Truyện ngắn

Anh hùng Xôm

Từ ngày nghỉ việc, Hùng thui thủi ở nhà. Cái dáng hiên ngang, khuôn mặt câng lên, tự mãn ngày nào của Hùng, bây giờ đâu mất biệt rồi. Hùng cứ lủi thủi đi ruộng rồi vô nhà nằm trên võng treo tòn ten, hút thuốc, tay gác lên trán, ỉu xìu như anh hùng thất trận trong phim Tàu. Cực chẳng đã anh mới chịu ló mặt ra đường. Bởi vì, mỗi lần đi ra đường là Hùng chất thêm một mớ chua xót vào lòng, để rồi thấy lao xao, buồn thao thiết. Như hôm Hùng đi hớt tóc ngoài chợ Bình Đông, vừa thấy anh, tụi nhỏ đang chơi cò chẹp bỗng hò reo chói lói, như là thấy con quái vật hổng bằng. Thằng Tèo chỉ trỏ:

- Ê, tụi bây, Anh Hùng Xôm đi hớt tóc kìa. Má tao nói, ổng là cái thứ rau vô tâm.

Chị Ba Mậu, má thằng Tèo đi buôn gạo lậu, bị Hùng liệt vào sổ “bìa đen”, bị anh bắt, tịch thu gạo cả chục lần đến nỗi không còn một đồng lận lưng. Bởi vậy, chị Ba Mậu hận Hùng thâm căn cố đế. Chị nói bà con, chòm xóm với nhau mà Hùng cạn tàu ráo máng như vậy thì thôi, cục cứt trôi dưới sông, chị còn nhìn chớ cái bản mặt thằng Hùng, chị hổng thèm nhìn. Mà chị hổng nhìn thiệt, hôm rồi đi ngoài đường đụng mặt anh Hùng, chị day mặt ra bờ sông, nói khơi khơi, cứt trâu ở đâu mà thúi rình, mắc ói.

Con Nhiên trợn mắt hỏi:

- Ủa, rau vô tâm là rau gì ạ?

- Là rau muống á.

- Ủa, sao gọi rau muống là rau vô tâm?

Thằng Tèo giải thích:

- Má tao nói, rau muống là thứ rau rỗng ruột, hổng có tâm. Cũng như thằng cha Anh Hùng Xôm vậy đó, sống hổng có tâm.

Con Nhiên chậc lưỡi:

- Ờ, vậy hén.

Anh-trang-vanh-dai---son-mai---Huynh-Thi-Kim-Tien
Ánh trăng vành đai – sơn mài – Huỳnh Thị Kim Tiến.

Hùng tự hỏi lòng, ủa mình đã làm điều gì sai? Anh đi tìm câu trả lời hoài mà không tìm được. Nhà nước giao cho anh bắt hàng lậu thì anh bắt, chớ đâu phải anh tự nghĩ ra cái chuyện bắt hàng lậu đâu mà bây giờ ai cũng nhìn anh có nửa con mắt vậy. Chua xót mỗi ngày cứ đầy thêm, nặng như treo đá tảng trong lòng Hùng.

*

Hùng làm việc ở Trạm kiểm soát Thanh Tân. Hùng tham gia giao liên ở xã từ hồi mới 12 tuổi. Lúc đó Hùng đang học lớp 4. Thấy Hùng nhỏ tuổi mà lanh lợi, mưu trí hơn hẳn những đứa trẻ khác nên chú Tư Lùn kêu Hùng đến nhà chơi, rồi dần dà giao cho Hùng thử việc giao liên. Chẳng những Hùng làm tốt mà còn háo hức với cái công việc rất nguy hiểm ấy. Mới học xong lớp 4, Hùng xin má cho nghỉ học để theo chú Tư Lùn làm cách mạng. Má nhìn Hùng trân trân, hỏi con biết gì dìa cách mạng mà đòi làm. Hùng trả lời gọn hơ, con làm rồi, dễ ợt chứ có gì khó đâu, má. Má há hốc, hỏi ai chỉ cho Hùng làm? Hùng gãi đầu bẽn lẽn, nói chú Tư Lùn chỉ cho làm cả năm nay rồi. Ba Hùng là liệt sĩ, còn má Hùng cũng đang hoạt động bí mật. Nghe Hùng nói vậy, bà dắt Hùng lại nhà chú Tư Lùn:

- Tui giao thằng Hùng cho anh đó nhen!

Do gan dạ, mưu trí, lại năng nổ, nên đến năm 16 thì Hùng được tuyển vào đội du kích của xã. Năm Hùng 18 tuổi thì giải phóng, thống nhất đất nước. Thấy Hùng siêng năng, hăng hái, giao việc gì cũng làm tích cực, chú Tám Sang điều Hùng về Trạm kiểm soát Thanh Tân công tác. Trước khi giao nhiệm vụ cho Hùng, chú Tám Sang dặn:

- Đây là nhiệm vụ mới, đồng chí cố gắng hoàn thành tốt nghen!

Mắt Hùng bừng sáng, đầy nhiệt huyết:

- Dạ, cháu xin hứa sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!

Đúng là Hùng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thiệt. Dù Hùng trẻ nhất trạm, nhưng anh em của Trạm kiểm soát Thanh Tân ai cũng nể Hùng vì cái sự nhiệt tình cách mạng, giao việc gì cho Hùng là anh quyết tâm làm cho bằng được. Hùng cũng không bao giờ từ chối bất cứ việc gì của cấp trên giao. Trước thông tin hàng lậu vẫn được tuồn về Sài Gòn,

Trạm kiểm soát Thanh Tân phải triệu tập cuộc họp khẩn để bàn giải pháp bắt hàng lậu. Và Hùng, thủ kho là lựa chọn số một để tăng cường đội ngũ kiểm soát viên của trạm.
Ngay ngày đầu “ra quân”, Hùng đã lập được thành tích chói lọi. Qua kiểm soát hàng hóa của xe khách từ miền Tây lên Sài Gòn, anh đã phát hiện, tịch thu hàng trăm kilogram thịt heo và gạo lậu. Ngay ngày đó, Hùng được anh em trong trạm phong là chiến sĩ diệt buôn lậu. Hùng khoái chí, ánh mắt cứ hấp háy và cười tủm tỉm hoài.

Anh-minh-hoa---Anh-hung-Xom

Từ hôm đó, để không phụ lòng tin tưởng của anh em và cấp trên, Hùng càng kiểm soát chặt chẽ hơn. Kiểm từng cái túi xách tay, từng giỏ hàng hóa để tìm hàng lậu. Hùng gật gù tâm đắc: Ba cái chuyện bắt hàng lậu này dễ ợt chứ gì, hồi còn làm giao liên, mình đã có hàng trăm cách giấu thư từ, tài liệu. Mà thư từ, tài liệu thì nhỏ có một chút xíu, dễ giấu, chứ còn thịt heo, gạo nó bự chà bá chứ đâu phải con kiến mà giấu. Mình có thể qua mặt bọn lính ngụy, Việt gian, chứ mấy bà đi buôn lậu thì đừng hòng qua mặt được mình hén. Hùng búng tay cái tách, mặt câng lên sung sướng:

- Hàng lậu mà có giấu đằng trời, thằng Hùng này cũng sẽ moi ra bằng được cho mà coi! Mấy bà đi buôn lậu chóng mắt lên mà coi hén, giấu đâu cho khỏi nhen.

Đúng là không thể qua được anh kiểm soát viên mặt còn búng ra sữa, nhưng con mắt thì sáng hoắc và sắc lẹm như dao cau. Mấy cái trò giấu gạo, thịt dưới đáy giỏ rồi chất quần áo lên trên, chỉ cần Hùng nhớm cái giỏ lên thử là biết liền, khỏi phải soát xét chi cho mệt. Quần áo thì làm gì nặng trình trịch như vậy. Thế là Hùng tịch thu, mặc cho các chị, các dì nài nỉ, khóc lóc bảo đi thăm con, thăm cháu trên Sài Gòn, mang một ít gạo, thịt lên cho tụi nhỏ. Dù mới nhận nhiệm vụ, nhưng Hùng đâu có lạ gì ba cái trò khóc lóc, năn nỉ ỉ ôi này. Trên đời này, có ai khùng đi nhận mình là kẻ buôn lậu hông? Vì vậy, Hùng nạy lại, giọng xốc họng:

- Đem cho con, cho cháu gì cả chục ký thịt vậy? Mấy bà giàu dữ hén!

Vậy là mấy dì, mấy chị cứng họng, nuốt cục tức cứ ấm a ấm ách trong cổ mà hổng trôi, như ăn cơm khô bị mắc nghẹn vậy. Thôi thì đành ngậm bồ hòn làm ngọt, nhìn Hùng tịch thu mà tiếc hùi hụi. Thời buổi khó khăn, gạo châu, củi quế nên thịt không dám mua ăn, gạo không dám nấu cho đầy nồi. Lên bữa ăn người này cứ phải len lén dòm người kia, nhường nhịn cho ai cũng được lưng lửng bụng, để tối ngủ cái bao tử hổng phải sôi òn ọt vì đói. Vậy mà bị tịch thu, sao hổng tiếc cho được. Cực chẳng đã đói khổ quá mới làm liều đi buôn lậu kiếm chút đồng lời nuôi con, chứ khá giả ai đi buôn lậu chi, mỗi lần đến trạm kiểm soát là tim đập thình thịch riết cũng chết sớm. Mà đã nghèo thì bị tịch thu là coi như cụt vốn, phải chạy sấp chạy ngửa vay hỏi vốn đi tiếp để gỡ lại. Đời mà, phóng lao thì phải theo lao chớ sao!

Thành tích của Hùng nhanh chóng được báo cáo lên cấp trên. Trưởng trạm đến bắt tay Hùng động viên:

- Chúc mừng đồng chí! Còn trẻ, cố gắng phát huy nghen!

Mặt Hùng câng lên, lâng lâng, sung sướng hết biết. Anh chỉ muốn nhảy thót lên xe, lục tung mọi túi nả để tìm hàng lậu cho cấp trên thấy tận mắt sự năng nổ, nhiệt tình của anh như thế nào. Những lời khen ngợi, động viên kịp thời đúng là có tác dụng mạnh mẽ. Hùng hưng phấn quá nên hứa:

- Chú an tâm, ông già con mà đi buôn lậu thì con cũng bắt!

Trưởng trạm vỗ vai Hùng, tâm đắc:

- Được! Tinh thần cách mạng cao! Như vậy mới gọi là chiến đấu chớ.

Ba của Hùng đã hy sinh trong chiến dịch Tết Mậu Thân rồi, nên có muốn đi buôn lậu để cho Hùng bắt thì cũng hổng được. Hùng chỉ còn lại ông chú ruột thứ Tư. Chú Tư có đứa con đang học trên Sài Gòn, nên thỉnh thoảng chú bắt xe đò lên thăm. Cũng tại thiếm nên đâm ra chú Tư trở thành kẻ đi buôn lậu trong mắt của Hùng. Thấy chú Tư chuẩn bị đi thăm thằng Thành, thiếm Tư đi chà giạ lúa để chú mang lên Sài Gòn cho thằng Thành để dành ăn, còn một ít thì bán lấy tiền mua xà bông, kem đánh răng. Giỏ gạo được thiếm Tám ngụy trang mận, cam bên trên, nhưng làm sao mà qua được con mắt của Hùng. Khi phát hiện giỏ gạo dưới sàn xe, Hùng hất mặt lên hỏi:

- Gạo này của ai đây?
Anh-minh-hoa---Anh-hung-Xom-2

Chú Tư nghĩ chỗ chú cháu, hổng lẽ Hùng tịch thu. Thôi kệ, xấu hổ một chút mà còn được giỏ gạo, chứ để Hùng tịch thu thì tiếc đứt ruột. Nghĩ vậy nên chú Tư ngọt giọng:

- Của chú Tư à con. Chú lên thăm em mầy học trên Sài Gòn, mang lên cho nó ăn.

Hùng trợn mắt:

- Bộ chú hổng biết gạo là hàng quốc cấm hả?

Bị Hùng hỏi xốc hông, chú Tư tức anh ách, nhưng nghĩ tiếc túi gạo nên chú cố kiềm chế mà dịu giọng xuống:

- Thì biết là hàng quốc cấm, nhưng mà chú mang có một ít lên cho em mầy nó ăn chứ có bán buôn gì đâu mà cấm với hổng cấm.

Hùng lạnh lùng:

- Hổng được, hàng quốc cấm thì phải tịch thu.

Chú Tư giận xanh mặt, môi run run mà hổng nói được tiếng nào. Từ hôm đó, chú Tư dặn thiếm:

- Tui có chết thì bà cũng đừng cho thằng Hùng vào thắp nhang. Cái thứ không tình không nghĩa, không cội không nguồn thì hổng còn chú cháu gì nữa hết. Cắt đứt.

Chuyện Hùng tịch thu gạo của chú ruột mình lan nhanh như cơn bão, khắp vùng Bình Đông ai cũng nghe. Có người khen Hùng làm việc công tâm, không tư lợi. Nhưng cũng có người nói thẳng mực tàu thì đau lòng gỗ, ông chú mang một ít gạo lên cho thằng em đi học trên Sài Gòn mà tịch thu là tịch thu làm sao? Còn mấy chị em bạn hàng thì nói thằng này hết thuốc chữa rồi, coi chừng có ngày trời hổng đánh thì thánh cũng vật nó cho coi. Bà Hai Thế nghe người ta xì xầm rực tai nên kêu Hùng dìa hỏi:

- Chú Tư mầy mang có mớ gạo lên cho em mà mầy bắt là bắt làm sao vậy Hùng?

Hùng hỏi lại bà Hai:

- Má nghĩ coi, con bắt người ta, còn người trong nhà hổng bắt thì người ta coi con ra gì?

Bà Hai giận phừng phừng, nhưng bà biết cái tính của Hùng thẳng như ruột ngựa, nên có tranh luận thì càng thêm tức. Môi bà Hai run run, giọng lắp bắp vì giận:

- Mầy làm gì thì làm cũng phải nghĩ đến tình máu mủ một chút. Tao nhắc cho mầy nhớ, mầy có tổ có tông, có ông có bà chứ hổng phải là cái thứ dưới lỗ nẻ chui lên à nhen.

Từ khi Trạm kiểm soát có Hùng thì tình hình ngày càng căng thẳng đối với chị em bạn hàng. Không giấu gạo dưới giỏ quần áo được, chị Bảy Thao cho gạo vào cặp táp, rồi cắt quyển tập trắng và sách ra làm đôi, để lên trên theo chiều đứng để khi có kiểm tra, mở cặp ra thì chỉ thấy tập, sách. Lần thứ nhất, chị Bảy Thao vượt qua được con mắt của Hùng. Lần thứ hai cũng qua trót lọt. Đến lần thứ ba thì Hùng nhìn chầm chầm chị Bảy Thao:

- Chị này đi đâu đây?

Tim đập thình thịch, nhưng chị Bảy Thao giả đò tỉnh bơ:

- Đi học chứ đi đâu!

Nhìn cái mặt chị Bảy Thao xanh tái mét như tàu lá chuối, Hùng biết ngay trong cái cặp thế nào cũng có hàng lậu. Anh hầm hè để đánh đòn phủ đầu đối phương:

- Đi học gì mà đi hoài vậy. Đưa cặp tui kiểm tra coi.

Vừa xách cái cặp lên, Hùng gằn giọng:

- Cặp đựng gì mà nặng dữ vậy? Gạo trong này phải hôn?

Vừa nói, anh vừa mở chiếc cặp ra để kiểm tra. Chị Bảy Thao cố vớt vát nên gân cổ cãi lý:

- Tui đi học, mang ít gạo lên Sài Gòn ăn hổng được sao?

Hùng đâu phải là thằng con nít hỉ mũi chưa sạch, anh vặn lại:

- Chị đi học ở Sài Gòn hả? Vậy chị học trường nào, nói tui nghe coi?

Chị Bảy Thao ấm ớ trong họng, cố nghĩ ra tên một ngôi trường nào đó để nói mà sao mấy cái trường ở Sài Gòn chạy lung tung đâu mất biệt. Vậy là chị Bảy Thao bị tịch thu gạo, coi như mất cả chì lẫn chài. Nhìn Hùng xổ gạo trong cặp ra, chị Bảy tức ấm ách mà hổng làm gì được, đành ném ánh mắt căm hờn về phía Hùng.

Trước sự kiểm tra gắt gao của Hùng, chị em bạn hàng ở Bình Đông họp lại bàn cách đối phó, chất trái cây xung quanh bội rồi cho gạo và thịt heo vào giữa, giống như gói bánh tét. Chị Tư Bụng tâm đắc:

- Chuyến này thằng Hùng có ba đầu, sáu tay cũng không thể phát hiện được.

Nhưng chị em bạn hàng ở Bình Đông đánh giá quá thấp Hùng rồi. Hùng không thể phát hiện ngay, nhưng anh bắt đầu đặt dấu hỏi tại sao dạo này hàng lậu giảm hẳn vậy? Mấy bà buôn hàng lậu giấu gạo, thịt ở đâu vậy ta? Hùng chắp tay sau đít đi tới đi lui, rồi vò đầu, bóp trán suy nghĩ. Cũng may cho Hùng, lúc đó bà Hai Thế đang nằm trên võng tòn ten, miệng nhai trầu bỏm bẻm kể chuyện hồi bà tham gia hoạt động bí mật cho đứa cháu ngoại nghe. Đến cái đoạn chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, chị em hoạt động bí mật chui xuống hầm gói bánh tét bằng đạn để chuyển ra cho bộ đội đánh giặc. Nghe đến đó, Hùng búng tay cái tách rồi cười khoái chí:

- Tui biết mấy bà giấu hàng lậu ở đâu rồi nghen. Ha ha…

Hùng đi đặt thợ rèn làm cái cây xôm để xôm vào bội trái cây của bạn hàng. Nếu có gạo, thịt gói nhân ở giữa là phát hiện liền. Mấy chị em bạn hàng ở Bình Đông điêu đứng vì cái cây xôm của Hùng. Ngày đầu tiên Hùng xôm, chị Tư Bụng dính gần năm chục ký thịt heo, chị Ba Mậu bị tịch thu bốn giạ gạo. Chị Tư Bụng về nằm xài lai trên bộ ngựa, khóc bù lu bù loa như cha chết. Bao nhiêu vốn liếng dành dụm lâu nay, giờ bị Hùng “sạt” một trận, mất gần năm chục ký thịt heo thì không còn một đồng lận lưng. Từ bữa đó, Hùng được chị em bạn hàng gọi là Anh Hùng Xôm.

Rồi cái tên Anh Hùng Xôm lan ra, nhanh như tốc độ của sóng đài phát thanh. Đến Bình Đông, hỏi Hùng có người biết người không, nhưng hỏi Anh Hùng Xôm thì tới đứa con nít cũng biết. Hổng biết ai ác mồm ác miệng mà dạy mấy đứa con nít bài vè:

Hùng Xôm tuổi trẻ tài cao
Anh không biết đánh bài cào, cách tê
Bắt hàng lậu thì khỏi chê
Bạn hàng lục tỉnh tái tê tấc lòng
Gạo, thịt qua trạm là xong
Chú ruột còn bắt đừng hòng chi ai

Mới đầu nghe mấy đứa con nít nghêu ngao đọc vè, Hùng hơi chói tai, nhưng nghe riết rồi thấy cũng bình thường. Bà Hai Thế nghe người ta nói rực tai về Hùng nên bà sai đứa cháu nội ra trạm kiểm soát kêu Hùng về nhắc nhở:

- Mầy làm sao thì làm, còn chừa đường về quê nghen Hùng!

Hùng gạt ngang:

- Hơi đâu mà má lo cho mệt, tui làm đúng thì hổng sợ gì hết.

Không thể thua Hùng, mấy chị em bạn hàng ở Bình Đông bàn cách cho gạo, thịt vào nách quày chuối rồi quấn lá chuối bên ngoài để giấu. Vậy là chị em bạn hàng ở Bình Đông đi thu mua chuối quày về, cứ một nải chừa thì một nải cắt bỏ, tạo khoảng trống để nhét gạo và thịt vào rồi quấn lá chuối xung quanh để ngụy trang. Tất nhiên là trong thời gian đầu, dù con mắt của Hùng có sắc đến đâu thì cũng không thể phát hiện được. Thế nhưng trong đầu anh lại xuất hiện câu hỏi: Kỳ vậy ta, mấy bà bạn hàng không giấu hàng lậu trong bội trái cây thì giấu ở đâu? Hùng bắt đầu để ý và phát hiện mấy chị em bạn hàng ở Bình Đông vẫn có mặt đều đều trên những chuyến xe khách từ miền Tây lên Sài Gòn. Để ý kỹ hơn, Hùng lại phát hiện trên xe có mấy chị em bạn hàng ở Bình Đông không còn đi trái cây vô bội nữa, mà thay vào đó là có rất nhiều chuối. Hùng lấy một quày chuối mở thử lớp lá quấn bên ngoài thì từng bịch gạo, thịt lồ lộ ra, được ém kỹ trong nách nải chuối. Hùng cười mỉa:

- Mấy bà hay thiệt. Nhưng

hổng qua được mắt của thằng Hùng này đâu.

Chị em bạn hàng lại tay trắng. Bạn hàng ở Bình Đông ai cũng có mối thù thâm căn cố đế với Hùng. Chửi trước mặt thì hổng dám, nên các chị, các dì chửi sau lưng, chửi hú họa cho hả giận. Cô Hai Lẹ văng tục:

- Đ.M. nó, trên đời tao hổng thấy cái mặt thằng nào hãm tài như cái thằng đó. Nhìn cái bản mặt nó là tao nuốt cơm hổng vô nổi.

Nhắc tới Anh Hùng Xôm, chị em bạn hàng ở Bình Đông lại hằn học, cay đắng. Nhưng người cay đắng nhất có lẽ là chị Sáu Bàu ở cuối xóm. Chồng chị Sáu Bàu bị bệnh phổi đang thoi thóp từng cơn, còn bầy con 4 đứa thì leo nheo lóc nhóc ở nhà. Chị thiếu sữa, đứa con trai út uống nước cơm sôi với đường chảy riết cái bụng bình rĩnh, đầu chờ vờ. Cùng túng quá nên chị Sáu Bàu làm liều qua nhà cô Chín Cần kêu cô chỉ đường đi nước bước để đi buôn lậu. Cô Chín Cần thở dài:

- Cực chẳng đã chị em tui phóng lao thì phải theo lao, chứ làm ba cái vụ này có ngày hổng còn cái quần mà bận à nhen.

Mắt chị Sáu Bàu rân rấn nước:

- Kệ nó cô Chín ơi, biết đâu qua được trạm thì có tiền mua thuốc cho ba tụi nhỏ, mua sữa Ông Thọ cho thằng nhỏ uống. Bây giờ khổ quá rồi, hổng còn biết tính sao nữa. Hổng lẽ ngồi ở nhà chịu chết sao cô?

Nghe chị em nói đang hết cách trốn trạm, chị Sáu Bàu mất ăn mất ngủ mấy đêm để nghĩ cách. Cuối cùng chị Sáu cũng nghĩ ra được cách mang bầu. Chị Sáu cho thịt heo vào bao ni lông rồi nịt vào bụng. Đúng là lúc đầu Hùng không phát hiện được, nhưng sau đó thấy chị Sáu mang bầu, cái bụng trương ướng như sắp đẻ tới đít rồi mà cứ đi Sài Gòn ngày một thì quả là điều không bình thường. Hùng lườm chị Sáu Bàu:

- Chị này đi đâu đây?

Chị Sáu Bàu nhảy nhổm, luống ca luống cuống:

- Tui đi Sài Gòn.

Hùng gằn giọng:

- Bầu bì chành ành như vầy mà đi đâu trên Sài Gòn? Hổng sợ đẻ rớt hả?

Chị Sáu Bàu ấp úng:

- Tui đi tui đi thăm bà con. Bà dì tui bịnh, đang nằm ở bịnh viện.

- Có bầu thiệt hông, dỡ áo lên tui coi.

Mấy chị, mấy dì ngồi xung quanh lao nhao, phản đối gay gắt:

- Đàn bà bầu bì, chú kêu người ta dỡ áo lên cho chú kiểm tra là kiểm tra cái giống gì? Khám thai hả?

Hùng không quan tâm mọi người xung quanh, anh gằn giọng, ánh mắt sắc lạnh như dao cau:

- Tui yêu cầu chị lấy hàng lậu giấu trong bụng ra.

Không thể qua được Hùng, chị Sáu Bàu ôm tay Hùng rớt nước mắt:

- Chú Hùng thương chồng tui, thương mấy đứa con của tui giùm. Chú cho tui qua chuyến này đi chú. Tui hứa chuyến này là chuyến cuối cùng. Nghen chú Hùng.

Hùng vẫn lạnh lùng:

- Hổng được. Tui thương chị rồi mấy bà buôn lậu khác so bì, tui biết làm sao?

Đường cùng, chị Sáu Bàu đem cái chuyện mình ở cùng xóm với Hùng ra để năn nỉ:

- Chú Hùng nghĩ tình chòm xóm mà tha cho tui một lần đi. Tui là vợ Sáu Bàu nè, nhà ở cuối xóm Bình Đông nè.

Hùng trợn mắt:

- Ở cùng xóm cũng tịch thu. Hàng lậu là phải bắt, tịch thu hết.

Chị Sáu Bàu cố nuốt cục nghẹn đang chẹn ngang cổ mà nuốt hổng trôi. Trên đường về lại mái nhà dột nát với những ánh mắt vời vợi trông mẹ của đám con, chị Sáu có cảm giác như chân đeo đá tảng. Lời đồng nào ăn hết đồng nấy rồi, bây giờ bị “sạt” hàng thì coi như nợ nần chồng chất, không biết làm sao mà trả cho nổi.

Mấy chị em bạn hàng ở Bình Đông bàn với nhau, thôi thì giải nghệ, chứ cứ “theo lao” kiểu này thì mai mốt hổng còn cái quần mà bận.

Rồi đến lúc Nhà nước cũng không còn cấm vận chuyển thịt heo, gạo thì Trạm kiểm soát Thanh Tân cũng không còn việc để làm. Nghe đâu trạm giải tán, nhân viên chuyển công tác khác. Anh Hùng Xôm được chuyển về xã Thanh Tân công tác. Vì mới học tới lớp 4, nên Hùng phải đi học bổ túc lại để được làm việc lâu dài. Nhưng chữ biết Hùng chứ anh thì không biết chữ. Anh học cặm học cụi mà bao chữ nghĩa, công thức trôi tuột từ lỗ tai này sang lỗ tai kia hết ráo. Thấy hổng kham, Hùng xin nghỉ việc về nhà cày ruộng cho chắc.

*

Thời gian Hùng còn làm việc ở xã thì ít lời ra tiếng vào, vì người ta sợ anh “ghìm” rồi sau này gây khó dễ mắc công. Còn khi anh nghỉ việc, về nhà làm nông dân thì dân ở Bình Đông coi khinh ra mặt. Riết rồi anh trốn biệt trong nhà, thèm cà phê, muốn ra chợ Bình Đông để uống cũng không dám. Kẹt quá thì Hùng cũng phải ra đường, nếu đụng mặt mấy dì, mấy chị đi buôn lậu từng bị Hùng tịch thu thì chịu khó cúi mặt để đừng thấy họ phun nước miếng phèo phèo.

Biết Hùng thương chị Tiếp mấy năm nay nên bà Hai Thế tính cưới vợ cho anh để có người hủ hỉ. Nhưng hôm bà Hai Thế cậy người qua nhà chị Tiếp để xin ba má chị cho bà đem rượu qua hỏi cưới chị cho anh Hùng, má chị Tiếp nói bà Hai đừng có qua mần chi mắc công, gả con gái cho thằng Hùng thì bà con lối xóm ở xứ Bình Đông này ỉa vô mặt vợ chồng bà chịu sao nổi. Bà Hai Thế thở dài thậm thượt:

- Mầy thấm chưa Hùng?

Hùng im lặng. Anh quay đi, buồn xao xác.

Hồi Hùng mới nghỉ làm việc, có người bắn tin: Thằng Hùng liệu hồn, đi ra đường ban đêm coi chừng có ngày bị phang gãy cẳng ráng chịu. Mà phải người ta phang cho gãy chân đi, rồi quên hết chuyện cũ thì Hùng còn cảm thấy nhẹ lòng. Đằng này, họ không phang cho gãy chân mà hàng khạp nước mưa bà Hai Thế hứng để dành nấu nướng và uống trong mùa nắng, bỗng thúi rình. Bà Hai Thế dỡ nắp khạp ra múc nước nấu cơm, nghe thúi rùm, nhìn kỹ thì thấy xác con chuột chết trương ướng nổi lình phình trong khạp. Bà Hai tá hỏa, đi dỡ hết nắp mấy cái khạp còn lại để kiểm tra thì cái nào cũng có xác chuột chết. Bà Hai Thế kêu trời kêu đất, mấy khạp nước thúi rình kiểu này thì mùa nắng lấy nước đâu uống. Hùng ngồi gục mặt, tay vò đầu, bà Hai chua xót:

- Mầy sáng mắt ra chưa Hùng?!

Vừa đổ bỏ mấy khạp nước mưa, vài hôm sau, sáng thức dậy, bà Hai Thế quét dọn thì thấy bịch cứt heo nằm chình ình trước cửa nhà, thúi rình. Hùng chịu hết nổi nên đòi bỏ quê đi xứ khác sống. Bà Hai Thế bảo, mồ mả ông bà nằm ở đây, nhắm đi biệt dạng hổng dìa xứ nữa thì đi. Hùng gạt nước mắt, nói má tha lỗi cho con, rồi đi. Đi biệt dạng. Mấy năm sau bà Hai Thế dò la tin tức mới biết Hùng đi miệt mị xuống tuốt dưới Cà Mau.

Chú Tư bệnh, biết mình không qua khỏi nên kêu bà Hai Thế làm sao nhắn Hùng về cho chú gặp mặt lần cuối, dù sao Hùng cũng là cháu đích tôn của dòng họ. Nghe chú Tư kêu về, Hùng mừng rớt nước mắt. Chú Tư nắm bàn tay chai xạm, rám nắng của Hùng, ứa nước mắt:

- Chú tha thứ cho mầy rồi!

Tự dưng nước mắt của Hùng trào ra, anh ôm chú Tư khóc nấc.

Nghe Hùng về, bà con ở Bình Đông kéo lại rần rần.

- Chú Hùng nhớ tui hôn? Tư Bụng nè. Người mà hồi đó hay bị chú xôm bắt gạo lậu á.

Hùng nghe như có luồng điện chạy qua, anh thấy người nóng rần rần, sượng ngơ sượng ngắt. Thấy mặt anh Hùng đơ ra, sượng trân, chị Tư Bụng xởi lởi:

- Hồi đó lỗi cũng tại tụi tui, chớ chú chỉ làm theo chủ trương của Nhà nước thôi mà, phải hôn? Đâu phải lỗi tại chú đâu.

Nói câu ấy xong, chị Tư Bụng giật mình. Hồi đó chị thù anh Hùng thâm căn cố đế, tự nhiên sao bây giờ mót máy, vét sạch bụng cũng không thấy chút thù hận nào sót lại. Chị nghĩ chắc tại thời gian chà xát, lấy đi lần hồi hết cái thù trong lòng chị rồi, bây giờ chỉ còn lại là cái tình chòm xóm tối lửa tắt đèn có nhau.

Nghe chị Tư Bụng nói câu ấy, anh Hùng như được mở đường thoát. Anh nghe mặt mình bớt nóng đôi chút. Anh xuống giọng:

- Hồi đó tui cũng cứng nhắc quá, chị cho tui xin lỗi nhen!

Cô Hai Lẹ giờ đã lụm khụm rồi mà cũng ráng chống gậy đi qua cho bằng được “để coi cái mặt hãm tài của thằng Hùng bây giờ ra sao”. Cô Hai lấy khăn chùi đôi mắt tèm nhem rồi bỏm bẻm:

- Cái thằng, hồi đó nhìn bản mặt thấy mà ghét, bây giờ già rồi coi cũng được hén bây.

Hùng lấy ghế, dìu cô Hai Lẹ ngồi xuống kế bên mình:

- Cô Hai còn giận con hôn?

Cô Hai Lẹ cười bem bép:

- Mồ tổ cha mầy. Hồi đó chị em ở Bình Đông giận mầy dữ lắm, nhưng bây giờ thì hết rồi. Hồi đó tại thời cuộc nó vậy nên mầy phải làm vậy. Bây giờ mầy dìa xứ là tốt rồi.

Nghe cô Hai Lẹ nói, anh Hùng thở cái phào, thấy nhẹ nhõm trong lòng. Anh cười mà trong hố mắt hằn sâu những nếp nhăn cứ ứa nước ra, trong vắt.

Nguyên Chương
(TP.Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 412

Ý Kiến bạn đọc