường xuyên với chất tẩy rửa. Còn khuôn mặt nhu mì khả ái ngày nào hầu như mất dạng, nhường chỗ cho những nếp nhăn tuổi tác. Nếu bất chợt gặp lại chắc gì anh chàng Peter điển trai đã nhận ra cô chủ “xinh như mộng” thuở nào…

Điều gì đến phải đến, sức người có hạn trong khi công việc thì vô chừng. Cộng thêm thói quen ăn uống dè sẻn đã khiến bà mẹ viên linh mục tương lai bị suy dinh dưỡng, tạo điều kiện cho bệnh tật dễ bề ập đến. Những triệu chứng mệt mỏi ban đầu Barbara vẫn cố tình giấu con, sợ Philip sao nhãng học hành vì lo lắng cho mẹ. Họ hàng thân thích chẳng còn ai để vay mượn hay cậy nhờ, ông chú lái heo đã chết đột tử, còn bà thím vội vàng tái giá với một ngoại kiều và bỏ đi biệt xứ. Hết đau lưng tới đau ngực, rốt cục chứng lao lực đã khiến người mẹ vốn tần tảo phải nằm bẹp một chỗ. Sau hai tuần liệt giường mà bệnh tình chẳng đỡ hơn, Barbara quyết định nhờ bà hàng xóm thường sang đỡ đần gọi điện báo cho con trai, đề phòng nhỡ có làm sao thì Philip cũng về kịp.

Cậu con có mặt ngay sáng hôm sau cho dù đang trong thời kỳ làm luận văn tốt nghiệp. Vẻ nghiêm trang rắn rỏi của Philip ít nhiều làm bà Barbara tạm yên lòng. Bà thẽ thọt trao đổi với con giữa những cơn ho đứt đoạn, rằng nguyện ước cuối cùng trong đời là được cử hành tang lễ theo nghi thức truyền thống; ngặt nỗi tiền bạc trong nhà đã cạn kiệt, nên không thể thuê người rửa tội cho tinh thần được thanh thản trước khi lên thiên đàng.

- Chuyện nhỏ! – Cậu con trấn an – Đó chính là nghề con đang theo học kia mà?! Má quên rồi sao?

- Nhân đây má cũng muốn con giải thích nguyên do, rằng cớ sao con lại đeo đuổi bộ môn thần học?

- Sao giờ má mới hỏi con câu đó?

- Thường lúc sắp hấp hối con người ta trở nên chân thành hơn, muốn bộc bạch những ý nghĩ thầm kín trong lòng…

- Qua lời kể của má về cái chết của ông cũng như của cha con, xem ra chẳng ai được xúc tiến nghi thức cần có dành cho người vừa nhắm mắt xuôi tay. Do vậy con quyết chí phải học nghề này, phần nào an ủi những số phận bất hạnh.

Giờ thì bà Barbara bỗng vỡ lẽ, rằng hiếm người có diễm phúc như bà được chính con trai dứt ruột đẻ ra làm lễ rửa tội sau khi tạ thế. Âu cũng là sự báo đáp của số phận, một sự đền bù xứng đáng cho nỗi lo toan suốt cuộc đời…

Vong linh bà hoàn toàn có thể mỉm cười nơi chín suối.

Joseph Roth (Áo)
Ngự Bình (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 554

Ý Kiến bạn đọc