Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ảo tưởng và thách thức (II)

 

Hỏi: Bây giờ ta bước qua phần “Thách thức” chứ?

Đáp: Để xử lý thách thức cho thành công, ta cần phải biết người và biết mình.

Về biết mình, trước tiên tôi muốn nêu rằng ở Việt Nam vốn cực hiếm những trường hợp mắc tâm bệnh, bất kể loại gì. Đặc biệt là không có cái thứ tâm bệnh khiến bạo động bừa bãi. Ở ta vốn hành động sát nhân chỉ có hai nguyên nhân “bình thường”. Nguyên nhân thứ nhất là mâu thuẫn trong đời sống: thù nhau rồi chém giết nhau là chuyện thỉnh thoảng có xảy ra. Nguyên nhân thứ hai là thiếu thốn vật chất: vào những lúc kinh tế quá khó khăn, một thiểu số phạm tội giết người cướp của. Thế thôi, chứ bị bức xúc cao độ lâu ngày, tâm lý trở nên méo lệch, vùng xách hung khí đi giết một lúc thật nhiều người hay âm thầm đi giết từng người một, hết người này đến người khác, là chuyện xã hội Việt Nam vốn không hề biết đến. Thực ra, cho đến bây giờ, cái chuyện ra tay cướp mạng sống của những người không có thù hằn gì với mình vẫn chưa xảy ra trên đất nước này.

Hỏi: Ngoài tinh thần lành mạnh, người Việt Nam sống rất có đạo lý…

Đáp: Chắc chắn như vậy. Có lẽ những hành động vô luân, bất nghĩa lẻ tẻ xảy ra trong thời gian qua đã khiến một số người Việt Nam quá chú ý tới chúng mà quên mất mới cách nay chưa lâu, quan hệ gia đình gia tộc đã tốt đẹp như thế nào, tình làng nghĩa xóm đã đậm đà, thắm thiết ra sao. Lại thực ra, dựa vào những điều mắt thấy tai nghe, tôi nghĩ rằng tuy cơn lốc cải thiện điều kiện vật chất “thổi” suốt mấy chục năm qua đã khiến xảy ra không ít những hiện tượng đạo đức suy thoái rất đáng buồn, cái nền nếp tinh thần đẹp đẽ của xã hội truyền thống vẫn tồn tại vững vàng nơi đa số người Việt Nam. Bản thân tôi, trong những chuyến đi thăm quê hương từ Bắc chí Nam, đã được chứng kiến những nghĩa cử cao đẹp và cả một số lần được hưởng sự giúp đỡ của những đồng bào tử tế đến bất ngờ.

Hỏi: Ăn ở với nhau có đạo lý cao đâu phải riêng người Việt Nam, mà cả thế giới Á Đông đấy chứ.

Đáp: Phải. Tuy Việt, Trung, Hàn, Nhật mỗi nơi có nền nếp riêng, nhưng nơi nào cũng xuất sắc về phương diện này. Các học giả bản địa biết thế, nên chỉ nói đạo lý Á Đông, chứ không bao giờ nói “đạo lý Tây phương”. Mà chính những người Tây phương chịu khó tìm hiểu xã hội Á Đông cũng nhận thấy như vậy. Một phóng viên của báo The Washington Post là T.R. Reid sau nhiều năm sống ở Nhật và có dịp thăm các nước lân cận đã viết hẳn một quyển sách về những điều ông mắt thấy tai nghe và lấy làm kinh ngạc, trong đó có đoạn: “Theo những tiêu chuẩn thường dùng để đánh giá mức độ thành công của một xã hội, khu vực Đông Á cực kỳ thành công (…) Phép lạ xã hội ở phương Đông (…) cái gốc của nó có thể tóm gọn trong mấy chữ: giá trị đạo đức”.(1)

Hỏi: Tại sao Đông lại hơn Tây về đạo đức nhỉ?

Đáp: Reid ngẫm nghĩ rồi kết luận: đó là nhờ ảnh hưởng của Nho giáo. Ý kiến này không hoàn toàn chính xác, vì ở Việt Nam, ở Hàn, ở Nhật đã tồn tại những giá trị đạo đức riêng, chứ không phải trước khi du nhập Nho giáo thì xã hội thiếu đạo đức! Mặt khác, chắc chắn Nho giáo đã có vai trò tích cực trong quá trình hoàn thiện nền đạo lý địa phương. Khổng tử để lại nhiều lời không bao giờ thôi có giá trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời Khổng tử rất nhiều lần…

Hỏi: Hồi đầu thế kỷ XX, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer có để ý đến xã hội Việt Nam và xã hội Nhật…

Đáp: Trong hồi ký, Doumer đã so sánh người Việt với các dân tộc khác ở Đông Nam Á và kết luận: “… phải sang đến tận Nhật Bản người ta mới thấy được một giống dân tương xứng”(2). Lúc ấy nước Việt Nam đang vô cùng nhục nhã, nước Nhật thì ngược hẳn lại, vừa mới đại thắng một cường quốc Tây phương là nước Nga, mà ông ta thấy được như thế, quả thực là giỏi.

Nhưng Doumer không phải là người Tây phương duy nhất “tri kỷ” dân tộc ta đâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh có lần kể ông Đờ Pu-vuốc-vin phát biểu: “Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh, mọi thứ đều xây dựng từ lâu. Nghệ thuật (…) (tổ chức) quản lý nhà nước đều đã phát triển mạnh mẽ. Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hòa hợp với nhau, trải qua bao thế kỷ, đã được điều hòa và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa (…) không sợ gian khổ, hy sinh (…) là những đặc điểm (…) hình thành từ bao thế hệ”(3).

Hỏi: Nhân vật Tây phương này so sánh Việt Nam với chính Tây phương…

Đáp: Hãy ôn lại nhanh thời Trung cổ ở châu Âu. Cái “Đêm” dài khoảng một nghìn năm (từ thế kỷ V đến thế kỷ XV) ấy thực đã vô cùng tối tăm. Chẳng hạn, năm 897 tòa thánh Vatican đã cho đào xác Giáo hoàng Formosus lên, đặt ngồi trên ngai để xét xử! Chẳng hạn, năm 1252 Giáo hoàng Innocent IV chính thức cho phép tra tấn để bắt những người bất đồng với giáo lý chính thống phải nhận “tội” (châu Âu Trung cổ rất nổi tiếng về những lối tra tấn cực kỳ dã man)! Và chẳng hạn, ở Tây-ban-nha quan tòa dị giáo Torquemada (do Giáo hoàng Sixtus IV bổ nhiệm năm 1483) đã cho tra tấn rồi đốt sống ít nhất 2.000 “tội nhân”!(4). Ở châu Âu, ngay cả sau khi trời đã “Sáng”, thời đại khoa học đã bắt đầu, văn hóa tinh thần vẫn tiếp tục có những biểu hiện hết sức kém mở mang: trong ba thế kỷ XVI, XVII, XVIII, ít nhất 200.000 người dân đã bị tra tấn, rồi đốt sống hay treo cổ, vì bị tình nghi là phù thủy!(5).

Trong cùng khoảng thời gian, ở bên ta đã không hề có xảy ra những chuyện lạc hậu quái gở như vừa kể trên. Thời Đại Việt giới trí thức ta đã thấm nhuần minh triết của đạo Phật. Còn quần chúng thì tuy có khuynh hướng mê tín (bây giờ một số người vẫn còn!), nhưng không hề tới cái mức độ gây ra thảm cảnh.

Hỏi: Khi nói về văn minh Việt Nam, ông Đờ Pu-vuốc-vin có nhắc tới nghệ thuật…

Đáp: Phải. Hết sức đáng buồn, dường như không ít người Việt Nam hãy còn chưa biết gần đủ về thành đạt của nghệ thuật Việt Nam truyền thống. Vì lẽ đó, nhân tiện, tôi muốn xin hơi dài lời một chút ở đây.

Về gốm cổ của ta, John Stevenson, chuyên gia người Mỹ, và John Guy, chuyên gia người Anh, năm 1997 phát biểu: “Gốm Việt là một kết hợp độc đáo giữa sáng tạo bản địa và một số yếu tố ngoại lai từ Trung Quốc, Khơ-me, Chàm và Ấn-độ. Các hoa văn trang trí, các loại men, các phương pháp chế tác, có lẽ ngay cả quan niệm về đồ gốm, đều khác hẳn Trung Quốc. Dùng thứ đất sét rất tốt ở châu thổ sông Hồng – mịn, ít tạp chất, sắc xám trắng – người Việt đã tạo ra những món đồ gốm tinh tế nhất vùng Đông Nam Á”(6). Chúng tôi từ lâu say mê vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế của gốm Lý – Trần, nên khi “được lời” này đã “như cởi tấm lòng”!

Trong nghệ thuật tạo hình, ngoài đồ gốm, tổ tiên ta đã sáng tạo rất nhiều đồ gỗ đồ đá. Trong các chùa, đền, miếu… có nhiều pho tượng, nhiều bức phù điêu tuyệt đẹp; ngay những chạm trổ trên các cánh cửa cũng có tính mỹ thuật rất cao. Còn điêu khắc trong các đình làng thì có đặc điểm giản phác, mới nhìn tưởng như vụng về, ngây ngô, nhưng ngắm kỹ thấy nhiều bức sinh động, gợi cảm lạ lùng!

Rồi xây kiến trúc cộng đồng, may áo váy, quấn khăn… cũng đều là tạo hình. Từ mái đình mái chùa cong vút (là một đặc điểm căn bản của kiến trúc Việt cổ mà có người tưởng nhầm là gốc Tàu) đến áo tứ thân nâu non nâu già nền nã, váy thâm buông chùng cửa võng rập rờn như sóng, khăn mỏ quạ chít tài tình làm tôn dáng mặt, tất cả đều toát ra vẻ duyên dáng tuyệt vời…

Hỏi: Giá trị của âm nhạc Việt Nam truyền thống ra sao?

Đáp: Giá trị của một nghệ phẩm là ở cái mức độ gợi cảm của nó. Cổ nhạc Việt Nam gợi lên được trọn vẹn những cảm xúc rất đỗi tinh tế của con người Việt Nam bao đời sống giữa Quê. Nghe một bài quan họ, ta cảm thấy được tất cả cái nền nã, đằm thắm của văn hóa nơi dân tộc đã quần tụ từ rất lâu. Nghe hát chèo cũng thế. Nghe hát chầu văn là tiếp xúc với một nét cơ bản của tâm linh Việt Nam được cất lên thành những âm thanh vừa lung linh huyền ảo như từ một cõi xa xăm vừa vẫn ấm áp như trần gian. Nghe một “giọng hò đưa vút lên không (ta) cảm thấy được hết cái buồn man mác của trời dài sông rộng”(7)… Về khí nhạc, nhạc cụ Việt Nam tương đối đơn giản về kỹ thuật nhưng khả năng gợi cảm cao không thua bất cứ thứ nhạc cụ phức tạp nào. Hãy lắng nghe tiếng sáo trúc véo von bay bổng thanh thoát, tiếng nhị réo rắt xé không gian, tiếng nguyệt thánh thót “mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân”(8), tiếng tranh được nhấn nhá khiến trở nên sinh động lạ lùng. Và dĩ nhiên “rưng rưng”, “thon thả giọt đàn bầu”: “Một dây nũng nịu đủ lời, nửa bầu chứa cả một trời âm giai”!(9)…

Hỏi: Trong các thành đạt của nghệ thuật Việt Nam truyền thống, thơ được biết đến nhiều nhất…

Đáp: Vâng. Nếu quan niệm thơ là tác phẩm văn học có khả năng gợi lên được một nội dung mà không lời nào có thể tả ra được, thì tôi cho rằng thơ Việt Nam hơn hẳn thơ Tây. Nhờ đâu được vậy? Thiết nghĩ nhờ cái đặc tính toàn thể của từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt(10). Đặc điểm ấy làm cho lời tiếng Việt tự nhiên như tự nhiên và nhờ đó đặc biệt gợi cảm. Câu thơ tiếng ta nó gợi cảm như đóa hoa, con suối, dòng sông… Trong khi bởi các ngôn ngữ Tây phương có đặc tính biệt lập, lời tiếng Tây rất “nhân tạo”, câu thơ Tây có độ gợi cảm đại khái như bàn ghế, nhà cửa, máy móc…! Có lẽ nên nêu ví dụ. “Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa / Buồn trông ngọn nước mới sa / Hoa trôi man mác biết là về đâu” gợi lên được tâm trạng của Thúy Kiều nơi lầu Ngưng Bích. “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách / Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” gợi lên được tâm trạng của quan Tư mã Giang Châu đêm khuya ra sông tiễn bạn. Dịch ra các thứ tiếng Tây thì dễ thôi, nhưng câu thơ “chuyển ngữ” nó đầy đủ nghĩa mà vơi hẳn đi cái sức gợi. Lời gợi cảm nhiều hay ít không phải là chuyện chủ quan đâu, mà do nơi đặc tính của ngôn ngữ. Và dĩ nhiên, tối hậu, đó là đặc tính của con người.

Hỏi: Nói cho thật gọn, xã hội Việt Nam truyền thống là như thế nào, và như thế thì có liên hệ gì đến việc xây dựng xã hội mới?

Đáp: Đó là một xã hội về vật chất, tiến bộ còn khá khiêm tốn, đời sống có những lúc rất khó khăn. Nhưng con người trong xã hội ấy hoàn toàn lành mạnh về tinh thần, ăn ở với nhau có tình có nghĩa và sáng tạo ra được những nghệ phẩm có độ gợi cảm đặc biệt.

Có biết mình cho đúng thì mới thấy tự hào. Có tự hào về quá khứ thì mới có cái quyết tâm cần thiết để mong xây dựng được một tương lai cũng đáng tự hào. Nghĩa là một tương lai không chỉ ấm no hơn mà trong đó văn hóa Việt Nam sẽ có bản sắc mạnh mẽ chứ không phải là một bản sao của văn hóa đâu đâu.

Nói cách khác, dân tộc Việt Nam là một giống người đã văn minh từ rất lâu mà nay để sống còn phải chuyển hóa văn minh, từ môi trường nông thôn sang môi trường đô thị, từ kinh tế thuần nông nghiệp sang kinh tế nông – công – thương, chứ không phải là một giống người bán khai nay mới bắt đầu văn minh! Trong khi chuyển hóa, ta phải giữ cái sự thể của người đã văn minh. Phải bình tĩnh học hay bỏ dở, không cắm đầu cắm cổ bắt chước!

Hỏi: Ông nghĩ sao về cái từ “phát triển” như trong “những đất nước còn kém phát triển”?

Đáp: Đó là một cái từ do Tây phương đặt ra mà cả thế giới đã quen dùng. “Phát triển” đây là thuần túy nói về vật chất. Nên nhớ rằng văn hóa tinh thần không nhất thiết lên theo văn hóa vật chất. Có khi vật chất lên như diều gặp gió mà tinh thần lại xuống như diều đứt dây, như tôi đã trình bày trong phần thứ nhất của bài viết này. À, do đó, ta có thể đặt ra cái yêu cầu cơ bản nhất cho công việc đổi mới xã hội Việt Nam: Làm sao cho vật chất tiến bộ thì làm, nhưng không được để cho tinh thần suy thoái.

Hỏi: Để thỏa mãn được cái yêu cầu ấy…

Đáp: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “(Bất cứ đâu) có cái gì hay, cái gì tốt ta phải học lấy”(11). Dĩ nhiên người Việt Nam nên học từ phương Tây, không phải chỉ những cách cải thiện điều kiện vật chất rất hiệu quả mà cả một số giá trị tinh thần đích thực. Nhưng đồng thời ta phải giữ liên lạc mật thiết với vốn liếng tinh thần truyền thống, dựa vào nó để khỏi hoang mang trước văn hóa tinh thần Tây phương đang vừa khủng hoảng chưa từng vừa hung hăng đòi đồng hóa toàn thể nhân loại. Soi bằng ánh sáng của chân lý muôn đời mà tổ tiên ta đã suy nghiệm ra, ta sẽ thấy rằng những cái mà người Tây phương khẳng định có “giá trị phổ quát” thực ra là hoàn toàn địa phương và những cái khác mà họ tin chắc có “giá trị tiến bộ” có khi là sự bình thường hóa một hiện tượng mang ý nghĩa vô cùng nghiêm trọng đối với khái niệm con người lành mạnh.

Hỏi: Vốn cũ liệu có dùng được vào việc mới không?

Đáp: Không phải cứ hễ cũ là mất giá trị. Tổ tiên để lại những di sản tinh thần đặc biệt quý báu mà người Việt Nam bây giờ có tích cực vận dụng khi tiếp xúc với các xã hội khác thì mới khỏi đi vào vết của những cái xe đang đổ…

Hỏi: Những di sản ấy là gì?

Đáp: Quý nhất là HÒA và TÌNH. Hòa nghĩa là “vừa phải, không cạnh tranh nhau”(12), là nhường nhịn, bao dung: chẳng hạn nhờ “bất đồng nhi hòa” mà “tam giáo đồng nguyên”. Tình là coi trọng cả tình cảm, đạo đức, chứ không chỉ biết có lý lẽ, lợi lộc: “(chuyện gì cũng phải) hợp tình, hợp lý”, “trọng nghĩa khinh tài”, “tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tựa thiên kim”… Để ý Hòa khiến vô số “tôi” đề huề thành “ta”, cho nên HÒA – TÌNH cũng có thể gọi là TA – TÌNH.

Hỏi: Ta vận dụng hai di sản ấy như thế nào?

Đáp: Dùng Hòa hay Ta để dung hòa quyền cá nhân và lợi tập thể. Dùng Tình để xã hội có đạo lý song song với pháp lý và để hướng nhân dân về những giá trị tinh thần. Một mặt, phát triển khoa học, công nghệ, xây dựng thương nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp, cập nhật luật pháp cho phù hợp với sinh hoạt mới, tiếp thu quan niệm nhân quyền, dân quyền… Mặt khác, vẫn giữ vững những nét cơ bản của truyền thống, dùng truyền thống để kiểm soát, không cho những cái ngoại nhập phát triển đến mức nguy hại.

Hỏi: Tới đây, ta thử mở rộng vấn đề. Ông thấy tình hình ở các xã hội Tây phương ngoài Mỹ hiện nay ra sao?

Đáp: Hết sức vắn tắt, tuy so với Mỹ, ít bạo động hơn, mức phân hóa tài sản thấp hơn, các giá trị tinh thần truyền thống được gìn giữ tốt hơn (mặc dầu tôn giáo cũng đã mất đi vai trò quan trọng cố hữu), nhưng tâm bệnh cũng đang tràn lan. Một báo cáo đăng trên trang reuters.com tháng 9-2011 cho biết: “Gần 40 phần trăm người Âu châu mắc tâm bệnh (…) Tâm bệnh đã trở thành thách thức về sức khỏe lớn nhất cho Âu châu trong thế kỷ XXI”(13).

Hỏi: Mọi người đều đã biết “người giàu cũng khóc”. Nhờ thử nghiệm siêu tích cực của phương Tây, nay ta được biết thêm rằng người có chất đống quyền cũng có thể buồn đến nỗi sinh tâm bệnh nan y. Theo ông, cái gì đang làm hại nhân loại phương Tây?

Đáp: “Giặc” không đâu xa, chính là cái truyền thống TÔI – LÝ của họ. Vì họ để cho “tôi” tha hồ “lớn” và cho lý luận độc tôn mà nên nông nỗi. Để ý trong mọi chuyện lúc nào người da trắng cũng đang ở một cái cực nào đó, chịu đựng “khí hậu” vô cùng khắc nghiệt của nó. Cuồng tín tôn giáo, rồi hững hờ với tôn giáo. Bảo thủ ơi là bảo thủ, ăn mặc kín ơi là kín (như bên Anh thời nữ hoàng Victoria), rồi cấp tiến như cháy nhà, cởi có khi… hết(14). Độc tài khủng khiếp, rồi dân chủ cũng… khủng khiếp. Nên nhớ chính vì ở Âu châu vốn dân rất thiếu quyền mà mới sinh ra nước Mỹ dân đầy quyền! Mà chớ có tưởng họ đã nhảy đi thì sẽ không bao giờ nhảy trở lại cực cũ: ở Đức, sự lớn mạnh gần đây của các phe nhóm cực hữu đã khiến có người lo lắng về (hay mơ tưởng) sự xuất hiện của “Đệ Tứ Đế chế” (Đệ Tam Đế chế là Đức Quốc Xã)…

Hỏi: Nhân loại phương Tây có thể làm gì để cải thiện đời sống tinh thần của mình?

Đáp: Hiển nhiên, họ cần học từ nhân loại phương Đông cũng như nhân loại phương Đông cần học từ họ.

Điều ta có thể dạy họ, nói khái quát nhất là: Hãy bớt TÔI – LÝ đi! Nói cụ thể hơn là: Hãy bắt cái quyền của cá nhân thỏa hiệp với cái lợi cho cộng đồng!

Còn nếu muốn nói cụ thể hơn nữa, cho biết luôn vì sao nên xảy ra thỏa hiệp, thì có thể mượn ngay lời của T.R. Reid: “Bài học căn bản mà Đông phương có thể cung cấp cho nước Mỹ là: có thể sẽ lợi hơn cho cộng đồng nếu ta giới hạn bớt, thay vì mở rộng thêm ra, một số quyền tự do cá nhân. Việc cộng đồng trở nên hòa hợp hơn sau đó tự nó có thể có giá trị giải phóng đối với cá nhân”. Cá nhân chấp nhận bị bớt quyền sẽ được giải phóng khỏi cái ngục nào? Thì cái ngục một người mà chính cá nhân đã tự giam mình vào đó khi phá vỡ cộng đồng bằng cách đòi quá nhiều quyền.

Người Tây phương bấy lâu định kiến cá nhân phải sở hữu thật nhiều quyền mới hạnh phúc, có biết đâu rằng cái hòa khí trong cộng đồng tạo ra do bớt quyền cá nhân chính nó lại làm cho cá nhân thấy đời vui vẻ hơn!

Hỏi: Có lẽ nên ví dụ cái “cộng đồng” vợ chồng cho dễ hiểu: quyền vợ đụng quyền chồng, ly dị, lập gia đình với người khác, vẫn quyền vợ đụng quyền chồng, lại ly dị, “tái lập”, cứ thế, tới bạc đầu vẫn còn đi tìm cái “nửa kia của tôi”, sao bằng “chín bỏ làm mười”, “chồng giận thì vợ làm lành”, nhịn nhau “một sự” cho “chín sự lành”, cho “cơm lành canh ngọt” tới tận lúc “răng long”! Phương Tây cũng có người biết cái hay của phương Đông đấy mà.

Đáp: Thì vẫn có. Nhưng họ chỉ là những ngoại lệ hiếm hoi. Do Tây hơn hẳn Đông về vật chất đã khá lâu, nhân loại phương Tây đã trở nên điển hình vô cùng kiêu căng. Họ chỉ muốn dạy mà không thèm học.

Hỏi: Ông còn điều gì muốn nói nữa không?

Đáp: Bài viết này vốn định giới hạn trong phạm vi dân tộc Việt Nam. Nhưng vì ta đã mở rộng vấn đề, tôi xin được kết thúc bằng một lời “vô giới hạn”.

Thách thức lớn nhất đối với nhân loại hiện nay là tìm ra cách giải quyết tình trạng mất cân bằng hết sức nghiêm trọng giữa tiến bộ vật chất và sự gìn giữ các giá trị tinh thần.

Thay vì dùng lực mềm lực cứng “thay đổi chế độ” cho kỳ được ở nơi nọ nơi kia, một số cường quốc hãy nhìn lại mình một cách khách quan, tập trung cố gắng cải thiện và để yên cho các đất nước khác cố gắng cải thiện theo cách riêng của mỗi nước.

Để tối ưu hóa khả năng sống còn, văn hóa cũng đòi hỏi “đa dạng sinh học”. Vì tương lai nhân loại, đề nghị Tây phương hãy để cho “trăm hoa đua nở” thay vì ép tất cả phải nở thành duy nhất hoa Tây!

Tháng 2-2020

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 585

——————–
Bài viết này chỉ mang dáng một bài phỏng vấn. Người hỏi và người đáp là chính tác giả.
(1) T.R. Reid, Confucius Lives Next Door, Nxb. Random House, New York, Mỹ, 2000. Reid là một phóng viên của The Washington Post và từng là trưởng văn phòng đại diện của báo này ở Luân-đôn và Đông Kinh.
(2) P. Doumer, L’Indochine francaise, Nxb. Vuibert et Nouy, Paris, 1905, tr. 33, dẫn theo Phạm Cao Dương, Lịch sử dân tộc Việt Nam, quyển I: Thời kỳ lập quốc, Nxb. Truyền thống Việt, California, Mỹ, 1987, tr. 26-27.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1995, tập 1 (1919-1924), tr. 425-426. Chúng tôi không biết tên chưa phiên âm của nhân vật này, nên không rõ tiểu sử.
(4) Xem trang encyclopedia.com và trang jewishvirtuallibrary.org.
(5) Xem trang en.wikipedia.com.
(6) John Stevenson & John Guy, Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition, Art Media Resources, Mỹ, 1997.
(7) Nguyễn Hiến Lê, ký sự Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười.
(8) Lời Xuân Diệu năm 1978, in trong Các nhà văn nói về văn, Nxb. Tác phẩm Mới, 1985.
(9) Thơ Văn Tiến Lê dẫn theo Hồi ký Trần Văn Khê.
(10) Bản chất toàn thể của tiếng Việt và bản chất biệt lập của các ngôn ngữ Tây phương là đề xuất của chúng tôi, như đã trình bày trong hai bài viết “Tương lai từ vựng tiếng Việt” và “Tương lai ngữ pháp tiếng Việt” in trong sách Cảm nghĩ miên man (2015).
(11) Hồ Chí Minh về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, 1997.
(12) Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh.
(13) Kate Kelland, “Nearly 40 percent of Europeans suffer mental illness”.
(14) Như biểu tình khỏa thân, bãi tắm khỏa thân, trại khỏa thân…

Ý Kiến bạn đọc