Tản văn

Anh Hai Sài Gòn

 

Anh Hai tuổi Thân, lớn hơn tôi 3 tuổi. Lúc nhỏ anh ở với ngoại nhiều hơn ở với má. Anh uống nước sông Thu Bồn nhiều hơn nước giếng Đá xóm gò. Anh tắm sông nhiều hơn số lần 4 anh em tôi tắm mương tắm giếng cộng lại. Anh bơi giỏi như Yết Kiêu, anh trèo cây lanh như khỉ. Anh là cả một bầu trời tuổi thơ của tôi sau bà Cố và Má.

Ngày nhỏ vì anh khó nuôi, vì ba đi bộ đội, vì má tôi sinh dày, vì nhà khó khăn… và vì ngoại rất thương anh đứa con trai đầu lòng của má nên ngoại đón anh về nuôi. Anh bú sữa ngoại chung với dì Mười. Anh thành công dân của chợ Bến Dầu. Xưa anh thương ngoại hơn thương má, má kể, mỗi lần má lên đón anh về nhà mình chơi anh cũng đi. Nhưng đi nửa đường anh đều giả bộ nói: Má ơi! Con quên cái này, cái kia ơn trên nhà ngoại rồi má cho con quay trở lại. Và má chưa kịp nói gì anh cắm cổ chạy một hơi về lại nơi anh không muốn rời dù chỉ một buổi.

Xưa đi học tiểu học, thằng cu Âu ngồi chung bàn của em hay ăn hiếp em. Em thường lấy anh Hai của em ra hù dọa nó (mặc dù anh chưa ra mặt khi nào) nhưng nó rất “nể” anh. Em thấy mình thiệt thòi khi có anh trai mà không ở cùng với nhau dưới một mái nhà.

So-584--Anh-minh-hoa---Anh-Hai-Sai-Gon---Anh-1

Năm anh lên cấp 3, anh thường hay về nhà giúp đỡ và phụ việc nhà với má hơn. Anh khiêng nước, vót đòn gánh, đòn xóc, anh thấy ba mình bận bịu chuyện xã hội mà má thì cần một đôi mủng, cần một cái rổ xổ để làm sạch lúa. Vậy là anh đi khắp xóm tìm những người biết đan để xem họ đan, anh quan sát học hỏi và về tự đốn tre ngâm vót rồi đan, lận những chiếc thúng, chiếc rổ đầu tiên cho má. Anh đâu biết rằng những chiếc thúng chiếc rổ ấy là một bài học về tính ham học hỏi, sáng tạo, yêu thương của anh đã lưu cất trong kí ức của đứa em gái bé bỏng này. Anh nhẹ nhàng, yêu thương và mực thước với tất cả những đứa em ít được gắn bó với mình. Năm đó, anh Hai nhớ không? Là năm đầu tiên mà em cứ trông anh đi đâu đó vắng mặt giờ chuẩn bị dọn cơm để em được chạy khắp xóm mà dõng dạc kêu to: Anh Nai ơi, anh Nai, mời anh Nai về ăn cơm!

Vài năm sau má thấy anh siêng năng nên tính chuyện nuôi rẻ thêm một con bò. Lúc dắt bò về anh giành phần giữ nhưng em cũng lẽo đẽo theo sau. Mới đầu anh em mình đều không biết nuôi bò cũng rất vất vả. Không phải chỉ dắt nó ra gò quấn dây sẹo vào sừng vào cổ rồi thả đó cho nó đi ăn với bò của cả xóm, mấy đứa con nít đứa thả diều, đứa chơi lò cò, đứa chơi ống thụt, đứa nằm gác chân chữ ngũ giữa bãi cỏ mát ngắm mây trời mơ mộng là chiều về bò no được. Anh thả đó rồi đi kiếm củi, vác về không biết bao nhiêu bó củi của mùa hè. Chiều về anh đi phía sau con bò đi chậm nhất đàn. Ngang qua con mương nhỏ anh thường cho nó uống nước đến khi bụng nứt nìa mới bước vô nhà trong tiếng khen giòn giã của ba má và sự ngưỡng mộ của đứa em gái yếu đuối này. Những ngày cuối hè, đầu thu nắng gắt làm cỏ gò khan hiếm. Thêm nữa số bò trong cả làng cứ tăng lên. Anh Hai bắt đầu trổ tài bơi qua sông cắt cỏ. Chiều nào cũng là hai bao cỏ chặt như nêm lù lù theo anh qua giòng nước rồi được khiêng lên bờ. Con bò nhà mình nuôi rẻ đẻ được một con bò con và đó là số vốn lớn nhất lúc bấy giờ mà ba má có được. Ngày đó em đã nghĩ được rằng anh Hai là số một. Là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho gia đình sau này.

Năm anh Hai 18 tuổi, gia đình ngoại chuyển hẳn vào Sài Gòn sinh sống, sau vài tháng vào đó vì nhớ anh mà ngoại kêu anh vào ở với ngoại. Vậy là em thỉnh thoảng viết thư cho anh Hai và những cái Tết từ đó là những cái Tết mang dáng hình anh Hai thôi.

Anh bắt đầu đi làm và những tháng lương đầu tiên anh dành dụm mua gửi về cho em một chiếc xe đạp hộp màu hồng làm phương tiện cho em đi suốt 3 năm học cấp 3. Rồi cặp, rồi bút, vở… những gì tốt đẹp nhất anh Hai đều để dành cho các em và ba má. Có Tết năm đó anh viết thư nhắn là không về được. Nhưng rồi tối 30, khi cả nhà đang lặng lẽ với những đôi thùng nước đầy má vừa gánh trữ thì anh đằng hắng một tiếng rồi vô ôm má cười trong niềm vui khôn xiết của cả nhà. Từ đó, 30 Tết năm nào của khoảng thời gian sau dù biết mùng 1, mùng 2 hay mùng 10 anh mới về được nhưng cứ đêm 30 thì em và má lại đon đả đi hết con mương dài tối như mực để đứng đón những chiếc xe thồ chở người từ Sài Gòn về để xem có phải là anh không? Có nhiều khi hai mẹ con lại cùng nhau đi bộ xuống cuối con đường thôn một để đón giao thừa cho riêng mình.

Anh Hai về tháng Giêng, trồng mấy cây bơ, cây dừa, cây cóc, làm lại cái máng xối giúp ba má để mùa mưa đỡ ướt. Đan mấy miếng mành chắn gió tạt nước vào mùa đông để chỗ phía hứng gió của chái nhà. Lợp lại cái chuồng heo, sửa lại cái chuồng gà… Dặn đứa em là con gái đừng vì ham vui mà theo mấy đứa bẻ mía leo lên cây trâm ngồi ăn giữa đêm dù sáng trăng như bữa trước hỉ! Dặn thằng Viên ở nhà đừng ỷ to xác mà ăn hiếp chị Ba. Dặn ba ở nhà bớt uống rượu. Dặn má phải biết lo cho sức khỏe của mình, ruộng nhiều con gửi tiền về thuê công cắt gặt. Má đừng ham làm mà mang bệnh con lo!…

Anh Hai vào lại Sài Gòn! Anh cưu mang và chia sẻ công việc cho những người đến sau. Cám ơn Sài Gòn đã cưu mang anh, cho anh một gia đình ấm êm hạnh phúc! Sài Gòn lại thành quê hương trong tâm tưởng của cả nhà tôi. Đêm tôi nằm mơ những căn nhà anh Hai làm. Những con đường rợp bóng cây mà anh Hai kể. Mơ thấy anh Hai đi dưới cơn mưa dở của Sài Gòn nắng cháy, mơ thấy đôi mắt hiền từ, nhớ nhà của anh dưới chiếc mũ bảo hộ sau mỗi chiều tan tầm…

Có những lúc tôi nghĩ nếu Sài Gòn không phải là nơi gia đình anh Hai đang sống và làm việc thì trong lòng những người như tôi Sài Gòn chưa chắc đẹp, ấm áp và bình yên đến vậy đâu nhỉ!

Trương Thị Bách Mỵ
(TP. Đà Nẵng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 584

Ý Kiến bạn đọc