Tản văn

Anh hùng đặc công Rừng Sác

Đây là lần thứ hai tôi về viếng Đền thờ Liệt sĩ huyện Nhơn Trạch, nhân tham gia trại sáng tác của Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức ở Đồng Nai hồi tháng 6-2014. Từ cổng tam quan nhìn vào, phía tay phải là Tượng đài Đặc công Rừng Sác cao sừng sững trên một hồ nước. Tôi kéo cả tượng đài đó vào hai “ống kính” thị giác, rồi đăm chiêu, suy tư về một thời oanh liệt của các chiến sĩ đặc công Rừng Sác. Một luồng sinh khí lạ choán đầy trong tôi khi bước chân vào chính điện của ngôi đền, bỗng như quên đi tất cả! Rồi cái giây phút kỳ lạ ấy cũng tan đi để tôi nhìn rõ được danh sách của 80 bà mẹ Việt Nam anh hùng; hơn 2.000 liệt sĩ của khắp các tỉnh thành trong cả nước, trong đó có 800 liệt sĩ Rừng Sác.

Rung-Sac---Son-dau---Hoang-Tram
Rừng Sác – Sơn dầu – Hoàng Trầm (1928)

Nói đến Rừng Sác là nhớ đến Trung đoàn 10 đặc công, với những chiến công vang dội: đốt cháy kho xăng Nhà Bè, phá hủy kho bom Thành Tuy Hạ, nhấn chìm tàu giặc trên sông Lòng Tàu, bẻ gãy các cuộc càn quét của địch, làm cho kẻ thù phải “thất điên bát đảo”! Những câu chuyện kể về bộ đội đặc công Rừng Sác nghe mãi vẫn thấy say mê hấp dẫn, tự hào…

Đặc công Rừng Sác thật sự đã trở thành nỗi khiếp đảm cho đối phương! Từ ngày được thành lập (1966) đến khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), bộ đội Rừng Sác đã đánh ngót 400 trận, đánh chìm và làm hư hỏng 356 tàu thuyền, bắn cháy 29 máy bay, tiêu diệt hơn 6.000 tên địch. Chiến công của đặc công Rừng Sác làm rung động khắp thế giới, làm cho Tổng thống Việt Nam Cộng hòa phải hoãn lại nhiều cuộc hành quân lớn…

Tướng Mỹ West Molen, chỉ huy quân đội Mỹ – người có con mắt tinh ranh đã nhận ra cái địa thế hết sức quan trọng và nguy hiểm này – một thế giới rừng đước ngập mặn trên những sông ngòi chằng chịt, đầy rẫy cá sấu hung dữ, không dễ gì phát hiện ra Việt Cộng! Chính vì thế mà West Molen đã cho xây dựng một hệ phòng thủ nghiêm ngặt thành một biệt khu quân sự Rừng Sác, với ảo vọng: một con muỗi cũng khó lọt qua, huống hồ Việt Cộng! Tướng West Molen hình như đã “cảm ứng tư tưởng” sang tướng Weyand – Tổng tham mưu trưởng Lục quân Mỹ sau này? Trong chiến dịch Xuân Lộc, Weyand đã cho xây dựng một phòng tuyến, mệnh danh là “Cánh cửa thép”, rồi “Cánh cửa thép” ấy cũng bị Việt Cộng đánh cho “tan tành xác pháo”. Hình như tướng Mỹ nào cũng thế, chỉ tìm sức mạnh ở sắt thép và thuốc nổ! Bại trận là phải!

*

Văn nghệ sĩ chúng tôi ngồi trên chiếc xuồng máy trôi đi trên sông Thị Vải nối với sông Lòng Tàu và sông Đồng Nai. Đúng là như người ta từng kể: mênh mông rừng đước. Những chùm rễ đước như chen chúc nhau, như muốn bành trướng chiếm hết lòng sông. Tôi như chơi vơi trong một “mê lộ”. Nếu không có la bàn thì khó mà tìm được lối đi đúng. Ngày xưa cha anh mình đã đánh giặc trên dòng sông này, chịu biết bao đói khát và ác liệt, đường đi lại vô cùng khó khăn cho tiếp viện, đã thế lại còn phải hết sức bí mật. Số phận “ngàn cân treo sợi tóc” lúc nào cũng rình rập… Bỗng hình ảnh một chiến sĩ đặc công Rừng Sác hiện lên trong đầu tôi: Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước!

Dac-Cong-Rung-Sac---Go-nhom---Xuan-Dong
Đặc công Rừng Sác – Gò nhôm – Xuân Đông (1945).

*

Cả hội trường im phăng phắc nghe ông đọc lên những vần thơ do mình sáng tác – vần thơ của người lính từng chinh chiến nơi chiến trường ác liệt. Rồi tất cả “òa” lên như vừa được thưởng thức một pha “phá lưới”… Đó là lần đầu tiên tôi nghe ông đọc thơ. Những câu thơ được chiết suất từ tim gan, khối óc nên nghe da diết, xúc động đến mặn nồng. “Bâng khuâng tấc dạ niềm thương nhớ/ Lộng gió trên sông đẹp bóng cờ…”.

Nghe thơ ông là biết ngay cái tình sâu sắc với đồng đội và lòng yêu Tổ quốc thiết tha, mênh mang đến thiêng liêng ray rứt: “Mãi mãi hiên ngang Rừng Sác đứng/Mỗi người ngã xuống một bài thơ…”.

Ông có ánh mắt sắc trong và nhìn thẳng. Một con người mảnh khảnh, “ốm yếu” mà lại có một giọng đọc, giọng nói sang sảng đến diệu kỳ. Những chuyển động của đôi cánh tay theo nhịp điệu câu thơ, có lúc mạnh mẽ như muốn tung hoành, có lúc lại mềm như cánh sóng biển khơi mỗi chiều hoàng hôn…

Tôi từng là người lính trên mặt trận, từng ước mơ được làm một chiến sĩ đặc công với cách đánh táo bạo và thông minh, nên khi nghe tới bộ đội đặc công là tôi khoái chí. Giờ thì tôi đã nhìn thấy tận mắt người chỉ huy trưởng Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác – Đại tá Lê Bá Ước, với những chiến công đã đi vào lịch sử của vùng đất “Miền Đông gian lao mà anh dũng” trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta!

Đại tá Lê Bá Ước, với cái tên Nam bộ rất dễ gần, không có trong các giấy tờ tùy thân: “Ông Bảy Ước”, “Chú Bảy Ước”, hoặc ngắn gọn hơn là “Chú Bảy” hay “Ông Bảy”, “Anh Bảy”… Ông cùng Hội Văn học – nghệ thuật với tôi. Mỗi lần đi tham quan thực tế là tôi phải tranh thủ tiếp cận ông bằng được. Tôi hỏi ông đủ chuyện, chuyện lính, chuyện đời, chuyện tình. Ông say sưa kể không hề vấp váp, giống như một phần mềm đã được mặc định trong computer, chỉ cần click chuột là xuất hiện những gì cần biết. Điều đó cũng dễ hiểu, vì những sự kiện xảy ra trong đời lính đã ăn sâu vào trong tâm trí ông. Những sự kiện được đánh đổi bằng xương máu, đói khát, bom đạn và bệnh tật! Những cái tên Rừng Sác, Nhà Bè, Thành Tuy Hạ, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ… đã ngấm vào từng nơ-ron thần kinh của người chỉ huy đặc công, dù có phơi xác trên chiến trường, làm mồi cho đàn cá sấu đi nữa vẫn cam lòng!

Chiến công của bộ đội đặc công Rừng Sác tôi đã nghe thấy từ hồi còn “vắt mũi chưa sạch” ở nơi núi rừng Việt Bắc – nơi sinh ra tôi. Sau này, qua nhiều kênh thông tin mà tôi biết được nhiều chiến công của bộ đội đặc công Rừng Sác dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng, nghe cứ như “Tề Thiên Đại Thánh”, “xuất quỉ nhập thần”. Chiến trường Rừng Sác trên sông nước ngập tràn – được mệnh danh là căn cứ “chìm” khác với địa đạo Củ Chi là căn cứ “nổi”. Hoạt động trên sông nước đâu phải dễ dàng di chuyển, hơn nữa lại thường hoạt động về ban đêm nên chỉ có những ai có đủ lòng kiên trung, dũng cảm, mưu trí, sức khỏe dẻo dai mới có thể chống chọi được với nguy nan để hoàn thành nhiệm vụ! Riêng việc bơi lặn phải “im re”, ngụy trang phải đúng kỹ thuật, nếu không muốn làm mồi cho địch! Phải có sức khỏe để mang vũ khí hoặc chống lại sự tấn công của loài cá sấu ăn thịt người! Một đồng đội của Đại tá Lê Bá Ước trong một lần ra trận bị cá sấu “xơi” mất ngay cánh tay phải, anh liền rút dao đâm thủng mắt nó để thoát hiểm! Chuyện thật mà như bịa!

Chính vì lòng trung kiên son sắt với Đảng, Bác Hồ mà Đại tá Lê Bá Ước đã vinh dự được Đảng, Nhà nước ta phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Niềm vui lớn ấy không chỉ riêng với bản thân và gia đình ông mà còn là niềm hãnh diện của mảnh đất Đồng Nai anh hùng!

Thẳng thắn và kiên định là đức tính nổi bật nhất của Đại tá – Anh hùng LLVTND Lê Bá Ước.

Với dáng người mảnh mai như nhà văn Sơn Nam, cùng quê Rạch Giá (Kiên Giang), tính ông “thẳng tưng” ngay trong sinh hoạt hàng ngày. Dối trá, nhỏ nhen, mánh lới, nịnh hót, ghen ghét là kẻ thù của ông. Ông từng nói với tôi: Tốt với nhau là phải chân thành, góp ý cho nhau là phải từ cái tâm trong sáng. Ông vẫn nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”. Người cách mạng thực thụ không bao giờ nói một đằng làm một nẻo, hách dịch với cấp dưới, nịnh hót ôm chân cấp trên. Ông bảo, thế là hỏng rồi! Trong thực tế hiện nay có không ít cán bộ biến chất, nói thì hay mà làm thì dở, nhưng lại cứ muốn thành tích to! Cái bệnh thành tích đó, chính là thứ chất độc kìm hãm sự đi lên của đất nước! Nay đang ở tuổi ngấp nghé “suối vàng” mà mỗi khi thấy một tiêu cực gì trong xã hội là ông ăn ngủ không yên. Ông phát biểu trước hội nghị bằng cả trái tim mình. Thái độ rất rõ ràng của ông là phải chống tiêu cực! Ông đưa ra nhiều ý kiến đóng góp rất thiết thực: người lãnh đạo mà làm việc kém hiệu quả thì làm sao dân tin! Văn hóa từ chức của lãnh đạo ta chưa được thể hiện rạch ròi; đã có mấy ai xin từ chức? Cán bộ khi bị khuyết điểm không dám nhận sai lầm, lại còn tìm cách biện minh cho cái sai của mình, thì làm sao Đảng ta mạnh lên được! Đối với anh em văn nghệ sĩ, ông nói: “Văn nghệ sĩ phải là những người có lối sống trong sạch và tiên phong…”.

Trong đợt đi trại sáng tác tại Vũng Tàu hồi tháng 5-2011, ông đã tặng cho mấy chục hội viên mỗi người một cuốn sách (photo) mang tựa đề “Tội ác chiến tranh của bọn bành trướng Trung Quốc đối với Việt Nam” (NXB Sự thật). Cuốn sách đó như một hồi chuông đánh thức trái tim mọi người cần phải có thái độ, lập trường quan điểm đúng đắn để nhìn thấy rõ kẻ thù mà từ đó trung thành với Tổ quốc mình. Tôi đọc cuốn sách như nuốt từng hạt cơm trong cơn đói khát, rồi ngắm nhìn chữ ký tặng của ông Bảy Ước biết bao cảm động! Rồi bỗng chạnh lòng: không biết ông Bảy còn đi với anh em văn nghệ sĩ được bao lần nữa? Giờ trông ông yếu lắm rồi, riêng đôi mắt vẫn còn rực sáng “mang hình viên đạn” khi nhìn về địa đầu Tổ quốc và biển đảo quê hương, nơi ấy có “người anh em” đang từng bước muốn lấn chiếm đất mình!?

“Thơ và tình yêu, là cái hồn nó thúc đẩy cho những hành động đúng”, ông Bảy Ước quan niệm như thế. Người chiến sĩ anh hùng bao giờ cũng có một tâm hồn lãng mạn! Lãng mạn cách mạng. Sự lãng mạn ấy để con người yêu đời hơn, tự do hơn. Và họ sẽ hành động để bảo vệ và nâng niu tâm hồn đó. Ông Bảy giãi bày, khi đã buông tay súng là trong đầu lại xuất hiện những vần thơ. Tuy nhiên nơi chiến trường không phải cứ nghĩ ra là viết lên giấy được. Những câu thơ được lưu trong bộ nhớ, để rồi sau cuộc chiến mới viết thành văn bản. Thơ của ông nặng nghĩa tình với đồng đội của mình – người sống còn rất nặng nợ với người đã khuất:

Lặn sâu xuống sông Lòng Tàu
Đồng đội ngày xưa có thấy đâu
Hỏi ốc, ốc nằm im chẳng nói
Hỏi cua, cua bảo sấu ăn rồi.
Xương trắng nở hoa tận đáy sông
Mênh mông Rừng Sác
nhuốm màu hồng…

Tôi đã đọc lên những vần thơ này – vần thơ có “thép”. Nay sống giữa hòa bình, hưởng một cuộc sống ấm no mà ông Bảy Ước vẫn đau đáu nhớ về đồng đội năm xưa – những đồng đội của mình đã vùi xác vào lòng sông, bùn lầy vì một lý tưởng cao thượng! Tình yêu của ông còn lớn lao hơn tình yêu nam nữ đơn thuần, nó được thăng hoa lên thành một chân lý sống cao đẹp. Ông nói: “Giờ tôi vẫn phải lo đi tìm hài cốt đồng đội; vẫn thờ, vẫn gọi hồn những con người đã ngã xuống giữa tuổi đời đôi mươi đẹp nhất!”. Nghe ông kể về sự hy sinh của đồng đội, của người bạn đời (vợ ông, bà Nguyễn Thị Mến, hy sinh 20-1-1970 tại Rừng Sác) mà thấy lòng tê tái, nhưng cũng thật tự hào. Ông thao thức nhớ thương người đồng đội ra đi; chăm lo cho con cái của đồng chí mình trở thành những công dân tốt. Ông bảo, đó là lương tâm, không được phân biệt đối xử…

Không lợi dụng hoàn cảnh để đem cái lợi đến cho mình, ông Bảy Ước đã nói và đã làm như vậy. Sau ngày miền Nam giải phóng thống nhất nước nhà ông được phân công làm Phó chỉ huy trưởng Tỉnh đội Đồng Nai. Tuy nhiên ông vẫn động viên, điều động con trai, con gái mình tham gia lực lượng vũ trang hoặc sang giúp nước bạn Campuchia đánh giặc. Thậm chí đủ tiêu chuẩn cho con đi lao động hợp tác ở nước ngoài (như nhiều người tham vọng kiếm đô-la), nhưng ông cũng từ chối. Bây giờ thì ông Bảy Ước rất vui và tự hào, vì chẳng có ai đánh giá ông là người lợi dụng chức quyền để đem cái lợi cho bản thân mình. Gia đình ông hiện có 12 đảng viên, hầu hết trình độ đại học, có cả thạc sĩ. Ông luôn luôn nhắc nhở động viên con cháu sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật để giữ vững truyền thống cách mạng của gia đình. Nghe lời ông mà con cháu đã biết đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ!

Tôi và anh Trần Quý (từng là bộ đội đặc công) tới thăm ông Bảy Ước vào một buổi chiều tháng 5-2014 tại nhà riêng của ông ở phường Quyết Thắng, TP.Biên Hòa. Hóa ra ông và anh Quý từng gặp gỡ nhau từ những năm trước. Hai người lính đặc công tay bắt mặt mừng. Hôm nay nụ cười ông Bảy thật tươi vui trong bộ đồ dân sự như một già bản. Ông đón tiếp chúng tôi chân thành, cởi mở. Tôi thích kiểu tiếp khách bình dân này, vì như thế dễ chuyện trò hơn. Nhìn cảnh vật bài trí trong nhà, tôi nghĩ thầm trong bụng: gia chủ đích thực là lính Cụ Hồ. Bên ly trà, tôi và anh Quý nghe ông kể chuyện từ hồi khai man lý lịch để đủ tuổi đi bộ đội, rồi những lần cuốc bộ sang Trung Quốc học tập quân sự, cho tới những trận đánh hay mà chỉ có ở bộ đội đặc công. Tuy người chỉ còn “khung xương”, nhưng ông Bảy Ước rất nhanh nhẹn, đứng lên ngồi xuống rót nước mời khách cứ như không có tuổi già, mặc dù năm nay ông đã đi qua 84 mùa xuân.

Là người từng sống trên đất Bắc, được nhiều lần gặp gỡ “Anh Cả” – Đại tướng Võ Nguyên Giáp và từng được nhìn thấy Bác Hồ. Ông luôn nhắc nhở mình phải sống sao cho xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại từ những suy nghĩ và việc làm nhỏ nhất. Nhìn trong nhà ông, có rất nhiều ảnh Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh Bác được treo nơi trang trọng nhất, như nhắc nhở ông theo Đảng đến cùng! Trong lời phát biểu cảm tưởng tại buổi lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân do Đảng, Nhà nước tặng cho ông, ông Bảy Ước nói: “Với tuổi đời 82 và 62 năm tuổi Đảng, trong những năm tháng cuối đời, tôi xin hứa sẽ gương mẫu, giữ trọn tư cách, phẩm chất trong mọi hoàn cảnh, tiếp tục động viên, giáo dục con cháu trong gia đình tự nguyện tiếp bước cha anh, nhất là trong tình hình đất nước hiện nay”.

Ở tuổi “chuối chín cây” nhưng ông Bảy Ước vẫn nhớ lời tiền nhân dạy, để từ đó gắn trách nhiệm của mình với đất nước: “Khắc sâu trong tim mình những kỷ niệm truyền thống, quyết chiến quyết thắng của các bậc tiền nhân cách đây ngàn năm đã phát biểu: Chúng ta phải gìn giữ từng phân núi, từng tấc sông của cha ông để lại, hay như Bác Hồ từng dạy: Các Vua Hùng đã có công dựng nước thì ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời dạy của tiền nhân ông thuộc lòng, nó đã biến thành kim chỉ nam cho hành động của ông!

Hình ảnh ông Lê Bá Ước để lại trong tôi nhiều tâm tư: Ông không khoe khoang thành tích như ai đó. “Lính Cụ Hồ là phải chiến đấu đến cùng, đã theo Đảng là theo đến cùng dù có hy sinh tới tính mạng ta vẫn cứ cười”. Trong ông tiềm ẩn sâu sắc chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nó được nuôi dưỡng và thử thách từng ngày. Đảng, Nhà nước vinh danh ông danh hiệu Anh hùng là điều không có gì phải bàn cãi. Nhưng với ông Bảy Ước, thì dù được phong tặng danh hiệu Anh hùng hay không thì ông vẫn cứ theo Đảng đến khi nhắm mắt xuôi tay! Ông đã trung thành tuyệt đối với lời dạy của Bác Hồ, của Quân đội Nhân dân Việt Nam: Thắng không kiêu. Bại không nản. Giàu sang không quyến rũ. Nghèo khó không chuyển lay. Uy vũ không khuất phục!

Chia tay người anh hùng LLVT nhân dân mà lòng tôi thấy vui thay và tự hào với lớp đàn anh đi trước. Họ là những con người biết hy sinh vì mọi người, suốt đời theo Đảng, Bác Hồ, há chẳng phải là nhân sinh quan cách mạng hay sao? Ông Lê Bá Ước là người như thế.

Ngày 24-9-2014, Hội Văn học – nghệ thuật Đồng Nai tổ chức Tọa đàm tác phẩm “Một thời Rừng Sác” của Nhà văn – Đại tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Lê Bá Ước. Tác phẩm này như một lời tri ân, một nén tâm nhang tưởng nhớ đến những chiến sĩ đặc công Rừng Sác đã anh dũng chiến đấu hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại chiến khu Rừng Sác. Ông Lê Bá Ước hình như không thay đổi mấy, so với mấy tháng trước đây tôi gặp ông. Mà, thay đổi sao nữa “min” rồi (cực tiểu), tôi nghĩ vui như thế. Giọng ông vẫn sang sảng ôn lại cho lớp trẻ những trang lịch sử của những chiến sĩ đặc công: “Nếu không có tình yêu quê hương và lòng dũng cảm thì làm sao ta có thể làm nên những điều kỳ diệu!”.

Tôi nhớ, lần ấy kêu xe ôm từ Viện Tim ra Hàng Xanh ở Sài Gòn, trúng ngay tài xế là một trung sĩ nhất – lính Việt Nam Cộng hòa năm xưa bảo vệ kho xăng Nhà Bè. Anh ta nói: “Vào năm 73 tui bảo vệ ở kho Caltex Nhà Bè, chừng 1 giờ sáng gì đó không rõ lắm, bất ngờ kho Shell bốc cháy. Lực lượng bảo vệ hú còi báo động khắp thành phố để tìm bắt Việt Cộng đánh dzô! Xăng dầu cháy quá trời! Hên là tui vừa hết phiên gác, chứ nếu không chắc phải ngồi tù chứ bộ! Việt Cộng hay thiệt, canh chừng cẩn mật thế mà nó vẫn dzô được, mà dzô nhiều lần chứ! Sau vụ đó, người ta nghi có nội gián, không có nội gián sao Việt Cộng chẳng làm nổi!”. Tôi cười bảo: “Việt Cộng nó ghê lắm, kiểu gì nó cũng chơi được!”. “Ừ, mà nó cũng dzữ thiệt!”. Tôi bấm bụng, nghĩ thầm câu tếu táo: “Các anh, chẳng biết mẹ gì về cái tài của đặc công, thua là phải, mang được cái gáo về là phúc tổ bảy mươi đời rồi!”.

Kết thúc buổi tọa đàm, tôi nghĩ, còn lâu ông Lê Bá Ước mới về thiên thu. Ông còn ở lại để tìm cho được hơn 500 bộ hài cốt của đồng đội đang nằm dưới đáy sông kia… 

Biên Hòa, tháng 2-2015

Đào Sỹ Quang
(Hội VHNT Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 398

 

Ý Kiến bạn đọc