Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ấn loát ở chiến khu

 

Trong thời kháng chiến chống Mỹ, ở chiến khu in ấn tài liệu, báo chí bằng nhiều phương thức khác nhau. Tùy theo điều kiện chiến trường mà có những phương thức in ấn thích hợp như in tipo, ronéo, lito… Trong bài viết này tôi chỉ đề cập hai phương thức in lito và tipo.

Lito là cách in thủ công, đơn giản nhưng tiện lợi. Vật dụng chính là bảng đá, rulo, mực viết, mực in, bút chì và cây bút lá tre.

Bảng đá là loại đá “Non Nước” trắng, hình chữ nhật, mặt rất phẳng, có độ dày từ 2-3 phân, rộng từ 3-4, dài từ 5-6 tấc tây. Nếu bảng dày, to thì nặng, khó di chuyển, mỏng quá dễ bể. Mực viết gọi là Sạc-bông-nên hay gọi là sáp được nấu bằng sáp ong, xà phòng, nhựa thông, bọt màu lấy từ khói đèn dầu hỏa và một vài thứ khác nữa tôi không còn nhớ rõ. Tất cả trộn chung, nấu chảy hòa chung, để nguội đông lại thành bánh, dùng dao mỏng cắt thành từng mẫu bằng ngón tay út, gói giấy bảo quản để dùng. Mực in làm từ dầu rái lỏng trộn với bọt khói đèn dầu hỏa.

So-538--An-loat-o-chien-khu---Anh-4
Phương pháp in Typo bằng cách sắp chữ chì.

Bắt đầu của việc in lito là mài bảng đá. Dùng một miếng đá tán nhỏ cầm gọn trong tay, phía mặt tiếp xúc với bảng đá để mài rất bằng phẳng. Khi mài phải đổ nước liên tục để không bị trầy sướt bảng đá lito. Mài xong, dội nước thật sạch, đem phơi khô rồi mới bắt đầu cung đoạn viết. Miếng đá được đặt trên bàn vừa tầm viết. Dùng bút chì kẻ khung, hàng trên bảng đá; hòa mực (sáp) trong một cái đĩa, hay trôn chén như trong nghiên mực Tàu vậy; lấy bút lá tre chấm viết chữ ngược trên bảng đá. Vẽ hình thì cũng vẽ trước bằng bút chì rồi dùng bút lá tre chấm mực đồ theo. Viết nắn nốt cả buổi mới xong một trang viết bằng tờ giấy manh. Viết xong, chờ một lát cho những dòng cuối cùng khô mực rồi cầm trên tay miếng giấy nhỏ, nhúng vào nước chanh pha loãng hay nước chua ngâm từ lá bứa giã nhỏ, phết ướt đều trên mặt bảng đá; dùng rulo lăn mực in trên mặt đá. Tác dụng của nước chua là làm cho mực in chỉ bám vào chữ viết, không bám vào chỗ đá không có mực viết. Như vậy trên mặt bảng đá đã có một bảng chữ nổi nhẹ, được tạo nên bởi mực in dính chặt vào mực viết. Chờ khô một tý, tiếp tục lăng mực, trải giấy lên bảng đá, dùng rulo sạch lăn đè lên trên giấy là có ngay trang in. Mỗi bản viết có thể in được từ 200 đến 500 bản in, tùy theo chất lượng mực viết, mực in và nước chua. Có khi vì nước quá chua, tẩy sạch hết mực viết. Ưu thế của in lito là có thể in được những hình vẽ tùy ý. Nếu in nhiều màu thì mỗi màu phải in một lượt. Nhưng, phải canh tờ giấy cho thật trúng các nét có màu mực khác nhau. Ví dụ, in lá cờ Giải phóng thì phải in 3 lượt theo 3 màu đỏ, xanh, vàng và canh tờ giấy sao cho các ranh giới giữa các phần màu của lá cờ thật chính xác.

Phương thức in lito thường được áp dụng cho các tờ báo cấp tỉnh, tờ tin tức cấp huyện, thị. Tôi biết, chỉ có tỉnh Quảng Đà, trong những năm sau cùng của chiến tranh mới có in tipo. Vì, cấp tỉnh và huyện thường ở sát chiến trường, in theo phương thức này gọn nhẹ, dễ cơ động. Nếu gặp địch càn, bảng đá mang theo và cất giấu dễ dàng. Mất hoặc bể bảng đá là việc rất hệ trọng. Vì, để có được một tấm bảng đá là phải cho người đi móc nối mua từ Đà Nẵng. Người đưa thứ này ra vùng giải phóng mà bị lộ thì lập tức vào tù. Một miếng đá để in lito thời kháng chiến đối với người làm công tác in báo chí, tài liệu tuyên truyền quý như mạng sống của chính họ.

Phương thức thứ hai là in tipo. Phương thức này hiện đại hơn, nhưng là phương thức có qui mô sản xuất lớn, phương tiện nặng, cồng kềnh, chỉ thích hợp ở những nơi an toàn, tương đối ổn định. Từ những năm 1960 đến 1975, Nhà in Báo Cờ giải phóng Khu 5 in theo phương thức tipo. Các trang thiết bị in đều từ Nhà máy in Tiến Bộ – Hà Nội chi viện vào. Cơ quan Nhà in Báo Cờ giải phóng Khu 5 có từ 20 người đến 60 người, tùy theo thời điểm của cuộc kháng chiến. Càng về sau, con người và cơ sở vật chất của Nhà in càng được tăng cường hơn lên. Nhà máy in được chia làm 4 bộ phận: Phân xưởng chữ, Phân xưởng máy, Phân xưởng sách và Bộ phận quản lý – hậu cần.

So-538--An-loat-o-chien-khu---Anh-3
Phương pháp in đất sét. (Nguồn: http://marketingbox.vn/Lich-su-nganh-in.html )

Phân xưởng chữ gồm những người có trình độ học vấn khá hơn một tý để có thể sắp chữ ít sai lỗi chính tả. Bộ phận này chỉ có người mô-rát có trình độ khá nhất để sửa bài.

Trang thiết bị chủ yếu của Bộ phận Chữ là những bộ chữ đúc bằng chì. Mỗi bộ chữ có đủ tất cả các chữ cái. Trong đó có: chữ thường và hoa, chữ đứng và nghiêng, dấu và ký hiệu cần thiết. Các chữ “tít” là chữ chì cỡ lớn còn chữ phăn-ta-di và hình ảnh minh họa thì thường khắc gỗ, do người thợ khắc gỗ khắc theo mẫu của họa sĩ rồi đem chèn vào các mâm chữ chì đã sắp xong. Tất cả chữ cái hoặc dấu cùng loại được bỏ vào từng ô riêng biệt trong một cái hộp bằng gỗ. Mỗi loại có cả trăm thanh mẫu. Ví dụ chữ “a”, có cả trăm chữ a. Hộp gỗ có nắp đậy khít để các loại chữ không bị lẫn lộn khi dịch chuyển. Mỗi hộp chữ nặng độ 25 kg, kích thước vừa phải để có thể dễ gùi vận chuyển. Vật dụng khác của người thợ sắp chữ là cái giá sắp chữ và dây buộc khối chữ trở thành từng mảng để đưa vào ghép thành mâm chữ.

Khi sắp chữ, thợ sắp chữ bốc từng chữ cái ghép lại thành từng câu văn và nhiều câu văn thành từng lốc có bề ngang bằng cột báo hay một trang sách. Lần lượt sắp đầy chữ vào giá sắp chữ thì gọi là một tay chữ. Cẩn thận đem ghép các tay chữ lại tạo thành trang chữ trên một miếng gỗ phẳng. Một trang chữ có kích thước là một trang báo hay trang sách; chấm lỗi chính tả trên trang chữ xong thì đem bàn giao cho Bộ phận máy.

Trang thiết bị chủ yếu của Bộ phận máy là máy in và mực in. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chỉ có máy in “đẩy tay”. Chiếc máy in đẩy tay có cấu trúc đơn giản, gồm rulo và mâm chữ được liên kết liền nhau trong một cái khung, rất gọn nhẹ, có trọng lượng độ 50 kg để vừa một người cõng khi di chuyển cơ quan. Giữa năm 1965, khi Nhà in Báo Cờ giải phóng theo Khu ủy 5 dời xuống vùng Tứ Mỹ – Xuân Bình – Phú Thọ thì mới liên hệ xuống vùng đô thị mua được một cái máy My-nét do Pháp đưa sang thời Pháp thuộc. Một nhà in tư nhân trong chế độ Sài Gòn còn đang sử dụng cỗ máy đó. Năm 1968, sau Tổng tấn công Mậu Thân, từ miền Bắc tăng cường cho Nhà in Khu 5 một cái máy Tứ Khai. Máy này của Trung Quốc, đời mới hơn, có mâm chữ lớn, in nhanh, nhưng nặng nề. Mâm chữ là một tấm kim loại nặng 80 kg, vô-lăng (bánh đà) quay máy, có đường kính cả thước tây, nặng trên 80kg, chân máy và các bộ phận khác cũng rất nặng nề. Toàn bộ máy nặng đến 500 kg. Mỗi khi di chuyển cơ quan thì những đồng chí khỏe mạnh nhất phải đảm nhận gùi những bộ phận nặng nhất như mâm chữ, vô-lăng của máy Tứ Khai.

Khi in thì trang chữ đã sắp sẵn từ Bộ phận chữ được chuyển sang đặt vào mâm chữ. Sau các động tác kỹ thuật của thợ máy cố định cân đối chặt chẽ trang in trong mâm chữ thì bắt đầu in.

Bộ phận sách gồm những trang thiết bị chính là giấy và dụng cụ đóng sách báo. Giấy được lấy từ hai nguồn: miền Bắc chi viện và mua từ đồng bằng lên. Nguồn giấy nào lấy được cũng khó cả. Lấy nguồn từ miền Bắc thì phải ra tận biên giới Lào giáp với huyện Hiên cõng về cả tháng đường núi. Lấy giấy ở đồng bằng cũng mất bảy tám ngày mà rất dễ bị địch phục kích mất cả giấy lẫn người. Cơ sở cách mạng móc giấy từ vùng địch đưa ra cũng vô cùng nguy hiểm. Dụng cụ của phân xưởng sách rất thô sơ, tự tạo được cả. Chỉ có cái bàn xén giấy là từ miền Bắc đưa vào. Các thao tác xếp trang, đóng sách báo cũng gần giống như công nhân các nhà in bấy giờ, nhưng chậm, thiếu chuyên nghiệp hơn.

Bộ phận sách chịu trách nhiệm đóng gói phát hành. Đóng gói sách báo bằng lá dong và dây mây rừng. Bưu phẩm được buộc rất chắc chắn, không để bị tụt đứt. Vì bưu phẩm do giao liên gùi cõng cả mấy tháng mới đến các địa chỉ xa như Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hà Nội hay vào tới Trung ương Cục ở Nam bộ…

Tôi còn nhớ, chuyện sai sót “chết người” trên một tờ báo Cờ giải phóng Khu 5 thời đó. Cuối năm 1969, có bài viết về anh Nguyễn Văn Trỗi nhân kỷ niệm 5 năm ngày anh Trỗi hy sinh. Dưới tấm ảnh anh Trỗi có in hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Chết như sống/ Anh hùng vĩ đại” thành: “Sống như chết…”. Tờ báo đã phát hành đi được một vài ngày, chúng tôi phát hiện sai sót báo với lãnh đạo. Các đồng chí lãnh đạo lập tức cho những người khỏe mạnh nhất, cấp tốc tỏa đi khắp các hướng đường, ngày đêm chạy theo, vượt các trạm giao liên thu hồi tờ báo. Giấy lúc đó rất hiếm, chúng tôi tập trung cạo, tẩy, dán, thay đính chính rồi phát hành trở lại.

Từ những năm 1968 trở đi, Nhà in Báo Cờ giải phóng mới có kỹ thuật in hình ảnh bằng kỹ thuật ảnh kẽm và chì bảng. Từ đó nhà in có thêm bộ phận ảnh kẽm – chì bảng được tăng cường cả con người và trang thiết bị kỹ thuật từ Nhà máy in Tiến Bộ – Hà Nội. Nhưng bộ phận này cũng chỉ đảm nhận được những tấm ảnh và tít đề của trang báo mà thôi.

Trong chiến tranh, những người thợ in là những chiến sĩ cách mạng. Họ mang vác rất nặng nề mới có bảng đá, máy, chữ, giấy để hành nghề. Mỗi trang tài liệu, báo chí trong chiến tranh đều thấm đẫm mồ hôi và máu của những người thợ in. Theo tôi biết, Tổ in lito của huyện Bắc Tam Kỳ có 4 người thì hy sinh hết 3; Nhà in Báo Cờ giải phóng có nhiều đồng chí hy sinh mãi tới bây giỡ vẫn chưa tìm được hài cốt.

Giữa cuộc sống yên bình hôm nay, trong ngày truyền thống báo chí, những nhà báo, những người thợ in chúng ta kính cẩn tưởng niệm các nhà báo đã anh dũng hy sinh thì cũng hãy dành một phút để mặc niệm những người thợ in Báo kháng chiến đã ngã xuống vì sự trường tồn của dân tộc.

Và, dưới góc nhìn văn hóa, cần sưu tầm những vật dụng, thiết bị in ấn thời chiến tranh để trưng bày, triển lãm nhằm góp phần làm hiển lộ các giá trị của công tác tuyên truyền trong công cuộc kháng chiến cứu nước.

Thông Phạm
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 538

Ý Kiến bạn đọc